Bản án số 130/2026/DS-PT ngày 06/02/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 130/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 130/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 130/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 130/2026/DS-PT ngày 06/02/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đồng Tháp |
| Số hiệu: | 130/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 06/02/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 130/2026/DS-PT
Ngày: 06-02-2026
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng
đất, yêu cầu trả giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất và yêu
cầu hủy đơn giao tài sản”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hứa Quang Thông
Các Thẩm phán: Ông Sỹ Danh Đạt
Bà Nguyễn Thị Võ Trinh
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Vũ Đình Quang - Thư k Tòa án nhân dân tỉnh
Đng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Ngọc Trang - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 05/12, 31/12/2025 và ngày 06/02/2026 tại trụ sở 1 Tòa án
nhân dân tỉnh Đng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ l số:
639/2025/TLPT-DS ngày 03 tháng 11 năm 2025, về việc “Tranh chấp quyền sử
dụng đất, yêu cầu trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy đơn
giao tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 40/2025/DS-ST ngày 13 tháng 6 năm 2025
của Tòa án nhân dân huyện Hng Ngự, tỉnh Đng Tháp (Tòa án nhân dân khu vực
12 – Đng Tháp) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 627/2025/QĐ-PT ngày
19 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Lê Thành P, sinh năm 1977 (Có mặt).
Địa chỉ: Khóm C, phường T (phường A, thành phố H), tỉnh Đng Tháp.
2. Bị đơn: Bùi Thị L, sinh năm 1953.
Địa chỉ: Khóm T, phường T (Ấp F, xã T, huyện H), tỉnh Đng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Bùi Thị L: Anh Trần Hùng Duy K,
sinh năm 1995 (Có mặt). Địa chỉ: Ấp H, xã V (Khóm H, thị trấn Đ, huyện A),
tỉnh An Giang (Hợp đng ủy quyền ngày 12/6/2023).
2
3. Ngưi có quyn li, ngha v liên quan:
3.1. Nguyễn Văn K1, sinh năm 1941 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
3.2. Nguyễn Văn T, sinh năm 1953 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
3.3. Nguyễn Văn B, sinh năm 1954 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
3.4. Nguyễn Văn B1, sinh năm 1957 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
3.5. Lê Thị M, sinh năm 1942 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
3.6. Lê Thị V, sinh năm 1974 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Khóm T, phường T (Ấp F, xã T, huyện H), tỉnh Đng Tháp.
3.7. Lê Thị X, sinh năm 1976 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã A (xã T, huyện T), tỉnh Đng Tháp.
3.8. Lê Thị Diệu H, sinh năm 1991 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp P, xã T (xã P, huyện T), tỉnh Đng Tháp.
3.9. Lê Thị C, sinh năm 1954 (Có mặt).
Địa chỉ: Số A, Ấp A, xã T (xã V, huyện B), Thành phố H Chí Minh.
3.10. Lê Thị C1, sinh năm 1969 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm L, phường L (phường L, thị xã T), tỉnh An Giang.
3.11. Lê Hữu S, sinh năm 1975 (Vắng mặt).
3.12. Nguyễn Thị B2, sinh năm 1984 (Vắng mặt).
3.13. Lê Thị Tường V1, sinh năm 2002 (Vắng mặt).
3.14. Lê Thanh T1, sinh năm 2013 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Khóm T, phường T (Ấp F, xã T, huyện H), tỉnh Đng Tháp.
4. Ngưi kháng cáo: Bà Bùi Thị L là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG V ÁN:
Nguyên đơn ông Lê Thành P trình bày:
Về ngun gốc đất tranh chấp có chiều ngang trên 30m, chiều dài trên
100m, tọa lạc ấp F, xã T, huyện H, tỉnh Đng Tháp là của ông cố tên Lê Văn T2
(chết năm 1930) để lại cho hai người con cụ Lê Văn T3 (chết năm 1970) và cụ
Lê Văn C2 (chết năm 1945) quản l, sử dụng không biết năm nào. Cụ Lê Văn
T3 là cha của bà Lê Thị N, bà Lê Thị M, ông Lê Văn G (chng bà L). Cụ Lê Văn
C2 là cha của ông Lê Văn T4 (ông Lê Văn T4 là cha của ông Lê Thành P, bà Lê
Thị C1, bà Lê Thị C, có vợ là Lê Thị L1, chết năm 1988). Đến khi các cụ Lê Văn
T3, Lê Văn C2 chết thì tiếp tục giao phần đất trên lại cho ông Lê Văn G và ông
Lê Văn T4 (anh em chú bác ruột) cùng quản l sử dụng vào trước năm 1978
(xem như mỗi người ½ diện tích), ông Lê Văn T4 quản l sử dụng phần của mình
3
đến giặc Campuchia xâm lược, ông T4 về xã L ở, nên phần đất ½ của ông Lê
Văn T4 giao cho ông Lê Văn G quản l sử dụng luôn để có chi phí làm m mã,
cúng kiến ông bà và ông G đăng k được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
(QSD) đất vào năm 2013 gm các thửa 138, 942, 1154, tờ bản đ số 4, mục đích
sử dụng: Đất ở, đất cây lâu năm, đất lúa, diện tích đo đạc thực tế 4.231,5m
2
, (việc
ông Lê Văn G đăng k cấp QSD đất thì phía gia đình ông Lê Văn T4 không hay
biết). Năm 1998 ông Lê Văn T4 (cha ông Lê Thành P) chết, đến khoảng năm
2019 ông Lê Văn G họp nội bộ gia đình thông báo sẽ trả đất cho phía ông T4
(nhân dịp lễ giỗ cụ cố Lê Văn T2, do ông G thờ cúng) và làm giấy giao tài sản ½
đất phần ông Lê Văn T4 được hưởng ngang 16m, ngang sau hậu 18m, dài hết đất
lại cho ông Lê Thành P (con ông Lê Văn T4). Đến năm 2021 ông Lê Văn G chết
thì bà Bùi Thị L (vợ ông G) làm thủ tục sang QSD cho bà L đứng tên hết phần
đất gm các thửa 138, 942, 1154, tờ bản đ số 4, mục đích sử dụng: Đất ở, đất
cây lâu năm, đất lúa nêu trên. Sự việc phía gia đình ông P không hay biết và sau
đó được biết thửa số 138 bà L đã chuyển nhượng cho ông Lê Hữu S.
Chính vì việc bà L đã chuyển nhượng thửa 138 (đất ruộng) cho ông S, thấy
đã vi phạm nội dung Đơn giao tài sản của ông G để lại nên vào tháng 10/2022
ông P đến yêu cầu bà L giao phần đất mà ông G đã làm giấy giao trả cho ông P
(phần được hưởng từ cha của ông P) thì bà L đng và đưa cho ông P 02 giấy
chứng nhận QSD đất để làm thủ tục sang tên, nhưng đến khi cơ quan chuyên
môn đến đo đạc thì bà L lại không đng , từ đó ông P mới khởi kiện. Nay ông
Lê Thành P yêu cầu bà Bùi Thị L giao trả phần đất mà ông Lê Văn G đã làm giấy
giao trả theo vị trí, số đo của Sơ đ đo đạc ngày 20/6/2023 của Chi nhánh Văn
phòng đăng k đất đai huyện H, tại một phần các thửa 138, 942, 1154, tờ bản đ
số 04, diện tích 1.817,5m
2
(chưa trừ những phần diện tích đất giao thông, đất
thủy lợi, đất các thửa khác, nếu Tòa án trừ ra còn bao nhiêu ông P yêu cầu bấy
nhiêu). Đối với việc chuyển nhượng đất giữa bà L với ông S tại thửa 138 thì ông
P không tranh chấp, vì thấy bà L đã bán cho ông S, do đó để ổn định canh tác,
ông P chỉ yêu cầu bà L trả giá trị theo giá thỏa thuận trong h sơ trên diện tích
dính vào phần ông P được giao trả.
Bị đơn bà Bùi Thị L và ngưi đại diện theo ủy quyn là anh Trần Hùng
Duy K trình bày:
Phần đất mà ông Lê Thành P khởi kiện yêu cầu bà L giao trả thì bà L nghe
nói lại là có ngun gốc của ông bà, cha mẹ ông Lê Văn G (chng bà L) để lại
ông G và đến khi bà L về làm vợ ông G (sau năm 1975) thì cùng ông G quản l
sử dụng và đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất tại các thửa 138, 942, 1154 tờ
bản đ số 04, diện tích 3.752,9m
2
, mục đích sử dụng: Đất ở, đất cây lâu năm, đất
lúa. Đến năm 2021 ông G chết nên bà L lập thủ tục sang QSD cho bà L đứng tên
cho đến nay. Trong quá trình sử dụng đất gia đình bà L đã bán và sang tên xong
phần đất ruộng thửa 138 phía sau cho ông Lê Hữu S không nhớ năm. Đối với tờ
giấy giao đất mà ông Lê Thành P cung cấp là không có, vì khi đó ông G đã bệnh
và bà L cũng không có k tên hoặc lăn tay gì cả. Còn việc giao hai giấy chứng
4
nhận QSD đất cho phía ông P là vì ông Nguyễn Văn B (con bà N, bà N là con cụ
T3) mượn để thế chấp vay vốn Ngân hàng, nhưng không thế chấp vay mà lại
giao cho ông P quản l nên nay bà L không đng với yêu cầu của ông Lê Thành
P, yêu cầu hủy giấy giao tài sản mà ông P cung cấp cho Tòa án cho rằng ông G
k tên giao đất và yêu cầu ông P giao trả 02 giấy chứng nhận QSD đất bà L đứng
tên.
Ngưi có quyn li, ngha v liên quan ông Nguyễn Văn K1, ông
Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn B1, bà Lê Thị M trình
bày:
Thống nhất về ngun gốc đất tranh chấp như lời khai của ông Lê Thành P
và đều khai nhận là có cuộc họp nội bộ gia tộc do ông Lê Văn G chủ trì, nội dung
ông Lê Văn G thông báo là sẽ trả lại cho ông Lê Thành P (là con của cụ Lê Văn
T4) và sau đó ông Lê Văn G làm Đơn giao tài sản đưa cho họ đều có k tên vào
đó, đng thời thống nhất việc kiện đòi đất của ông P đối với bà L là đúng.
Ngưi có quyn li, ngha v liên quan bà Lê Thị V, bà Lê Thị X, chị
Lê Thị Diệu H trình bày:
Phần đất tranh chấp là của cha mẹ, cha mẹ toàn quyền quyết định, họ đều
không tham gia kiến tranh chấp.
Ngưi có quyn li, ngha v liên quan ông Lê Hữu S, bà Nguyễn Thị
B2, chị Lê Thị Tưng V1, chị Lê Thanh T1 trình bày:
Đã nhận chuyển nhượng đất hợp pháp từ bà L và đã được cấp giấy chứng
nhận QSD đất, nên không tranh chấp về việc chuyển nhượng này với bà L, đối
với tranh chấp của ông P thì hộ gia đình ông S không có kiến, việc này do bà
L quyết định, nếu xét xử có liên quan đến phần đất này thì giữa gia đình ông S
với bà L giải quyết sau.
Ngưi có quyn li, ngha v liên quan bà Lê Thị C, bà Lê Thị C1 trình
bày:
Thống nhất theo nội dung khởi kiện của ông P và thống nhất phần đất này
là giao cho ông P sử dụng, không tranh chấp.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 40/2025/DS-ST ngày 13 tháng 6 năm 2025
của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp (Tòa án nhân dân
khu vực 12 – Đồng Tháp) (viết tắt bản án sơ thẩm) đã xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lê Thành P, sinh năm
1977, về việc yêu cầu bị đơn bà Bùi Thị L, sinh năm 1953 giao trả phần đất được
hưởng từ cha là ông Lê Văn T4, theo “Đơn giao tài sản” của ông Lê Văn G.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Bùi Thị L, sinh năm
1953, về việc yêu cầu hủy “Đơn giao tài sản” của ông Lê Văn G.
3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Bùi Thị L, sinh năm 1953 và
sự tự nguyện của nguyên đơn anh Lê Thành P, sinh năm 1977. Theo đó nguyên
5
đơn anh Lê Thành P, sinh năm 1977 có trách nhiệm giao trả 02 giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số: DG 623804 và DG 623805 đều cấp ngày 12/7/2022 và đều
do bà Bùi Thị L đứng tên (bản chính), tại các thửa 942, 1154, tờ bản đ số 04
cho bị đơn bà Bùi Thị L, sinh năm 1953.
4. Buộc bị đơn bà Bùi Thị L, sinh năm 1953 có trách nhiệm giao trả cho
nguyên đơn anh Lê Thành P, sinh năm 1977 phần đất được hưởng từ cha là ông
Lê Văn T4, theo “Đơn giao tài sản” của ông Lê Văn G với tổng diện tích
1.052,3m
2
tại một phần các thửa 942, 1154, tờ bản đ số 04 (trong phạm vi: từ
điểm A8 -> A9 -> M9 -> M6 -> M5 -> A3 -> A4 -> trở lại A8, theo sơ đồ xác
định diện tích đất tranh chấp ngày 03/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký
đất đai huyện H)(đã trừ ra diện tích đất tại các thửa 1153, 1155, 1085, đất giao
thông không tranh chấp và thửa 138 đã chuyển nhượng cho ông Lê Hữu S), địa
chỉ khu đất thuộc ấp F, xã T, huyện H, tỉnh Đng Tháp (hiện bà Bùi Thị L đứng
tên 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: DG 623804 và DG 623805 đều
cấp ngày 12/7/2022); Bị đơn bà Bùi Thị L có trách nhiệm di dời (bằng mọi biện
pháp) các cây trng, vật kiến trúc khác (thuộc sở hữu của bà L) ra khỏi phần đất
nêu trên, nếu không tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế theo quy định.
Bị đơn bà Bùi Thị L, sinh năm 1953 có trách nhiệm cùng với nguyên đơn
anh Lê Thành P, sinh năm 1977 đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng k
thực hiện thủ tục sang tên chuyển quyền sử dụng phần đất được giao trả như nêu
trên cho nguyên đơn anh Lê Thành P theo quy định.
5. Buộc bị đơn bà Bùi Thị L, sinh năm 1953 có trách nhiệm giao trả cho
nguyên đơn anh Lê Thành P, sinh năm 1977 giá trị của phần đất được hưởng từ
cha là ông Lê Văn T4, theo “Đơn giao tài sản” của ông Lê Văn G tại thửa 138,
tờ bản đ số 04, diện tích là 679,5m
2
x 80.000đng/m
2
= 54.360.000 đng (phần
đã chuyển nhượng cho ông Lê Hữu S).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, mà
người phải thi hành án chưa thi hành các khoảng tiền đã nêu tại mục 4, mục 5,
thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức
lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự trên số tiền chậm thi
hành tương ứng với thời gian chậm thi hành cho đến khi thi hành án xong.
6. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí giám định: Chấp nhận
sự tự nguyện của nguyên đơn anh Lê Thành P, sinh năm 1977 chịu toàn bộ chi
phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí giám định là 9.710.520đng, nguyên
đơn anh Lê Thành P, sinh năm 1977 đã nộp xong, bị đơn bà Bùi Thị L, sinh năm
1953 không có nghĩa vụ hoàn trả lại cho nguyên đơn anh Lê Thành P, sinh năm
1977 tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí giám định.
7. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn bà Bùi Thị L, sinh năm 1953, được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ
thẩm (do thuộc trường hợp người cao tuổi).
6
Nguyên đơn anh Lê Thành P, sinh năm 1977 phải chịu 300.000 đng tiền
án phí dân sự sơ thẩm (phần nghĩa vụ trả 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất),
nhưng được vào tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 3.090.000 đng
tại biên lai thu k hiệu 14BE-21, số 0004411 ngày 25/5/2023 của Chi cục Thi
hành án dân sự huyện Hng Ngự, tỉnh Đng Tháp. Vậy nguyên đơn anh Lê
Thành P, sinh năm 1977 được hoàn trả tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm còn
lại trong biên lai thu k hiệu 14BE-21, số 0004411 ngày 25/5/2023 là 2.790.000
đng.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên thời hạn, quyền kháng cáo và quyền,
nghĩa vụ, thời hiệu thi hành án của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm. Bà Bùi Thị L là bị đơn không thống nhất bản án
sơ thẩm, nên đã kháng cáo yêu cầu Tòa án phúc thẩm giải quyết: Không chấp
nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Thành P hoặc hủy bản
án sơ thẩm và giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Anh Trần Hùng Duy K trình bày: Bà L vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng
cáo, đề nghị Hội đng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận
toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bởi, bà L và ông G không có ký tên
vào Đơn giao tài sản, bà L cùng ông G canh tác quản l các thửa đất tranh chấp
từ trước đến nay và nhận thừa kế từ ông G là phù hợp đúng quy định pháp luật.
- Ông Lê Thành P trình bày: Không đng kháng cáo của bị đơn, đề nghị
Hội đng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Bà Lê Thị C trình bày: Không có kiến.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đng Tháp phát biểu kiến:
+ Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai
đoạn phúc thẩm: Thủ tục kháng cáo của bà Bùi Thị L thực hiện đúng và hợp lệ
theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm
phán, Hội đng xét xử và Thư k phiên tòa kể từ khi thụ l vụ án đến thời điểm
xét xử phúc thẩm đã chấp hành và thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ
luật Tố tụng dân sự; Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và
nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
+ Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đng xét xử áp dụng khoản
2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Bùi
Thị L, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 40/2025/DS-ST ngày 13 tháng 6
năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Hng Ngự, tỉnh Đng Tháp (Tòa án nhân
dân khu vực 12 – Đng Tháp).
(Kèm theo Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm số:
358/PB-VKS-DS ngày 06/02/2026).
NHN ĐNH CỦA TÒA ÁN:
7
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong h sơ, được thẩm tra
tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại diện
Viện kiểm sát, Hội đng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Hng Ngự, tỉnh Đng Tháp (Tòa án
nhân dân khu vực 12 – Đng Tháp) thụ l và giải quyết sơ thẩm vụ án “Tranh
chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu
cầu hủy đơn giao tài sản” là đúng quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1
Điều 35 và điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự về quan hệ tranh
chấp và thẩm quyền của Tòa án. Việc bị đơn bà Bùi Thị L nộp đơn kháng cáo
ngày 24/6/2025 là trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 273 Bộ luật
Tố tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Lê Thị V, bà Lê Thị X, chị Lê Thị Diệu H, ông
Lê Hữu S, bà Nguyễn Thị B2, chị Lê Thị Tường V1, chị Lê Thanh T1 vắng mặt
sau khi Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai và ông Nguyễn Văn K1, ông
Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn B1, bà Lê Thị M, bà Lê Thị
C1 vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đng xét xử tiến
hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Xét kháng cáo của bà Bùi Thị L yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng
không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Hội đng xét xử xét thấy:
Nguyên đơn cho rằng ngun gốc đất tranh chấp là của cụ Lê Văn T2 để lại
cho cụ Lê Văn T3 và cụ Lê Văn C2 quản l, sử dụng. Đến khi các cụ T3, C2 chết
thì tiếp tục giao phần đất trên lại cho ông Lê Văn G và ông Lê Văn T4 cùng quản
l sử dụng vào trước năm 1978, ông T4 quản l sử dụng phần của mình đến giặc
Campuchia xâm lược, ông T4 về xã L ở nên phần đất ½ của ông T4 giao cho ông
G quản l sử dụng luôn để có chi phí làm m mã, thờ cúng ông bà và ông G đăng
k, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng (QSD) đất vào năm 2013 gm các
thửa 138, 942, 1154, tờ bản đ số 04, mục đích sử dụng: Đất ở, đất cây lâu năm,
đất lúa. Năm 2019 nhân dịp lễ giỗ cụ Lê Văn T2, do ông G thờ cúng thì ông G
họp nội bộ gia đình thông báo sẽ trả đất cho phía ông T4 và làm giấy Đơn giao tài
sản ½ đất phần ông T4 được hưởng.
Bị đơn cho rằng ngun gốc đất tranh chấp của ông bà, cha mẹ ông Lê Văn
G để lại ông G và đến khi bà L về làm vợ ông G (sau năm 1975) thì cùng ông G
quản l sử dụng và đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất tại các thửa 138, 942,
1154, tờ bản đ số 04, diện tích 3.752,9m
2
, mục đích sử dụng: Đất ở, đất cây lâu
năm, đất lúa.
Tại Đơn giao tài sản thể hiện ông Lê Văn G và bà Bùi Thị L đứng tên dưới
đây: “Nay vợ chồng tôi đồng ý chuyển nhượng quyền phần hương quả của ông
bà để lại cho cháu tôi Lê Thành P, ngụ xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp số đất này
8
là 3 thửa, 1 thửa cất nhà, 1 thửa mồ mã ông bà, 1 thửa sau đất ruộng, mặt tiền
đất phần cháu tôi hưởng 16 mét, hậu 18 mét. Nay cháu tôi Lê Thành P cho tôi
mượn lại số đất ruộng khi tôi, vợ tôi mãn phần thì số đất này cháu tôi lấy lại làm,
nay tôi làm đơn này cho cháu tôi được hưởng phần nói trên. Sau này, nếu tôi
chuộc bằng khoáng đất này lại thì tôi hứa đưa bằng khoáng cho cháu tôi Nguyễn
Văn K1 tách ra cho cháu P, phần đất nhà ở này kể từ đây không ai được cất nhà
trên phạm vi đất, giấy này tôi làm cam đoan không ai được quyền khiếu nại. Vợ
chồng tôi đồng ý ký tên dưới đây”. Trong Đơn giao tài sản còn có bà Lê Thị M,
ông Nguyễn Văn K1, ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn
B1. Tại các Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 26/6/2024 thể hiện bà M là
chị ruột của ông G, ông B, ông K1, ông T, ông B1 là anh em chú bác ruột của ông
G đều khai có k tên xác nhận và nội dung trong Đơn giao tài sản là đúng. Bà L
cho rằng phần đất tranh chấp là của cha chng (cụ T3) để lại cho ông G quản l,
sử dụng và ông G được cấp giấy chứng nhận QSD đất, sau đó ông G chết thì bà
làm thủ tục sang qua bà đứng tên. Lúc ông G còn sống có kêu ông T4 về xây nhà
sinh sống, ông T4 trả lời là không về ở và không có chí sử dụng phần đất này,
ông T4 từ bỏ đất. Do đó, bà không thống nhất trả đất cho ông P.
Tại Kết luận giám định số 479/KL-KTHS ngày 31/12/2024 của V2 - Bộ C3
kết luận:
“5.1. Chữ ký dưới mục Lê Văn G trên mẫu giám định ký hiệu A so với chữ
ký của Lê Văn G trên các mẫu so sánh ký hiệu M1, M2, M3 do cùng một người ký
ra.
5.2. Không đủ cơ sở kết luận chữ ký dưới mục Lê Văn G trên mẫu cần giám
định ký hiệu A so với chữ ký của Lê Văn G trên mẫu so sánh ký hiệu M4 có phải
cùng một người ký ra hay không.
5.3. Không đủ cơ sở kết luận chữ ký dưới mục Bùi Thị L trên mẫu cần giám
định ký hiệu A so với chữ ký của Bùi Thị L trên mẫu so sánh ký hiệu M5 có phải
do cùng một người ký ra hay không”.
Từ những phân tích nêu trên, có đủ cơ sở xác định đất tranh chấp có ngun
gốc của cụ Lê Văn T2 để lại cho hai người con là cụ Lê Văn T3 và cụ Lê Văn C2
quản l sử dụng. Đến khi cụ T3 và cụ C2 chết thì tiếp tục giao phần đất trên cho
ông Lê Văn G và ông Lê Văn T4 cùng quản l, sử dụng. Khoảng năm 1978 (chạy
giặc M1) ông T4 không tiếp tục quản l nữa mà đã giao ½ phần đất của mình cho
ông G quản l sử dụng. Đến khoảng năm 2019 ông G họp nội bộ gia đình tộc họ
nhân lễ giỗ cụ Lê Văn T2 và làm Đơn giao tài sản giao trả ½ phần đất của ông T4
được hưởng (ngang 16m, ngang sau hậu 18m, dài hết đất) lại cho ông Lê Thành
P (con ông G) sử dụng.
Sau khi ông G chết thì bà L làm thủ tục thừa kế và được Sở Tài nguyên và
Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận QSD đất tại các thửa: Thửa 1154, tờ bản
đ số 4, diện tích 411,1m
2
đất ở tại nông thôn; Thửa 942, tờ bản đ số 4, diện tích
1.717,4m
2
đất trng cây lâu năm và thửa 138, tờ bản đ số 4, diện tích 1.624,4m
2
9
đất chuyên trng lúa nước. Ngày 04/8/2022, bà L thực hiện hợp đng chuyển
nhượng QSD đất thửa 138 cho ông Lê Hữu S và ông S được Sở Tài nguyên và
Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 23/8/2022.
Tại Biên bản về việc ghi nhận sự thỏa thuận giá đất đang tranh chấp ngày
13/01/2025, các đương sự thống nhất giá trị: Đất ở tại nông thôn là 200.000
đng/m
2
, đất trng cây lâu năm 100.000 đng/m
2
và đất chuyên trng lúa nước là
80.000 đng/m
2
.
Xét thấy, ông P thừa nhận ông T4 đã giao phần đất của mình cho ông G
quản l sử dụng cho đến nay nên nguyên đơn yêu cầu bà L trả ½ giá trị quyền sử
dụng đất đối với thửa 138 và yêu cầu giao ½ diện tích đất tại thửa 1154, 942 cho
ông P sử dụng theo như Đơn giao tài sản. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông P đng
giao lại diện tích 82,5m
2
thuộc một phần thửa 1154 và diện tích 163,8m
2
thuộc
một phần thửa 942 do dính một phần nhà của bà L đang ở, không đủ điều kiện
cấp giấy chứng nhận QSD đất và một phần khu mộ tộc họ Lê (10 mộ và 02 tháp
mộ), yêu cầu bà L trả giá trị QSD đất nêu trên cho ông P và giao cho ông P phần
đất diện tích 806,0m
2
thuộc một phần thửa 942 được quản l, sử dụng. Do đó, để
đảm bảo việc sử dụng được thuận tiện và đúng quy định pháp luật nên bà Bùi Thị
L có nghĩa vụ giao cho ông Lê Thành P quyền sử dụng diện tích 806,0m
2
, thuộc
một phần thửa 942, tờ bản đ số 4, mục đích sử dụng đất trng cây lâu năm, trong
phạm vi các mốc A7-A6-BS1-BS2-A3-M5-M6-M9-M10-A9-A7, đất tọa lạc tại
ấp F, xã T, huyện H, tỉnh Đng Tháp (nay là khóm T, phường T, tỉnh Đng Tháp)
và bà L có nghĩa vụ trả giá trị QSD đất cho ông P, cụ thể như sau:
+ Thửa 138, diện tích 679,5m
2
x 80.000 đng/m
2
= 54.360.000 đng.
+ Thửa 1154, diện tích 82,5m
2
x 200.000 đng/m
2
= 16.500.000 đng.
+ Thửa 942, diện tích 163,8m
2
x 100.000 đng/m
2
= 16.380.000 đng.
Tổng cộng bà L có nghĩa vụ trả giá trị QSD đất cho ông P số tiền là
87.240.000 đng (Tám mươi bảy triệu hai trăm bốn mươi nghìn đng).
Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 23/01/2026 thể hiện trong
phạm vi các mốc A7-A6-BS1-BS2-A3-M5-M6-M9-M10-A9-A7 có các cây trng
gm 10 bụi chuối (100 cây), 03 cây me tây (còng), 02 cây gáo, 03 cây mai vàng,
01 cây dừa lớn đang cho trái, 02 cây xoài đang cho trái và 01 bụi tre do gia đình
bà L trng. Ông P và bà L thống nhất giá trị các cây trng trên là 10.000.000 đng.
Đây là phần đất giao cho ông P nên ông P có nghĩa vụ trả giá trị các cây trng nêu
trên cho bà L số tiền 10.000.000 đng để được quyền sở hữu, sử dụng cây trng.
Đối với yêu cầu phản tố của bà L về việc hủy Đơn giao tài sản và yêu cầu
ông P giao trả 02 giấy chứng nhận QSD đất do bà L đứng tên là có một phần cơ
sở chấp nhận. Vì, đối với yêu cầu hủy Đơn giao tài sản là không có căn cứ chấp
nhận như đã phân tích nêu trên, việc ông G thể hiện chí giao lại 03 thửa đất nói
trên cho ông P là có thật, phù hợp với tài liệu, chứng cứ, lời khai của đương sự
và Kết luận giám định. Còn việc giao 02 giấy chứng nhận QSD đất cho phía ông
10
P là vì ông Nguyễn Văn B (con bà N, bà N là con cụ T3) mượn để thế chấp vay
vốn Ngân hàng, nhưng không thế chấp vay mà lại giao cho ông P quản l nên bà
L yêu cầu ông P giao trả 02 giấy chứng nhận QSD đất bà L đứng tên. Lời trình
bày của bà L không được ông B thừa nhận. Tại Biên bản lấy lời khai ngày
26/6/2024 ông B trình bày chính tay bà L đưa 02 giấy chứng nhận QSD đất cho
ông B đi làm thủ tục tách thửa sang tên cho ông P theo nội dung Đơn giao đất
của ông G. Nhưng khi cơ quan chuyên môn xuống thực địa để đo đạc thì bà L
đổi không chịu nên ông B đưa cho ông P giữ các giấy chứng nhận QSD đất
này. Tại phiên tòa sơ thẩm ông P tự nguyện giao trả 02 giấy chứng nhận QSD
đất trên cho bà L. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của ông P nên ghi nhận.
[3] Từ những phân tích nêu trên, Hội đng xét xử xét thấy, kháng cáo của
bà L là có một phần căn cứ chấp nhận. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số
40/2025/DS-ST ngày 13/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hng Ngự, tỉnh Đng
Tháp (Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đng Tháp).
[4] Đối với quan điểm và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa như nêu
trên. Hội đng xét xử xét thấy là có cơ sở và phù hợp pháp luật nên được chấp
nhận.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do sửa án nên án phí tính lại cho phù hợp
theo quy định của pháp luật.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà L không phải chịu án phí dân sự phúc
thẩm.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu
lực pháp luật từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Bùi Thị L.
2. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số: 40/2025/DS-ST ngày 13 tháng
6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Hng Ngự, tỉnh Đng Tháp (Tòa án nhân
dân khu vực 12 – Đng Tháp).
2.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Thành
P.
Buộc bà Bùi Thị L có nghĩa vụ giao cho ông Lê Thành P quyền sử dụng
diện tích 806,0m
2
, thuộc một phần thửa 942, tờ bản đ số 4, mục đích sử dụng
đất trng cây lâu năm, trong phạm vi các mốc A7-A6-BS1-BS2-A3-M5-M6-M9-
M10-A9-A7, đất tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện H, tỉnh Đng Tháp (nay là khóm
T, phường T, tỉnh Đng Tháp).
11
Ông Lê Thành P được sở hữu và sử dụng các cây trng trên diện tích
806,0m
2
nêu trên gm 10 bụi chuối (100 cây), 03 cây me tây (còng), 02 cây gáo,
03 cây mai vàng, 01 cây dừa lớn đang cho trái, 02 cây xoài đang cho trái, 01 bụi
tre và có nghĩa vụ trả giá trị cây trng cho bà Bùi Thị L số tiền 10.000.000 đng
(Mười triệu đng).
Buộc bà Bùi Thị L có nghĩa vụ trả giá trị quyền sử dụng đất cho ông Lê
Thành P với số tiền 87.240.000 đng (Tám mươi bảy triệu hai trăm bốn mươi
nghìn đng).
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu
cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho
người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng
tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân
sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Các đương sự được quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm
thủ tục kê khai, đăng k, điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy
định của pháp luật.
(Kèm theo Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 20/6/2023 của Chi
nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H, tỉnh Đồng Tháp, Sơ đồ bổ sung mốc,
diện tích thửa đất ngày 28/01/2026 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai
khu vực XXI – Đồng Tháp và Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 20/6/2023
của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, Biên bản xem xét, thẩm
định tại chỗ ngày 23/01/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp).
2.2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà Bùi Thị L.
Ông Lê Thành P có trách nhiệm giao trả 02 bản chính giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số DG 623804 và số DG 623805 do Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh Đ cấp ngày 12/7/2022 do bà Bùi Thị L đứng tên.
2.3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí giám định: Số tiền
12.710.520 đng, ông Lê Thành P tự nguyện chịu, đã nộp và chi xong.
2.4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Bùi Thị L được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Lê Thành P phải chịu 800.000 đng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng
được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.090.000 đng theo Biên lai
thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004411 ngày 25/5/2023 của Chi cục Thi
hành án dân sự huyện Hng Ngự, tỉnh Đng Tháp (Phòng Thi hành án dân sự
khu vực 12 – Đng Tháp). Ông Lê Thành P được hoàn trả lại số tiền chênh lệch
2.290.000 đng (Hai triệu hai trăm chín mươi nghìn đng).
3. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Bùi Thị L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
12
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo
quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND Tỉnh;
- Phòng TT, KT & THA TAND Tỉnh;
- TAND khu vực 12 – Đng Tháp;
- Phòng THADS khu vực 12 – Đng Tháp;
- Đương sự;
- Lưu: VT, HSVA, TDS
(Quang)
.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký tên và đóng dấu)
Hứa Quang Thông
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 04/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 04/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 03/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 30/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 30/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 28/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 27/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 26/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 26/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 26/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm