Bản án số 1271/2026/DS-PT ngày 10/09/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1271/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1271/2026/DS-PT ngày 10/09/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 1271/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Văn Hiền và nhiều nguyên đơn khởi kiện bà Đàm Thị Khéo và các bị đơn khác yêu cầu trả quyền sử dụng đất bị lấn chiếm.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1271/2026/DS-PT Bản án số 1271/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1271/2026/DS-PT Bản án số 1271/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 1271/2026/DS-PT
Ngày 09 - 9 - 2026
V/v: tranh chấp ranh giới giữa
các bất động sản liền kề
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tôn Thị Thanh Thúy.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang.
Bà Nguyễn Thị Trang Thư.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Minh Thư - Thư ký viên của Tòa án
nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên
tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Liên - Kiểm sát viên
Trong ngày 09 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần
Thơ, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 1357/2026/TLPT-DS ngày 21
tháng 7 năm 2026 về việc “Tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 321/2026/DS-ST, ngày 15 tháng 5 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cần Thơ, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1675/2026/QĐ-PT,
ngày 31 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Trần Thanh H, sinh năm: 1980. Địa chỉ: số H, tổ C, khu V, phường
A, thành phố Cần Thơ (có mặt).
2. Ông Trần Hữu Ú, sinh năm: 1953, (vắng mặt).
3. Bà Võ Thị B, sinh năm: 1958, (vắng mặt).
4. Ông Trần Việt H1, sinh năm: 1984, (vắng mặt).
Cùng nơi cư trú: ấp N, xã N, thành phố Cần Thơ
Đại diện ủy quyền của ông Ú, bà B và ông H1: Ông Trần Thanh H, sinh
năm: 1980. Địa chỉ: số H, tổ C, khu V, phường A, thành phố Cần Thơ, (có mặt).
- Bị đơn:
1. Bà Đàm Thị K, sinh năm: 1946 (vắng mặt).
2. Ông Huỳnh Chấm K1, sinh năm: 1983 (có mặt).
2
3. Bà Huỳnh Kim T, sinh năm: 1972 (vắng mặt).
4. Bà Huỳnh Kim X, sinh năm: 1985 (vắng mặt).
Cùng nơi cư trú: ấp N, xã N, thành phố Cần Thơ
5. Bà Huỳnh Kim L, sinh năm: 1968. Địa chỉ: khu V, phường A, thành phố
Cần Thơ (vắng mặt)
5. Bà Huỳnh Kim T1, sinh năm: 1968. Địa chỉ: ấp T, xã T, thành phố Cần
Thơ (vắng mặt)
7. Ông Huỳnh Ngọc T2, sinh năm: 1975. Địa chỉ: ấp N, xã N, thành phố
Cần Thơ (có mặt)
Đại diện theo ủy quyền của bà K, bà T, bà X, bà L, bà T1 gồm có: Ông
Huỳnh Ngọc T2 và ông Huỳnh Chấm K1. Có địa chỉ như nêu trên.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Văn P, sinh năm:
1970. Địa chỉ: ấp N, xã N, thành phố Cần Thơ (vắng mặt)
Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Trần Thanh H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nội dung vụ án được tóm
tắt như sau:
Theo các nguyên đơn trình bày: Hộ ông Trần Hữu Ú được Ủy ban nhân dân
huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00799 ngày 10/01/1997 đối
với phần đất tại thửa 634 (loại đất 2L), 643 (loại đất LNK), 1.996 (loại đất
LNK+T), tờ bản đồ số 07, diện tích 8.085m
2
. Trong quá trình sử dụng thì bà Đàm
Thị K, ông Huỳnh Chấm K1, bà Huỳnh Kim T, bà Huỳnh Kim X, bà Huỳnh Kim
L, bà Huỳnh Kim T1, ông Huỳnh Ngọc T2 là người thừa kế của ông Huỳnh Văn
Ú1 sử dụng đất giáp ranh với hộ ông Trần Hữu Ú có sử dụng lấn sang phần đất
của hộ ông Ú. Nay phía nguyên đơn thống nhất với Sơ đồ hiện trạng thửa đất số
79 ngày 06/02/2026 Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C và yêu cầu các bị
đơn trả lại phần đất tranh chấp tại các vị trí được đánh dấu là điểm “A” diện tích
4.1m
2
, điểm “B” diện tích 18m
2
, điểm “C” diện tích 14.7m
2
theo Sơ đồ hiện trạng
thửa đất nêu trên cho nguyên đơn. Tại phiên tòa, nguyên đơn bổ sung yêu cầu
khởi kiện là yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Huỳnh Văn
Ú1 và yêu cầu các bị đơn hoàn trả lại chi phí đi lại để tham gia tố tụng của nguyên
đơn là 5.000.000đồng.
Theo trình bày của các bị đơn: ông T2 là con của ông Huỳnh Văn Ú1 (chết
năm 2012) là chủ sử dụng phần đất giáp ranh với đất của hộ ông Trần Hữu Ú,
phần đất mà ông Huỳnh Văn Ú1 sử dụng là các thửa 1480, 1481, 1485, 632, 638,
641, 645, 649 và 1914, tờ bản đồ số 7, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
000269 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Huỳnh Văn Ú1. Trong đó, có
thửa 649 và 645 giáp ranh với hộ ông Trần Hữu Ú, giữa hai bên đã thỏa thuận
cắm ranh cách nay khoảng 20 năm và hiện tại trụ ranh vẫn còn. Ngoài ra, giữa hai
3
bên cũng có hai cây dừa ranh do phía ông Huỳnh Văn Ú1 trồng và nhà tắm xây
dựng sát ranh nên bị đơn không có lấn ranh của nguyên đơn. Vì vậy, ông T2 không
đồng ý với yêu cầu khởi kiện của hộ ông Ú1. Ông T2 thống nhất với Sơ đồ hiện
trạng thửa đất số 79 ngày 06/02/2026 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố
C, các phần đất tranh chấp tại các vị trí được đánh dấu là điểm “A” diện tích
4.1m
2
, điểm “B” diện tích 18 m
2
, điểm “C” diện tích 14.7m
2
theo Sơ đồ là thuộc
quyền sử dụng đất của phía bị đơn.
Tại Bản án dân sự số 321/2026/DS-ST, ngày 15 tháng 5 năm 2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 3 - Cần Thơ, đã quyết định như sau:
Áp dụng: khoản 9 Điều 26, Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều
92, Điều 93, Điều 147, Điều 150, Điều 157, Điều 165, Điều 200, Điều 208 Bộ
luật tố tụng dân sự; Điều 175, Điều 176 của Bộ luật dân sự 2015, Điều 6, Điều
203 Luật đất đai 2013, Điều 12, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Hữu Ú, Võ Thị
B, Trần Thanh H2 và Trần Thanh H về việc yêu cầu các bị đơn Đàm Thị K, Huỳnh
Chấm K1, Huỳnh Kim T, Huỳnh Kim X, Huỳnh Kim L, Huỳnh Kim T1, Huỳnh
Ngọc T2 trả lại phần đất tranh chấp tại các vị trí được đánh dấu là điểm “A” diện
tích 4.1m
2
, điểm “B” diện tích 18m
2
, điểm “C” diện tích 14.7m
2
tọa lạc tại ấp N,
xã N, thành phố Cần Thơ, theo Sơ đồ hiện trạng thửa đất số 79/VPĐK.DV ngày
06/02/2026 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C (kèm theo sơ đồ).
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, quyền
kháng cáo, nghĩa vụ chậm thi hành án, hướng dẫn thi hành án theo quy định pháp
luật.
Ngày 15/5/2026 nguyên đơn ông Trần Thanh H kháng cáo yêu cầu Tòa án
cấp phúc thẩm xem xét giải quyết: buộc bị đơn trả cho bà phần đât đã lấn chiếm
ở vị trí A, B, C theo sơ đồ đo đạc và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do
Ủy ban nhân dân cấp cho ông Huỳnh Văn Ú1 ngày 20/7/1995.
Tại phiên tòa phúc thẩm các nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khời kiện
và nguyên đơn ông Trần Văn H3 thay đổi một phần kháng cáo là yêu cầu Hội
đồng xét xử xem xét buộc bị đơn phải trả lại phần đất ở vị trí A, B có tổng diện
tích 14,2m
2
; bị đơn không đồng ý với kháng cáo của nguyên đơn, các đương sự
khác vẫn giữ nguyên ý kiến của mình nên các đương sự không thỏa thuận được
với nhau về việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ
trình bày: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử,
Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án
ở cấp phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm. Về quan điểm giải quyết vụ án sau
khi phân tích và đánh giá chứng cứ kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không
4
chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn. Áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ
luật tố tụng giữ nguyên bản án sơ thẩm số 321/2026/DS-ST, ngày 15 tháng 5 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cần Thơ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra các chứng
cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến phát biểu đề nghị của Kiểm
sát viên và những người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Người kháng cáo, nội dung và hình thức đơn kháng cáo, thời
hạn kháng cáo do các đương sự nộp cho Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cần Thơ là
đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015 nên kháng cáo là hợp lệ và đúng theo luật định. Hội đồng xét xử chấp nhận
xem xét kháng cáo theo đúng quy định pháp luật.
[2] Về sự thay đổi yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Thanh H chỉ
yêu cầu các bị đơn trả lại phần đất ở vị trí A, B có tổng diện tích 14,2m
2
theo sơ
đồ hiện trạng thửa đất số 79 ngày 06/02/2026 của Văn phòng đăng ký đất đai
thành phố C; đồng thời yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
000269 ngày 20/7/1995 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Huỳnh Văn
Ú1. Xét thấy, việc thay đổi yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn không vượt quá
giới hạn kháng cáo ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo quy định
pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn đối với phần đất tranh chấp tại các vị trí
A, B có tổng diện tích 14,2m
2
theo Sơ đồ hiện trạng thửa đất số 79 ngày
06/02/2026 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C, nguyên đơn cho rằng các
phần đất trên thuộc thửa 1996, tờ bản đồ số 07, đã được Ủy ban nhân dân huyện
C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00799 ngày 10/01/1997 cho hộ ông
Trần Hữu Ú; bị đơn không thừa nhận và cho rằng các phần đất đang tranh chấp
thuộc thửa đất của ông Huỳnh Văn Ú1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất và hiện nay các bị đơn là những người thừa kế của ông Huỳnh Văn Ú1 quản
lý, sử dụng. Xét thấy, theo kết quả đo đạc thực tế tại Sơ đồ hiện trạng thửa đất số
79 ngày 06/02/2026, diện tích thực tế của thửa 1996 có diện tích 2.195,9m² (chưa
bao gồm các phần đất tranh chấp vị trí A, B có tổng diện tích theo yêu cầu là
14,2m
2
), so với thửa 1996 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00799
ngày 10/01/1997 thể hiện Hộ ông Trần Hữu Ú đứng tên quyền sử dụng đất có diện
tích 2.400m
2
thì phần đất thửa 1996 thiếu 204,1m². Trường hợp tính luôn phần đất
tranh chấp yêu cầu trả 14,2m
2
thì thửa 1996 vẫn còn thiếu 189,9m². Còn đối với
thửa 649 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Hữu Ú2
thì diện tích theo đo đạc thực tế là 236,8m
2
(chưa bao gồm phần đất tranh chấp
14,2m
2
), sau khi tính diện tích tranh chấp thì diện tích thực tế của thửa 649 cao
hơn diện tích ghi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 12,4m². Tuy nhiên,
phần diện tích đất tranh chấp tại vị trí A, B do bị đơn là người trực tiếp quản lý,
5
sử dụng. Mặc khác, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà Võ Thị B
và những người đại diện cùa bị đơn đều xác định giữa bà B và ông Huỳnh Văn
Ú1 trước đây đã có thỏa thuận cắm ranh; phía nguyên đơn đã cắm các trụ ranh với
sự chứng kiến của Ban N vào khoảng năm 2005 - 2006 và các trụ ranh này vẫn
còn tồn tại. Tại phiên tòa hôm nay ông H cũng thừa nhận các trụ ranh cắm trước
đây vẫn còn tồn tại nhưng ông cho rằng việc cắm ranh chỉ là tạm để bảo vệ đất
không để bị lấn chiếm. Từ đó, cho thấy, việc các bên đã xác lập và duy trì mốc
giới sử dụng đất trong thời gian dài là sự thật. Theo quy định tại Điều 175 Bộ luật
Dân sự năm 2015, ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa
thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; trường hợp
không có căn cứ xác định thì được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã
tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp. Chủ sở hữu bất động sản không
được lấn, chiếm, thay đổi mốc giới, kể cả trường hợp ranh giới là kênh, mương,
hào, rãnh hoặc bờ ruộng. Căn cứ quy định trên với các tài liệu chứng cứ có trong
hồ sơ và lời thừa nhận của các đương sự, có cơ sở xác định giữa hai bên đã từng
có sự thỏa thuận về mốc giới và các trụ ranh đã được cắm trên thực địa từ khoảng
năm 2005–2006 đến nay vẫn còn tồn tại. Tại thời điểm cắm ranh, các bên không
có ý kiến phản đối hoặc tranh chấp về vị trí mốc giới. Việc sau đó các nguyên đơn
cho rằng việc cắm ranh trước đây chỉ là cắm tạm nhưng không xuất trình được tài
liệu, chứng cứ chứng minh các bên đã thống nhất thay đổi mốc giới là không đủ
cơ sở. Mặt khác, theo sự thừa nhận của các được sự thì tại ranh giới giữa hai bên
còn có các trụ ranh, hai cây dừa do phía ông Huỳnh Văn Ú1 trồng và nhà tắm
được xây dựng sát ranh, điều này phù hợp với lời trình bày của bị đơn về quá trình
quản lý, sử dụng đất và phù hợp với việc ranh giới thực tế giữa hai bên đã được
xác lập, sử dụng ổn định trong thời gian dài. Qua đối chiếu sơ đồ đo đạc thực tế
với sơ đồ các thửa đất 1996, 645 và 649 trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
của ông Huỳnh Văn Ú1 và hộ ông Trần Hữu Ú thể hiện ranh đất giữa các thửa đất
là đường thẳng và tại thời điểm cấp giấy ông Huỳnh Văn Ú1 và hộ ông Trần Hữu
Ú năm 1996, 1997 tại thời điểm này thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất chỉ dựa
trên đơn đăng ký quyền sử dụng đất và bản đồ không ảnh để cấp giấy, không tiến
hành đo đạc thực tế.
[2.3] Từ những phân tích trên thấy ông Huỳnh Văn Ú1 đã được cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số 000269 ngày 20/7/1995 đối với các thửa đất
giáp ranh; quá trình sử dụng đất giữa hai bên có mốc giới thực tế được các bên
thừa nhận đã cắm từ khoảng năm 2005–2006 và các mốc này vẫn còn tồn tại. Các
nguyên đơn không chứng minh được sau thời điểm cắm ranh, ông Huỳnh Văn Ú1
hoặc những người thừa kế của ông đã tự ý dịch chuyển mốc giới hoặc lấn sang
phần đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của các nguyên đơn. Vì vậy, Hội đồng
xét xử không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông Trần Thanh H về việc buộc
các bị đơn giao trả các phần đất tại vị trí A, B diện tích tổng diện tích 14,2m
2
.
6
[2.4] Đối với kháng cáo của ông Trần Thanh H yêu cầu hủy Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số 000269 ngày 20/7/1995 do Ủy ban nhân dân huyện C
cấp cho ông Huỳnh Văn Ú1. Xét thấy, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất là yêu cầu có liên quan trực tiếp đến việc xác định quyền sử dụng đất
đang tranh chấp. Tuy nhiên, các nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng
cứ chứng minh tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000269
ngày 20/7/1995 cho ông Huỳnh Văn Ú1, cơ quan có thẩm quyền đã cấp giấy
không đúng đối tượng, không đúng diện tích, sai nguồn gốc đất hoặc vi phạm
trình tự, thủ tục cấp giấy theo quy định pháp luật tại thời điểm cấp. Mặt khác, như
đã phân tích trên, không có căn cứ xác định phần đất tranh chấp A, B thuộc quyền
sử dụng hợp pháp của các nguyên đơn. Vì vậy, không có cơ sở chấp nhận kháng
cáo của nguyên đơn ông Trần Thanh H về yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số 000269 ngày 20/7/1995.
[3] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy kháng cáo
của nguyên đơn là không có căn cứ, Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[4] Đề nghị của vị kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử
không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Trần Thanh H áp dụng khoản 1 Điều
308 của Bộ luật tố tụng giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 321/2026/DS-ST,
ngày 15 tháng 5 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cần Thơ là có căn cứ
như phân tích trên nên Hội đồng xét xử phúc thẩm.
[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Thanh H
không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại Điều 29
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 và khoản 6 Điều 313 Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo nguyên đơn ông Trần Thanh H. Giữ nguyên
Bản án dân sự sơ thẩm số 321/2026/DS-ST, ngày 15 tháng 5 năm 2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 3 - Cần Thơ, án tuyên như sau:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Hữu Ú,
Võ Thị B, Trần Thanh H2 và Trần Thanh H về việc yêu cầu các bị đơn Đàm Thị
K, Huỳnh Chấm K1, Huỳnh Kim T, Huỳnh Kim X, Huỳnh Kim L, Huỳnh Kim
T1, Huỳnh Ngọc T2 trả lại phần đất tranh chấp tại các vị trí được đánh dấu là điểm
7
A diện tích 4.1m
2
, điểm B diện tích 18m
2
, điểm C diện tích 14.7m
2
theo Sơ đồ
hiện trạng thửa đất số 79/VPĐK.DV ngày 06/02/2026 của Văn phòng đăng ký đất
đai thành phố C.
Các phần đất tọa lạc tại ấp N, xã N, thành phố Cần Thơ. Kèm theo Sơ đồ
hiện trạng thửa đất số 79/VPĐK.DV ngày 06/02/2026 của Văn phòng đăng ký đất
đai thành phố C.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Hữu Ú và bà Võ Thị B được miễn án
phí dân sự sơ thẩm. Ông Trần Việt H1 và ông Trần Thanh H phải chịu 300.000đ
(ba trăm ngìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, chuyển tiền tạm ứng án phí theo phiếu
thu số 0006991 ngày 2/10/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ thành
án phí.
3. Về chi phí đo đạc, định giá: Ông Trần Hữu Ú, bà Võ Thị B, ông Trần
Việt H1 và ông Trần Thanh H phải chịu chi phí đo đạc, định giá là 10.108.200đ
(mười triệu một trăm linh tám nghìn hai trăm đồng). Ông Trần Hữu Ú, bà Võ Thị
B, ông Trần Việt H1 và ông Trần Thanh H đã nộp tạm ứng là 12.000.000đ (mười
hai triệu đồng) theo phiếu thu ngày 03/11/2025 và 24/3/2026. Ông Trần Hữu Ú,
bà Võ Thị B, ông Trần Việt H1 và ông Trần Thanh H được nhận lại chi phí đo
đạc, định giá là 1.891.800đ (một triệu tám trăm chín mươi mốt nghìn tám trăm
đồng) tại Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cần Thơ.
4. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Thanh H phải chịu 300.000 đồng.
Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng theo
biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009733 ngày 18/5/2026 của Thi hành án dân
sự thành phố Cần Thơ.
5. Bản án này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự năm 2025 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 36 và
Điều 71 Luật Thi hành án dân sự năm 2025; thời hiệu yêu cầu thi hành án được
thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự năm 2025.
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Cần Thơ;
- TAND khu vực 3 - Cần Thơ;
- Phòng THADS khu vực 3 - Cần Thơ;
- THADS thành phố Cần Thơ;
- Các đương sự;
- Lưu: HS-VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Tôn Thị Thanh Thúy
8
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1271/2026/DS-PT Bản án số 1271/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1271/2026/DS-PT Bản án số 1271/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất