Bản án số 110/2026/DS-PT ngày 15/07/2026 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 110/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 110/2026/DS-PT ngày 15/07/2026 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Ngãi
Số hiệu: 110/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và tuyên hủy hợp đồng đặt cọc”.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 110/2026/DS-PT Bản án số 110/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 110/2026/DS-PT Bản án số 110/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI
Bản án số: 110/2026/DS-PT
Ngày 15 - 7 - 2026
V/v tranh chấp hợp đồng vay
tài sản và tuyên hủy hợp đồng
đặc cọc
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Hành
Các Thẩm phán: Ông Phạm Hải Nam và bà Dương Thị Vân.
- Thư phiên toà: Ông Tô Quang Đô - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi:
Bà Hà Thị Cẩm Linh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 15 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 50/2026/TLPT-DS ngày 20 tháng 4
năm 2026 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản tuyên hủy hợp đồng đặt
cọc”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2026/DS-ST ngày 06 tháng 02 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa v án ra xét xử phúc thẩm số: 103/2026/QĐ-PT
ngày 09 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Trần Quốc Minh H, sinh năm 1988
Địa chỉ: Thôn X, xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. (có mặt)
2. Bị đơn: Chị Đặng Thị Lê P, sinh năm 1987
Địa chỉ: Số F V, xã B, tỉnh Quảng Ngãi.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Thế K, sinh năm 2002
Địa chỉ: Thôn P, xã H, Thành phố Đà Nẵng. (có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn:
Ông Dư Ngọc T Luật sư của Công ty L thuộc
2
Đoàn luật sư Thành phố Đ (có mặt)
Địa chỉ: Số E T, phường A, Thành phố Đà Nẵng.
3. Người kháng cáo: Nguyên đơn anh Trần Quốc Minh H bị đơn chị
Đặng Thị Lê P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn
anh Trần Quốc Minh H trình bày:
Anh Trần Quốc Minh H chị Đặng Thị P trước đây vợ chồng. Vào
lúc 10 giờ 38 phút ngày 03/08/2023, chị Đặng Thị Lê P mượn anh stiền
500.000.000 đồng để trả cho Phạm Thị Ánh Đ. Sau đó chị P đưa số tài
khoản ngân hàng để anh H chuyển tiền cho bà Đ với nội dung chuyển tiền "em P
chuyển tiền trả cho chĐ", nhưng sau đó anh H nghe chị P xác nhận với gia
đình không nợ Đ, anh H tìm chị P đlàm sự việc trên thì không liên
lạc được, điện thoại không trả lời, nhắn tin không phản hồi, sau đó anh H gọi
cho Đ đxác minh số tiền chuyển trước đó thì không nhận được phản hồi về
việc Đ nhận số tiền 500.000.0000 đồng anh H đã chuyển trước đó cho
Đ.
Vào chiều ngày 06/02/2025, sau nhiều lần liên lạc không được, anh H
đến Công an B xin địa chỉ nhà Đ để làm rõ số tiền 500.000.000 đồng trên,
thì anh H nhận được câu trả lời của bà Đ là “chị không biết em là ai, không nhận
số tiền gì của ông H chuyển khoản cả”, sau đó anh H đến nhà chị P để làm rõ thì
bị mẹ chị P dùng hung khí rượt đuổi.
Ngoài ra vào ngày 03/8/2023, chị P cầm cố sổ đỏ nhà đất số F V, khu
Phố D, thị trấn C, huyện B (nay B), tỉnh Quảng Ngãi để vay tại ngân hàng
S chi nhánh B1 với số tiền 1.400.000.000 đồng, tới kỳ hạn trả khoản vay cho
ngân hàng nhưng chị P không đủ tiền trả cho ngân hàng (tại thời điểm đó ngân
hàng không tiếp tục cho vay nên chị P phải xoay tiền để lấy sổ đỏ về). Sau đó
chị P liên hệ anh H mượn số tiền 1.400.000.000 đồng để lấy sổ đỏ nhà đất số
F V. mối quan hệ vợ chồng trước đó nên anh H đã vay mượn người thân để
đưa cho chị P mượn số tiền 1.400.000.000 đồng.
Để làm tin chị P viết cho anh H 01 giấy cọc mua bán nhà, trong thời
gian 60 ngày để chị P tìm chỗ vay, sau 60 ngày nếu không vay được thì sẽ
chuyển nhượng lại căn nhà theo giá thị trường đtrả anh H khoản tiền mượn
trên. Trong thời gian chị P chưa tìm được chỗ vay thì chị P đưa giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất của số nhà F V cho anh H giữ. Sau này chị P tìm được
ngân hàng cho chị P vay thì chị P liên hệ anh H mượn lại sổ đất số 64 Võ Thị
Đ1 để vay tiền trả cho anh H.
3
Nghe chị P nói vậy, anh H lấy sổ trả lại cho chị P làm thủ tục vay tại ngân hàng
P1 Chi nhánh B1. Sau khi ngân hàng giải ngân thì chị P có chuyển trả cho anh H
700.000.000 đồng.
chị P chuyển không đủ số tiền đã mượn nên anh H liên hệ chị P hỏi thì
nhận được câu trả lời ngày mai chuyển khoản số tiền còn lại, anh H hỏi
do sao ngày mai mới chuyển được thì chị P bảohạng mức chuyển tiền qua tài
khoản chỉ chuyển được bấy nhiêu, nghe ch P nói vậy anh H đồng ý đợi qua
ngày hôm sau, nhưg qua ngày hôm sau anh H liên hệ để chị P chuyển trả số tiền
còn lại thì không liên lạc được. Kể từ đó đến nay, chị P vẫn không trả tiền cho
anh H.
Trong thời gian nợ anh H nhiều lần hỏi thì chị P có cấn cho anh H 01 lô đất
dự án Bắc bờ kè sông T với giá 700.000.000 đồng để trả bớt số nợ, trong khoảng
tiền 700.000.000 đồng này, anh H bỏ vào 400.000.000 đồng, còn 300.000.000
đồng là tiền nợ chị P trả bớt cho anh H, nhưng sau đó không thoả thuận được chị
P trả anh H 300.000.000 đồng, còn nợ lại anh H 400.000.000 đồng, sau đó chị P
chốt lại số tiền nợ để trả anh H 1.300.000.000 đồng, nhưng tới thời gian
anh H đòi tiền thì chị P không thừa nhận số tiền mượn anh H, chị P lấy do
tiền anh H đưa làm ăn chung và không có mượn tiền anh H để trả cho Đ, bên
Đ cũng không thừa nhận số tiền anh H chuyển khoản, mặc dù anh H đã nhiều
lần gọi điện và nhắn tin cho bà Đ, chị P nhưng không nhận được câu trả lời, phủ
nhận sự việc anh H chuyển tiền cho bà Đ.
Đến ngày 01/11/2024, hai bên chốt lại số nthì chị Đặng Thị Phương
T1 viết 01 giấy có tên “GIẤY XÁC NHẬN NỢ” và đồng ý còn nợ anh H số tin
870.000.000 đồng, nhưng trong các tài liệu, chứng cứ tin nhắn chị P chốt
lại số tiền nợ để trả anh H là 1.300.000.000 đồng.
Trong quá trình làm việc tại phiên tòa, anh H chỉ yêu cầu chị P trả cho
anh số tiền là 1.200.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu anh H trả 330.000.000
đồng (gồm 200 triệu tiền sang nhượng xưởng sản xuất và 130 triệu tiền mua, sửa
xe), anh H không thừa nhận có mượn các khoản tiền này. Anh H khẳng định nếu
chị P đưa ra được bằng chứng xác thực về việc giao nhận tiền, anh sẽ trả đủ số
tiền này.
Đối với yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử
dụng đất tài sản gắn liền với đất đề ngày 03/8/2023 kết giữa anh H chị
Đặng Thị Lê P, thì anh đề nghị Tòa án tuyên hủy hợp đồng đặt cọc này.
- Bị đơn trình bày:
Đối với yêu cầu khởi kiện đòi nợ số tiền 1.200.000.000 đồng của nguyên
đơn, chị P đề nghị bác bỏ yêu cầu này do không có căn cứ, vì:
4
Về khoản tiền 500.000.000 đồng: Chị P khẳng định đây tiền mặt của
nhân chị đưa cho anh H đnhờ chuyển khoản hộ cho Đ vì thời điểm đó chị
với anh H là vợ chồng. Việc anh H cho rằng đây tiền cho chị P vay mượn
không đúng sự thật.
Về khoản tiền 1.400.000.000 đồng: Chị P chỉ thừa nhận mượn anh H số tiền
700.000.000 đồng đã thực hiện nghĩa vụ trả dứt điểm số tiền này vào ngày
13/01/2024 qua tài khoản Ngân hàng V. Chứng cứ lệnh chuyển tiền đã nộp
cho Tòa án. Đối với số tiền 700.000.000 đồng còn lại mà anh H đòi nợ, thực chất
là tiền của chị đưa cho anh H giữ hộ trước đó.
Về tính pháp lý: Tại Bản án ly hôn số 33/2023/HNGĐ-ST ngày 16/9/2023,
cả hai bên đã xác nhận không nợ chung. Việc ông H đòi nợ các khoản phát
sinh trước thời điểm này là mâu thuẫn với ý chí tại phiên tòa ly hôn.
Về Giấy xác nhận nợ ngày 01/11/2024: Văn bản này điều khoản ghi
Nếu cho người thứ 3 biết thì giấy xác nhận nợ này sbị hủy bỏ/không còn giá
trị”. Việc anh H dùng giấy này để khởi kiện công khai đã vi phạm thỏa thuận
bảo mật, do đó giấy này không còn giá trị chứng minh nghĩa vụ trả nợ, đồng thời
giấy này không có ký xác nhận của hai bên và không có ghi tên Đặng Thị Lê P.
Chị P yêu cầu phản tố đề nghị Tòa án tuyên hủy hợp đồng đặt cọc ngày
03/8/2023, dựa trên kết quả giám định của cơ quan chức năng:
Sự gimạo chứng cứ: Theo Kết luận giám định s1650/KL-KTHS ngày
30/11/2025, 02 dấu vân tay tại mục “ĐẠI DIỆN BÊN A” (lẽ ra là của chị P) thực
tế lại là dấu vân tay của anh Trần Quốc Minh H.
Anh H đã tự ý điểm chthay cho chị P nhằm hợp thức hóa hđể gây áp
lực về tài sản tại số F V. Đây là hành vi gian dối, khiến hợp đồng vô hiệu ngay từ
thời điểm lập.
Đối với yêu cầu phản tố buộc anh H trả số tiền 330.000.000 đồng, gồm các
khoản tiền sau:
Số tiền 130.000.000 đồng (Tiền mua xe tải): Chị P đã cho anh H mượn để
mua phương tiện làm ăn. Chứng cứ là các sao kê ngân hàng với nội dung như E
Huy tra dut dien xe tai nho”.
Số tiền 200.000.000 đồng (Tiền đầu xưởng): Đây vốn chị P bỏ ra đầu
xưởng sản xuất nội ngoại thất cùng ông T2. Sau khi giao xưởng lại cho anh H
tiếp quản, anh H đã cam kết schịu trách nhiệm hoàn trả khoản tiền này cho bà.
Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn đã rút yêu cầu này.
Bị đơn đề nghị Tòa án xem xét:
1. Bác một phần yêu cầu khởi kiện của anh H, chỉ công nhận chị đã trả
xong khoản nợ 700.000.000 đồng cho anh H.
5
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố tuyên hủy Hợp đồng đặt cọc ngày 03/8/2023
do có sự giả mạo về điểm chỉ.
3. Chấp nhận yêu cầu phản tố vviệc buộc anh H trả lại cho chP số tiền
130.000.000 đồng
Bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2026/DS-ST ngày 06 tháng 02 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi đã quyết định:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 200, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các các điều 40, 116, 117, 166, 357, 463, 466, 468, 470 và Điều 427
của Bộ luật n sự; Điều 26 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quốc Minh H:
Buộc Đặng Thị P trả cho ông H số tiền 500.000.000 đồng. Bác các yêu
cầu đòi nợ còn lại 700.000.000 đồng của ông H. Đình chỉ phần yêu cầu của ông
H 100.000.000 đồng theo đơn khởi kiện ban đầu.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của Đặng Thị P: Buộc ông
Trần Quốc Minh H trả cho bà P số tiền 130.000.000 đồng. Đình chỉ yêu cầu của
bà P về việc yêu cầu ông H trả 200.000.0000 đồng tiền xưởng sản xuất.
3. Chấp nhận yêu cầu phản tố bổ sung của Đặng Thị P: Tuyên hủy
Hợp đồng đặt cọc ngày 03/8/2023 giữa ông Trần Quốc Minh H Đặng Thị
Lê P.
Ngoài ra, án thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, thi hành án dân
sự và quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.
- Ngày 11/02/2026, nguyên đơn anh Trần Quốc Minh H đơn kháng cáo
với nội dung yêu cầu sửa bản án thẩm số: 04/2026/DS-ST ngày 06 tháng 02
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi theo hướng không chấp
nhận yêu cầu phản tố của bị đơn chị Đặng Thị P đối với số tiền 130.000.000
đồng mà chị P yêu cầu anh H phải trả và buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số
tiền nợ là 1.200.000.000 (Một tỷ hai trăm triệu đồng).
- Ngày 13/02/2026, bị đơn chị Đặng Thị P đơn kháng cáo với nội
dung yêu cầu sửa một phần bản án thẩm số: 04/2026/DS-ST ngày 06 tháng
02 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi theo hướng bác toàn
bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Quốc Minh H về việc buộc bị
đơn chị Đặng Thị Lê P phải trả số tiền 500.000.000 (Năm trăm triệu đồng).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên
toà đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với những
người tham gia tố tụng các đương sự đã chấp hành đầy đủ các quy định của pháp
luật.
6
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng
xét xử: Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Quốc Minh H,
không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Đặng Thị P; sửa bản án dân sự
thẩm 04/2026/DS-ST ngày 06/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2, tỉnh
Quảng Ngãi theo hướng: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
ông Trần Quốc Minh H buộc bị đơn Đặng Thị P trả cho ông Trần Quốc
Minh H số tiền 1.200.000.000 đồng.
- Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn đối với yêu cầu phản tố của
bị đơn về việc buộc nguyên đơn phải trả cho bị đơn số tiền 130.000.000 đồng.
- Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn anh Trần Quốc Minh H
bị đơn chị Đặng Thị P trong thời hạn luật định hợp lệ nên được xem xét
theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn
giữ nguyên yêu cầu phản tố, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về
việc giải quyết vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xem xét kháng cáo của
nguyên đơn và bị đơn theo quy định của pháp luật.
[2] Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn, Hội đồng xét xử
thấy rằng:
[2.1] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Quốc Minh H buộc bị
đơn chị Đặng Thị P phải trả cho nguyên đơn tổng số tiền nợ gốc
1.200.000.000 đồng:
[2.1.1.] Hội đồng xét xử xét thấy đối với số tiền mượn gốc: Nguyên đơn
anh Trần Quốc Minh H trình bày vào ngày 03/08/2023, chị Đặng Thị P
mượn anh số tiền 500.000.000 đồng để trcho Phạm Thị Ánh Đ ngày
08/9/2023, anh rút tiền mặt đưa cho chị P mượn stiền 1.400.000.000
đồng, chị P có chuyển trả cho anh số tiền 700.000.000 đồng, còn lại 700.000.000
đồng chị P vẫn chưa trả cho anh H. Hội đồng xét xử thấy rằng tại Giấy xác nhận
nợ ngày 01/11/2024 (căn cứ vào Kết luận giám định số: 1505/KL-KTHS ngày
20/11/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Q, kết luận toàn bchữ viết trong văn
bản này là do bà P viết ra) thể hiện nội dung “Ngày 03/8/23. A.H trả giúp tôi s
tiền: 500.000.000 (Năm trăm triệu đồng y) CK qua TK chị Phạm Thị Ánh
Đ. Ngày 08/9/23. A H1 đưa tôi số tiền: 1.400.000.000. Ngày 13/01/24 Tôi
7
Ckhoản lại số tiền: 700.000.000 còn lại: 700.000.000 (Bảy trăm triệu đồng
y). TỔNG: 1.200.000.000 (Một tỷ Hai trăm triệu đồng y)”, nội dung trong
Giấy xác nhận nợ ngày 01/11/2024 (bút lục số 124) được chị P viết sau khi anh
H1 chị P đã ly hôn hoàn toàn phù hợp với lời trình bày của nguyên đơn
anh Trần Quốc Minh H về số tiền 1.200.000.000 đồng chị P mượn của anh
H. đây là tình tiết, skiện nguyên đơn anh Trần Quốc Minh H không
phải chứng minh (do tại Giấy xác nhận nợ ngày 01/11/2024, chị P đã thừa nhận
việc mượn của anh H số tiền 1.200.000.000 đồng), nên căn cứ vào khoản 2
Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử công nhận số tiền gốc chị
Đặng Thị Lê Phương M của anh Trần Quốc Minh H là 1.200.000.000 đồng.
[2.1.2.] Về việc trả nợ tiền:
Về khoản tiền 500.000.000 đồng chị P cho rằng đây là tiền mặt của cá nhân
chị đưa cho anh H để nhờ chuyển khoản hộ cho Đ số tiền 700.000.000
đồng chị P cho rằng số tiền 700.000.000 đồng mà anh H đòi nợ, thực chất là tiền
của chị đưa cho anh H giữ hộ trước đó, nhưng chị P không cung cấp được tài
liệu, chứng cứ để chứng minh về việc đã trả số tiền 1.200.000.000 đồng cho anh
H như chị P trình bày. Căn cứ Giấy xác nhận nợ ngày 01/11/2024 nguyên
đơn cung cấp, mặc không chữ của các bên, nhưng anh H cũng căn cứ
vào giấy xác nhận nợ này để khởi kiện chị P. Do đó, việc bị đơn chị Đặng Thị
Lê P cho rằng đã trả số tiền 1.200.000.000 đồng cho nguyên đơn anh Trần Quốc
Minh H không sở để chấp nhận. Cần chấp nhận chị Đặng Thị P đã
trả cho anh Trần Quốc Minh H số tiền 330.000.000 đồng theo như nội dung
trong giấy xác nhận nợ.
Từ những phân tích nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy cần chấp
nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn vviệc yêu cầu bị đơn chị Đặng Thị
Lê P phải trả cho nguyên đơn anh Trần Quốc Minh H số tiền nợ gốc là
870.000.000 đồng.
[2.2] Xét yêu cầu phản tố của bị đơn bà Đặng Thị Lê P:
Về khoản tiền 130.000.000 đồng: Chị P yêu cầu anh H trả lại số tiền mượn
để mua xe tải nhỏ. Căn cứ vào các sao tài khoản ngân hàng do chị P cung
cấp, Hội đồng xét xử nhận thấy thực tế các giao dịch chị P chuyển tiền cho
anh H với nội dung như "H chuyen tien sua nha nho", "Em huy chuyen tien sua
xe", "E Huy tra dut dien xe tai nho". Các tài liệu, chứng cứ này phù hợp với lời
khai của chị P về việc hỗ trợ tài chính cho anh H mua phương tiện và sửa xe. Tại
phiên tòa thẩm anh H thừa nhận có nhận số tiền nêu trên của chị P đồng ý
trả số tiền này cho chị P (bút lục số 178). Do đó, Tòa án cấp thẩm chấp nhận
yêu cầu phản tố của bị đơn chị Đặng Thị Phương B nguyên đơn anh Trần
Quốc Minh H trả cho chị Đặng Thị Lê P số tiền 130.000.000 đồng. Xét thấy đây
ý kiến đối lập đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, lẽ ra Tòa án cấp
thẩm không xem xét thụ đối với yêu cầu phản tố này của bị đơn, cần rút kinh
8
nghiệm.
Từ những phân tích trên, Hội đồng t xử chấp nhận một phần yêu cầu
kháng cáo của nguyên đơn không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn,
sửa bản án dân sự thẩm số: 04/2026/DS-ST ngày 06 tháng 02 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi.
Đối với yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử
dụng đất và tài sản gắn liền với đất đề ngày 03/8/2023 ký kết giữa anh H
chị Đặng Thị P, thì hai đều đề nghị Tòa án tuyên hủy hợp đồng đặt
cọc này, nghĩ nên chấp nhận sự thỏa thuận này. (phần này đương sự không
kháng cáo nên bỏ, Anh xem lại)
[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sthẩm đối với yêu
cầu không được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận. Bị đơn phải chịu án phí dân
sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả cho nguyên đơn được Tòa án cấp phúc thẩm
chấp nhận.
Đối với yêu cầu phản tố của chị Đặng Thị P, xét thấy đây ý kiến
phản bác của chị Đặng Thị P đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
không phải yêu cầu phản tố theo quy định tại Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Do đó, Toà án cấp thẩm xác định ý kiến nêu trên của chị Đặng Thị P
yêu cầu phản tố và tính án phí là không phù hợp, cần rút kinh nghiệm.
Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự thẩm số: 04/2026/DS-ST
ngày 06 tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi nên
nguyên đơn và bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 147, khoản 1 Điều 148, khoản 2 Điều 308, Điều 309 của
Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, Điều 27, Điều 29 của Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sdụng án phí lệ phí Tòa
án.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn anh
Trần Quốc Minh H, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn chị Đặng
Thị Lê P.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2026/DS-ST ngày 06 tháng 02 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi.
Căn cứ vào các Điều 116, 117, 166, 274, 280, 357, 463, 466, 468 của Bộ
luật dân sự năm 2015.
1. Buộc bị đơn chị Đặng Thị P phải trả cho nguyên đơn anh Trần Quốc
Minh H số tiền là 870.000.000đ (Tám trăm bảy mươi triệu) đồng.
9
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của
Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh
toán.
2. Về án phí:
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc bị đơn chị Đặng Thị P phải chịu 38.100.000 đồng tiền án phí dân
sự thẩm, nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí thẩm đã nộp
8.250.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000880 ngày
25 tháng 8 năm 2025 cùng với số tiền tạm ứng án phí thẩm đã nộp 300.000
đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000033 ngày 05 tháng
01 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi và số tiền tạm ứng án phí
phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án
số: 0001277 ngày 27 tháng 3 năm 2026 của Thi hành án dân s tỉnh Quảng
Ngãi. Chị Đặng Th Lê P còn phải nộp số tiền án p dân sự thẩm
29.250.000 (Hai mươi chín triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng.
Buộc nguyên đơn anh Trần Quốc Minh H phải chịu 16.500.000 đồng án
phí dân sự thẩm đối với yêu cầu không được Tòa án chấp nhận, nhưng được
khấu trừ số tiền tạm ứng án phí thẩm đã nộp 25.500.000 đồng theo biên lai
thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000524 ngày 01 tháng 8 năm 2025 của
Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi và số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp
300.000đ theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001240 ngày 26
tháng 3 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi. Anh Trần Quốc
Minh H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 9.300.000 (Chín triệu ba trăm
nghìn) đồng.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn bị đơn không phải chịu án
phí dân sự phúc thẩm.
3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án,
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
4. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
10
- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
- TAND khu vực 2 – Quảng Ngãi;
- VKSND khu vực 2 – Quảng Ngãi;
- THADS khu vực 2 – Quảng Ngãi;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Nguyễn Hành
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 110/2026/DS-PT Bản án số 110/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 110/2026/DS-PT Bản án số 110/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất