Bản án số 812/2026/DS-PT ngày 23/07/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 812/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 812/2026/DS-PT ngày 23/07/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 812/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Huỳnh Thanh T.2. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 150/2026/DS-ST ngày 14 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Cần Thơ.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 812/2026/DS-PT Bản án số 812/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 812/2026/DS-PT Bản án số 812/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ CẦN T Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 812/2026/DS-PT
Ngày: 23 7 2026
V/v “Tranh chp về quyền lối đi qua
bất động sản liền kề
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa:Bà Lê Thị Minh Trang
Các thẩm phán: Bà Mạc Thị Chiên
Ông Võ Bảo Anh
- Thư phiên tòa: Phạm Thị Thúy Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Lưu Thị
Kim Chúc - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 23 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ
xét xử công khai vụ án thụ số 937/2026/TLPT-DS ngày 17 tháng 6 năm 2026
về việc “Tranh chp về quyền lối đi qua bất động sản liền k”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 150/2026/DS-ST ngày 14 tháng 4 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1093/2026/QĐ-PT
ngày 22 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:m Thị Bé H, sinh năm 1959
Địa chỉ: ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện theo ủy quyền: Nguyễn Kim O, sinh năm 1997 (Có
mặt)
Địa chỉ: Tổ B, ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn: Ông Huỳnh Thanh T, sinh năm 1976 ( Có mặt)
Địa chỉ: 117/PT, Tổ E, KV Bình Phó B, phường L, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thành Đ, sinh năm: 1987 (Có
mặt). Địa chỉ: B đường T, phường A, thành phố Cần Thơ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Huỳnh Thị K, sinh năm 1958
Địa chỉ: 1, Tổ E, KV Bình Phó B, phường L, thành phố Cần Thơ.
2
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Thanh T, sinh năm 1976 (Có
mặt). Địa chỉ: 1, Tổ E, KV Bình Phó B, phường L, thành phố Cần Thơ.
Do có kháng cáo của ông Huỳnh Thanh T là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết nguyên đơn, đại diện ủy quyền
của nguyên đơn trình bày:
H chủ sử dụng của thửa đất số 801, tờ bản đồ số 08, tọa lạc tại khu
vực Bình Phó B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ (nay là phường L, thành
phố Cần Thơ). Nguồn gốc thửa đất do ông Nguyễn Thanh T1 (con ruột H
nhận chuyển nhượng phần đất từ ông Huỳnh Thanh C vào năm 2009, sau đó ông
T1 để thừa kế lại cho H (bà Lâm Thị B Hai được cấp lại Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất ngày 09/4/2015). Thửa đất trên đường đi nội bộ ổn định,
được ghi nhận tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do xa ít khi đến thăm
nom đất nên vào khoảng tháng 5/2025 H đến thăm phần đất để chuẩn bị xây
nhà thì bị gia đình ông Huỳnh Thanh T cản trở không cho đi vào phần đất. Tại
đường đi nội bộ, ông T đã đóng trụ sắt, rào hàng rào lưới B40 thành cổng, khóa
lại không cho bà H vào đất (các hộ khác phía trong thì chìa khóa ra vào).
H đã nhiều lần đến nói chuyện thiện chí với ông T về sự việc trên nhưng
không thành, do vậy gửi đơn đến địa phương để hòa giải nhưng cũng không
thành, tại buổi hòa giải ông T cho rằng đường đi nêu trên thuộc quyền sử dụng
của gia đình ông, tuy nhiên không tài liệu, chứng cứ nào chứng minh. Nhận
thấy việc ông T cản trở lối đi như vậy ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền
lợi ích của nguyên đơn, nguyên đơn hiện không vào được phần đất của mình, do
vậy nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông T chấm dứt hành vi cản trở lối đi vào
phần đất của nguyên đơn, yêu cầu được mở thông đường từ phần đất của nguyên
đơn ra đường đi công cộng.
Ngày 13/10/2025, phía nguyên đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện: buộc bị
đơn phải chấm dứt hành vi cản trở mở lối đi cho nguyên đơn do đất của
nguyên đơn bị vây bọc.
* Bị đơn ông Huỳnh Thanh T trình bày tại bản tự khai và trong quá trình
giải quyết vụ án:
Vào khoảng năm 2005, hợp tác xã H2 Thọ được thành lập trên phần đất của
ông Huỳnh Thanh C nhưng không đường đi, do phần đất của ông C nằm
phía trong cách xa lộ, phía sau ngang hông với phần đất của ông. Do vậy khi
lãnh đạo sở ban ngành vào tham quan làng hoa kiểng đã động viên gia đình ông
cho đi nhờ trên đất của gia đình để lối đi vào hợp tác (vào phần đất của
ông C). Ông và gia đình đã đồng ý cho làm lối đi nhờ trên phần đất của gia đình
thuộc thửa 250, tờ bản đồ số 08, để thành viên hợp tác xã được đi vào chứ không
phải đường đi công cộng, Ủy ban nhân dân phường đã htrợ vật thêm với
chi phí của ông gia đình để làm con đường như hiện nay. Và hiện con đường
này vẫn do ông quản lý. Đây không phải là đường đi công cộng nên không đồng
ý cho bà H đi vào con đường này.
3
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị K - người đứng
tên giấy chứng nhận thửa đất số 250, tờ bản đồ số 08 - chị ông Huỳnh Thanh T:
Thống nhất ý kiến trình bày nêu trên của ông T.
* Tại Bản án thẩm số: 150/2026/DS-ST ngày 14 tháng 4 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 2 – Cần Thơ đã tuyên xử như sau:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Công nhận cho Lâm Thị B Hai được quyền sử dụng phần diện tích
160,7m
2
(Cạnh 1 chiều dài 80,33m, cạnh còn lại chiều dài 80,26m x chiều
ngang 2m) tại thửa 250, tờ bản đồ số 08, đất tọa lạc tại 117/PT khu vực B,
phường L, thành phố Cần Thơ, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
CS18313 cấp ngày 19/02/2020 cho bà Huỳnh Thị K, để làm lối đi từ thửa đất số
801, tờ bản đồ số 8 ra đường công cộng. Phía bị đơn và người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan không được cản trở việc nguyên đơn sử dụng diện tích nêu
trên.
- Ghi nhận việc nguyên đơn đồng ý trả cho bị đơn số tiền 40.175.000 đồng
(bốn mươi triệu, một trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) để được sử dụng chung
diện tích đất nêu trên của bị đơn.
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí dân sự quyền
kháng cáo của các đương sự.
* Ngày 24 tháng 4 năm 2026: bị đơn ông Huỳnh Thanh T kháng cáo yêu
cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn,chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bị đơn không đồng ý cho nguyên
đơn sử dụng lối đi trên phần đất của gia đình.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị đơn ông Huỳnh Thanh T: vẫn giữ một phần kháng cáo yêu cầu Toà án
cấp phúc thẩm sửa án thẩm, ông đồng ý cho nguyên đơn sử dụng lối đi trên
phần đất của gia đình nhưng phải trả cho ông chi phí đầu đ con đường
hiện nay số tiền là 75.000.000 đồng.
- Đại diện nguyên đơn: tiếp tục yêu cầu dành lối đi chung qua phần đất của
bị đơn nhưng do điều kiện gia đình nên bà chỉ đồng ý số tiền 60.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa phúc thẩm:
+ Vtố tụng: Người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực
hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
+ Về nội dung:
Đối với quan hệ tranh chấp cấp thẩm xác định cần phải xác định đây
“tranh chấp mở lối đi qua bất động sản liền kề” phù hợp hơn quan hệ cấp
thẩm đã xác định. Bị đơn tại phiên toà qua nhiều lần động viên của Hội đồng
xét xử đồng ý cho nguyên đơn được sử dụng lối đi nhưng yêu cầu nâng số tiền
lên 75.000.000 đồng, nguyên đơn chỉ đồng ý 60.000.000 đồng. Thấy rằng, để
đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên nên xem xét đánh giá trình bày của bên kháng
cáo bị đơn sở. Án thẩm chỉ căn cứ theo giá Nhà nước tại vị trí đất
4
này chưa tham khảo giá thị trường ng như tính thêm công sức đầu cải
tạo thành con đường cho các hộ liền kề. Từ cơ sở tự nguyện của bị đơn, xác định
đây căn cứ để buộc nguyên đơn phải trả số tiền này không cần thiết phải
thành lập Hội đồng định giá để đi thẩm định lại giá thị trường tránh làm mất thời
gian công sức và tài chính của cả hai bên.
Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tTụng dân sự: Sửa án theo
hướng nâng số tiền chi phí cho bị đơn là 75.000.000 đồng, điều chỉnh cách tuyên
dành quyền sử dụng lối đi cho nguyên đơn chứ không phải công nhận như phần
quyết định của bản án sơ thẩm đã tuyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được xem xét tại
phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát,
Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Tranh chấp giữa các đương sự được xác định cho phù
hợp Tranh chấp về quyền lối đi qua bất động sản liền kề”, phần đất tranh
chấp toạ lạc tại phường L, thành phố Cần Thơ, nên Toà nhân dân khu vực 2
Cần Thơ thụ lý, giải quyết đúng thẩm quyền theo quy định khoản 9 Điều 26,
điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự như án thẩm xác
định là phù hợp.
[1.2] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn ông Huỳnh Thanh T có đơn kháng cáo
đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015 và nộp tiền tạm ứng án phí nên được xem là hợp lệ và được chấp nhận xem
xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn thấy rằng: Nguyên đơn sử dụng phần đất
thửa 801, diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 169,8m
2
có nguồn
gốc là của ông Nguyễn Thanh T1 nhận chuyển nhương của ông Huỳnh Thanh C,
nguyên đơn được quan thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất ngày 09/4/2015. Bị đơn và người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh
Thị K sdụng phần đất tại thửa 250, tổng diện tích 6.918,5m
2
, nguồn gốc
nhận chuyển nhượng của ông Trần Quốc D và ông Đoàn Văn H1, bà K được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 19/02/2020.
Quá trình sử dụng đất nguyên đơn H cho rằng phía bị đơn ông T
hành vi cản trở nguyên đơn đi như đóng trụ, xây hàng rào lưới B40, khoá cổng
dẫn đến nguyên đơn không thể ra vào phía sau phần đất thuộc shữu của mình,
nên phát sinh tranh chấp.
[2.1] Phần đất tranh chấp diện tích 160,7m
2
thuộc thửa 250, tờ bản đồ
số 08, đất toạ lạc tại khu vực Bình Phó B, phường L, thành phố Cần T, thuộc
5
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 114542, số vào sổ CS18313 cấp ngày
19/02/2020 cho bà Huỳnh Thị K.
[2.2] Xét phần đất nguyên đơn bị đơn sử dụng, tuy không phải 02
phần đất giáp ranh liền kề. Tuy nhiên, theo hiện trạng đồ thửa đất thể hiện
phía trước phần đất của nguyên đơn thể hiện đường đi nội bộ 3,5m
2
, đầu còn
lại giáp thửa 250 của K. Thửa đất 801 của nguyên đơn nằm phía sau bị vây
bọc bởi thửa 250 do bị đơn sử dụng, nguyên đơn muốn đi ra phía sau phần đất
của mình thì phải đi qua lối đi hiện hữu; mặt khác nguyên đơn cũng không có lối
đi nào khác. Xét, phần lối đi này đã bị phía bị đơn rào chắn, dẫn đến nguyên đơn
bị hạn chế quyền về lối đi qua bất động sản. vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn
chấm dứt hành vi cản trở nguyên đơn sử dụng lối đi hiện hữu để đi qua bất động
sản liền kề là có căn cứ theo quy định tại Điều 254 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.3] Tại phiên toà thẩm nguyên đơn đồng ý trả cho bị đơn một khoản
tiền tương ứng giá trị quyền sử dụng đất là 40.175.000 đồng để đóng góp vào lối
đi chung phù hợp, đảm bảo hài hoà quyền lợi của các bên. Nên cấp thẩm
chấp nhận tuy nhiên bị đơn kháng cáo cho rằng chi phí này là quá thấp.
[2.4] Thấy rằng, theo Bảng giá kèm theo Nghị quyết 41/2025 ngày
31/12/2025 của Hội đồng nhân dân thành phố C, cấp thẩm căn cứ mức giá
này mà tại vị trí đất này chỉ dựa vào sự tự nguyện của nguyên đơn mà chưa tham
khảo giá thị trường cũng như tính thêm công sức giá trị đầu tư cải tạo thành con
đường đi cho các hộ liền kề cho bị đơn là chưa đảm bảo quyền lợi cho bị đơn.
[2.5] Việc bản án ghi nhận nguyên đơn đồng ý trả số tiền như phân tích
nêu trên chưa đảm bảo quyền lợi cho bị đơn nên khi đánh giá lại sự cân
nhắc nâng thêm số tiền buộc phải trả cho bị đơn khi nguyên đơn đi lại trên lối đi
trên đất của bị đơn đồng thời cần sửa về cách tuyên này dành quyền sử dụng
lối đi cho nguyên đơn chứ không phải công nhận cho nguyên đơn được quyền
sử dụng diện tích 160,7 m
2
như phần quyết định bản án sơ thẩm đã tuyên.
[2.6] Bị đơn tại phiên toà qua nhiều lần động viên của Hội đồng xét xử
đồng ý cho nguyên đơn được sử dụng lối đi nhưng yêu cầu nâng số tiền lên
75.000.000 đồng, nguyên đơn chỉ đồng ý 60.000.000 đồng. Thấy rằng, để đảm
bảo quyền lợi cho cả hai bên nên xem xét đánh giá trình bày của bên kháng cáo
bị đơn là sở nên xác định đây căn cứ để buộc nguyên đơn phải trả số
tiền mà không cần thiết phải thành lập Hội đồng định giá để thẩm định lại giá thị
trường nhằm tránh làm mất thời gian công sức và tài chính của cả hai bên.
[3] Tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn kháng cáo sở nên áp dụng
khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Sửa án theo hướng nâng số tiền chi
phí cho bị đơn là 75.000.000 đồng và điều chỉnh cách tuyên.
6
[4] Quan điểm của Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Hội đồng
xét xử nên được chấp nhận
[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bị đơn được chấp nhận nên bị
đơn không phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: - Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Huỳnh Thanh T.
2. Sửa một phần Bản án dân sự thẩm số 150/2026/DS-ST ngày 14
tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Cần Thơ.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Dành cho Lâm Thị B
Hai được quyền sử dụng phần diện tích 160,7m
2
(Cạnh 1 chiều dài 80,33m,
cạnh còn lại chiều dài 80,26m x chiều ngang 2m) tại thửa 250, tờ bản đồ số 08,
đất tọa lạc tại 117/PT khu vực B, phường L, thành phố Cần Thơ, thuộc giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 114542, số vào sổ CS18313 cấp ngày
19/02/2020 cho bà Huỳnh Thị K, để làm lối đi từ thửa đất số 801, tờ bản đồ số 8
ra đường công cộng.
- Phía bị đơn người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không được cản
trở việc nguyên đơn sử dụng diện tích nêu trên.
- Buộc nguyên đơn phải trả cho b đơn ông Huỳnh Thanh T số tiền
75.000.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu đồng) để được sử dụng chung diện ch
đất nêu trên của bị đơn.
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp quan
thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả
cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền,
hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân
sự năm 2015.
3. Án phí dân sự thẩm: Bị đơn ông Huỳnh Thanh T phải chịu 300.000
đồng (Ba trăm nghìn đồng).
7
4. Chi phí đo đạc, thẩm định tại chỗ: 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng),
nguyên đơn tự nguyện chịu và đã nộp xong.
5. Về án phí dân sự phúc thẩm: không ai phải chịu.
Ông Huỳnh Thanh T được nhận lại 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm
ứng án phí ông T đã nộp theo biên lai số 0008110 ngày 24/4/2026 của Thi hành
án dân sự thành phố Cần Thơ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự tngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi
hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Nơi nhận: THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Các đương sự;
- VKSND TPCT; (Đã ký)
- TAND khu vực 2 – Cần Thơ;
- Phòng THADS khu vực 2 – Cần Thơ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Lê Thị Minh Trang
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 812/2026/DS-PT Bản án số 812/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 812/2026/DS-PT Bản án số 812/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất