Bản án số 791/2026/DS-PT ngày 14/09/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 791/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 791/2026/DS-PT ngày 14/09/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 791/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” giữa Lê Ngọc P2 - Lê Văn B
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 791/2026/DS-PT Bản án số 791/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 791/2026/DS-PT Bản án số 791/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 791/2026/DS-PT
Ngày: 14 - 9 - 2026
V/v tranh chấp: “Hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phong.
Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Kiến;
Ông Nguyễn Tuấn Anh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Thành - Thư ký Toà án nhân dân
tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Ông Võ Trung Hiếu
- Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 14 tháng 9 năm 2026, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 486/2026/TLPT-DS ngày 13 tháng 7 năm
2026 về việc tranh chấp “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 46/2026/DS-ST ngày 23 tháng 02 năm 2026
của Toà án nhân dân Khu vực X - Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1264/2026/QĐ-PT
ngày 29 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Ngọc P2, sinh năm 1976;
Địa chỉ: Khu phố A, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện theo ủy quyền của bà P2: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1959 (có
mặt);
Địa chỉ: Số B, khu phố M, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bị đơn:
2.1. Ông Lê Văn B, sinh năm 1934 (đã chết);
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông B:
2.1.1. Bà Trần Thị B1, sinh năm 1940;
2
Địa chỉ: Khu phố A, phường C, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện theo ủy quyền của bà B1: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1966 (có
mặt).
Địa chỉ: Số E, khu phố C, phường C, tỉnh Đồng Tháp.
2.1.2. Bà Lê Thị Thu T, sinh năm 1960 (vắng mặt);
Địa chỉ: Khu phố A, phường C, tỉnh Đồng Tháp.
2.1.3. Ông Lê Minh T1, sinh năm 1970 (vắng mặt);
Địa chỉ: Khu phố A, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
2.1.4. Bà Lê Hồng P1, sinh năm 1980 (vắng mặt);
Địa chỉ: Khu phố A, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
2.1.5. Bà Lê Ngọc P2, sinh năm 1976;
Địa chỉ: Khu phố A, phường C, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện theo ủy quyền của bà P2: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1959 (có
mặt).
Địa chỉ: Số B, Khu phố M, phường M, tỉnh Đồng Tháp.
2.1.6. Ông Lê Minh P, sinh năm 1977;
Địa chỉ: Khu phố A, phường C, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện theo ủy quyền anh P: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1966 (có
mặt).
Địa chỉ: Số E, khu phố C, phường C, tỉnh Đồng Tháp.
2.2. Ông Lê Minh P, sinh năm 1977;
Địa chỉ: Khu phố A, phường C, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện theo ủy quyền anh P: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1966 (có
mặt).
Địa chỉ: Số E, khu phố C, phường C, tỉnh Đồng Tháp.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Trần Thị B1, sinh năm 1940;
Địa chỉ: Khu phố A, phường C, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện theo ủy quyền của bà B1: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1966 (có
mặt);
Địa chỉ: Số E, khu phố C, phường C, tỉnh Đồng Tháp.
3.2. Anh Nguyễn Trung T2, sinh năm 1982 (xin vắng mặt);
3.3. Chị Đỗ Thị Hồng D1, sinh năm 1983 (xin vắng mặt);
Cùng địa chỉ: I M, khu phố A, phường C, tỉnh Đồng Tháp.
3
4. Người kháng cáo: Bị đơn ông Lê Minh P và người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan bà Trần Thị B1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm,
* Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn bà Lê Ngọc P2 ủy quyền cho bà Nguyễn Thị C trình bày:
Nguyên cha bà P2 là ông Lê Văn Ba S năm 1934 mất năm 2021 có đứng
chủ hộ phần đất diện tích 5.540,5m
2
tại khu A thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền
Giang nay thuộc phường M, tỉnh Đồng Tháp. Trên phần đất có 02 căn nhà gồm
nhà của ông B và nhà của bà P2. Hộ sử dụng đất vào thời điểm năm 2007 gồm
có: Ông Lê Văn B, bà Trần Thị B1 (mẹ), bà Lê Ngọc P2 và em là Lê Minh P.
Năm 2007 nhà nước thu hồi toàn bộ phần đất trên xây dựng công trình khu dân
cư. Ngày 30/7/2017, Ủy ban nhân dân huyện C ra thông báo số 17/TB-HĐ về
việc chi trả bồi thường tái định cư cho bà P2 và ông B. Nội dung thông báo có
ghi rõ: “Đối với hộ bà P2 nếu được ông B cho đất thì trừ diện tích giải tỏa của
ông B và được bố trí nền nhà tái định cư”. Đối với ông B: Về bố trí tái định cư
được hoán đổi 03 nền và bố trí tái định cư nền số 05, 06, 07”. Ông B đã nhận
được thông báo, biết rõ nội dung và cử ông Lê Minh P đại diện hộ gia đình để
làm việc với cơ quan nhà nước, do Lê Minh P cùng sống chung nhà và chung hộ
nên mọi việc ra chính quyền ông P đều đại diện đi thay vì ông B bà B1 đều đã
lớn tuổi. Để xác định việc ông B có cho đất hay không ngày 31/7/2007 ông
Nguyễn Văn B2 – Trưởng phòng Tài chính kế hoạch huyện C phối hợp với Ủy
ban nhân dân thị trấn C lập biên bản thông báo về bồi thường cho hộ của ông B
và bà P2, có Lê Minh P đại diện hộ ông B ký tên “đồng ý cho chị P2 diện tích
81m
2
đất của ông B để tái định cư. Phần này sẽ trừ vào diện tích giải tỏa của
ông Lê Văn B”.
Tiếp đó ngày 10/8/2007, Phòng Tài chính kế hoạch huyện C lập biên bản
trao đổi với Lê Minh P đại diện hộ Lê Văn B trong đó có nêu rõ ý kiến của ông
P “Yêu cầu được bốc thăm liền kề 4 nền (bốn nền) kể cả của bà Lê Ngọc P2
trong lô IN
1
hoặc IN
2 hoặc
IN
3
”.
Theo đúng nội dung trên ngày 23/8/2007, bà P2 đi nộp tiền hoán đổi đất
cho Ban quản lý các dự án đầu tư huyện C.
Như vậy theo quy định ông Ba chỉ được cấp 03 nền tái định cư, nhưng sau
khi có sự thống nhất cho bà P2 81m
2
thì số nền được tăng lên 04 nền trong đó có
01 nền là của bà P2.
Ngày 15/7/2016 Ủy ban nhân dân thị xã C tiến hành lập biên bản giao nhận
nền tái định cư có số 23 dãy In. Cùng ngày ông B đưa cho bà P2 biên bản giao
nhận nền tái định cư số 23 dãy In để bà P2 đi làm giấy tờ chủ quyền qua tên bà
P2. Cùng ngày 15/7/2016 ông B và B1 tiếp tục làm giấy tay khẳng định cho bà
P2 01 nền tái định cư có số 23 dãy In để xây dựng nhà ở. Sau khi có các giấy tờ
trên, bà P2 đến liên hệ tại Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã C để làm thủ
4
tục nhận quyết định cấp nền tái định cư thì ông P lại nhân danh đại diện hộ ông
B đứng ra ngăn cản không đồng ý cho bà P2 sang tên lô đất tái định cư dẫn đến
hai bên tranh chấp.
Vì vậy, nay bà Lê Ngọc P2 khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận cho bà có
quyền sử dụng phần đất tái định cư nền số 23 dãy In, phường D, thị xã C, tỉnh
Tiền Giang nay thuộc phường C, tỉnh Đồng Tháp theo biên bản số 23/BB-2016
ngày 15/7/2016 của Ban quản lý dự án đầu tư thị xã C về việc giao nhận nền nhà
tại hiện trường khu T (giai đoạn 1,2 mở rộng) – thị xã C.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, trước đây bị đơn ông Lê Văn B trình
bày:
Vợ chồng của ông B có quyền sử dụng khoảng 5.454m
2
đất quả tại đường
B, khu phố A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang nay thuộc phường M, tỉnh
Đồng Tháp. Năm 2007 thì Ủy ban nhân dân huyện C thực hiện chủ trương giải
tỏa đền bù cho gia đình ông B. Từ đó hoán đổi 04 nền liền kề dãy In từ nền 20,
21, 22, 23 ở khu phố A, phường D, thị xã C, tỉnh Tiền Giang, đã được Ủy ban
nhân dân cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông B đứng tên. Từ đó vợ
chồng ông B có thống nhất cho bán 02 nền 21, 22 và tặng cho ông Lê Minh P
nền số 20 và ông P đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với nền
số 20, ông B và bà B1 ở chung với ông P trên nền số 20 này, đây cũng là nơi thờ
cúng ông, bà. Số tiền bán được chia cho con Lê Minh T1, Lê Thị Thu T mỗi
người 300.000.000 đồng, Lê Thị Hồng P1 400.000.000 đồng và Lê Thị Ngọc P2
400.000.000 đồng nhưng bà P2 không nhận mà yêu cầu chia một nền. Đối với
nền 23 thì ông B là người quản lý và đã cho ông Nguyễn Trung T2 thuê làm mặt
bằng thời hạn thuê 03 năm từ ngày 01/6/2019 đến ngày 01/6/2022. Ông Ba K
đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà P2 vì việc hoán đổi 04 nền tái định cư là
cho hộ của ông B. Tại thời điểm nhà nước thu hồi đất năm 2007 gồm có ông B,
bà B1, bà P2 và ông P. Đối với nền số 23, dãy In hiện ông B đứng tên, ông B
đồng ý chia theo hộ cho bà Lê Ngọc P2 là 400.000.000 đồng.
* Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Lê Minh P đồng thời là
người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Lê Văn B có đại diện
theo ủy quyền là ông Nguyễn Văn D trình bày:
Vợ chồng của ông B có quyền sử dụng khoảng 5.454m
2
đất quả tại đường
B, khu phố A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang nay thuộc phường M, tỉnh
Đồng Tháp. Năm 2007 thì Ủy ban nhân dân huyện C thực hiện chủ trương giải
tỏa đền bù cho gia đình ông B. Từ đó hoán đổi 04 nền liền kề dãy In từ nền 20,
21, 22, 23 ở khu phố A, phường D, thị xã C, tỉnh Tiền Giang, đã được Ủy ban
nhân dân cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông B đứng tên. Từ đó vợ
chồng ông B có thống nhất cho bán 02 nền 21, 22 và tặng cho ông Lê Minh P
nền số 20 và ông P đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với nền
số 20, ông B và bà B1 ở chung với ông P trên nền số 20 này, đây cũng là nơi thờ
cúng ông, bà. Số tiền bán được chia cho con Lê Minh T1, Lê Thị Thu T mỗi
người 300.000.000 đồng, Lê Thị Hồng P1 400.000.000 đồng và Lê Thị Ngọc P2
400.000.000 đồng nhưng bà P2 không nhận mà yêu cầu chia một nền. Tại thời
5
điểm nhà nước thu hồi đất năm 2007 gồm có ông B, bà B1, bà P2 và ông P. Đối
với nền số 23, dãy In hiện ông B đứng tên, ông B trước khi mất đã có ý kiến
đồng ý chia theo hộ cho bà Lê Ngọc P2 là 400.000.000 đồng. Ông B đã chết
năm 2021, sau khi ông B chết thì anh P là người đứng ra cho vợ chồng anh
Nguyễn Trung T2 và chị Đỗ Thị Hồng D1 thuê. Nay anh P không đồng ý theo
yêu cầu khởi kiện của bà P2 vì việc hoán đổi 04 nền tái định cư là cho hộ ông B.
Tại thời điểm nhà nước thu hồi đất năm 2007 gồm có ông B, bà B1, bà P2 và
ông P. Đối với nền số 23 dãy In hiện ông B đứng tên, ông B đồng ý chia theo hộ
cho bà P2 là 400.000.000 đồng. Đối với nội dung biên bản về việc thông báo kết
quả bồi thường đối với hộ ông Lê Văn B lập tại Ủy ban nhân dân thị trấn C lập
vào ngày 31/7/2007, ông Lê Minh P trình bày: “Đồng ý cho chị P2 diện tích
81m
2
đất của ông B để tái định cư. Phần này sẽ trừ vào diện tích đất giải tỏa
của ông Lê Văn B” anh P không đồng ý , từ trước đến nay ông B và gia đình
không có thỏa thuận cho đất bà P2. Đến ngày 22/11/2018 Ủy ban nhân dân thị
xã C có giao cho ông B quyết định số 5316 về việc giao đất cho hộ ông Lê Văn
B thửa đất tại khu phố A, phường D, thị xã C đối với nền 23, dãy In. Anh P
không có ý kiến gì về giấy cho nền nhà cho con do phía bà P2 cung cấp có chữ
ký của ông B, anh P cho rằng nếu có giấy cho đất này thì cũng không có giá trị,
anh P không yêu cầu giám định chữ ký của ông B. Tại biên bản v/v trao đổi về
áp giá đền bù hộ ông Lê Văn B cụm dân cư khu 1 (giai đoạn 1 và 2 mở rộng) lập
ngày 10/8/2007, tại Phòng T ông Lê Minh P có ý kiến: “Về bố trí tái định cư:
ông Lê Minh P yêu cầu được bốc thăm liền kề 04 nền (bốn nền) kể cả của bà Lê
Thị Ngọc P2 trong Lô IN
1
hoặc IN
2
hoặc IN
3
”
đối với văn bản này anh P không
có ý kiến gì, yêu cầu Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị B1 đồng thời là người
kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Lê Văn B có đại diện theo ủy
quyền là ông Nguyễn Văn D trình bày:
Bà là vợ của ông Lê Văn B và là mẹ của Lê Thị P2, Lê Minh P. Bà thống
nhất với lời trình bày của ông B. Thời điểm bị giải tỏa trên phần đất có 02 căn
nhà gồm nhà của ông B và bà P2. Đối với nội dung biên bản về việc thông báo
kết quả bồi thường đối với hộ ông Lê Văn B lập tại Ủy ban nhân dân thị trấn C
lập vào ngày 31/7/2007, ông Lê Minh P trình bày: “Đồng ý cho chị P2 diện tích
81m
2
đất của ông B để tái định cư. Phần này sẽ trừ vào diện tích đất giải tỏa
của ông Lê Văn B” bà không đồng ý, trừ trước đến nay ông B và gia đình không
có thỏa thuận cho đất bà P2. Nay bà B1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của
bà P2.
* Trong quá trình giải quyết vụ án người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng
của bị đơn ông Lê Văn B là bà Lê Thị Thu T trình bày:
Bà là con của ông Lê Văn B và bà Trần Thị B1. Cha với mẹ bà có 07 người
con tên Lê Thị Thu T (bà), Lê Thị C1 chết năm 12 tuổi, Lê Thị Kim N chết năm
06 tuổi, Lê Minh T1, Lê Ngọc P2, Lê Minh P, Lê Hồng P1. Nay bà được biết Lê
Ngọc P2 kiện ông Lê Văn B và Lê Minh P để được công nhận quyền sử dụng
nền tái định cư số 23 dãy In tại phường C, tỉnh Đồng Tháp, bà có ý kiến như
6
sau: Năm 2007, ông B được nhà nước thu hồi đất có diện tích khoảng 5.540,5m
2
tại khu A, thị trấn C, trên phần đất này có 02 căn nhà của ông B và bà P2. Nhà
của ông B, bà B1 thì ông B, bà B1 và P ở, nhà bà P2 bà P2 ở. Năm 2007 hộ ông
B có 04 nhân khẩu: Ba, Bé, P2, P. Năm 2007 nhà nước thu hồi toàn bộ diện tích
đất trên xây dựng công trình khu dân cư. Sự việc tiếp theo bà P2 trình bày trong
đơn là đúng. Theo bà được biết, ông B được nhà nước bố trí 03 nền tái định cư,
bà P2 01 nền do ông B đồng ý cho bà P2 81m
2
và phần đất này đã được nhà
nước trừ vào phần đất giải tỏa của ông B. Ông B, bà B1 đã đồng ý cho bà P2 nền
số 23 sau khi P bốc thăm 04 nền liền kề 20, 21, 22, 23 được thể hiện tại giấy cho
nền nhà cho con. Nay với tư cách là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng
của ông Lê Văn B, bà đồng ý cho bà P2 nền số 23 như nguyện vọng của ông B,
bà B1. Theo bà được biết, ông B, bà B1 không có chủ trương bán nền để chia
tiền cho P2 vì nền số 23 là của bà P2.
* Người kế thừa thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Lê Văn B
là ông Lê Minh T1, bà Lê Hồng P1 không có ý kiến.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 07/11/2025, người liên quan anh Nguyễn
Trung T2 trình bày:
Anh có biết ông Lê Văn B, bà Trần Thị B1 và anh Lê Minh P. Anh bắt đầu
thuê nền số 23 dãy In tọa lạc tại khu phố A, phường C, tỉnh Đồng Tháp từ năm
2019, thời hạn thuê là 02 năm. Cứ hết hạn thì lại ký hợp đồng mới liên tục, trả
tiền thuê theo năm, trả trước ngày sau khi ký hợp đồng xong, hợp đồng gần nhất
là 42.000.000 đồng/ năm. Anh đã trả hết tiền thuê năm 2026. Anh ký hợp đồng
thuê với anh P, anh có xem giấy đất do ông B đứng tên. Anh ký hợp đồng thuê
với anh P là do anh P ở chung với ông B. Anh giao tiền thuê đất cho anh P khi
ông B còn sống thì ông B đã lớn tuổi nên anh P đại diện, đến khi ông B mất thì
anh giao tiền trực tiếp cho anh P. Vào năm 2024 khi Tòa án đến phần đất để tiến
hành xem xét, thẩm định, đo đạc và định giá thì anh có mở cửa cho đo đạc và
thẩm định các tài sản trên đất nhưng chưa được thông báo về giá. Anh không
đồng ý với kết quả định giá năm 2024 của Hội đồng định giá. Hiện nay, anh có
xây dựng thêm trên đất nhà vệ sinh, làm nền, lót gạch men. Anh không yêu cầu
Tòa định giá lại tài sản, nếu Tòa xử phần đất thuộc về ai thì anh sẽ tự thương
lượng lại giữa các bên.
* Người liên quan chị Đỗ Thị Hồng D1 không có ý kiến.
* Bản án dân sự sơ thẩm số: 46/2026/DS-ST ngày 23 tháng 02 năm 2026
của Toà án nhân dân Khu vực X - Đồng Tháp đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 147, Điều 157, Điều 165, khoản 1
khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 35 Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ Luật Tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư
pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án
năm 2025; Điều 465 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 106 Luật Đất đai năm
2003; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
7
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Ngọc P2.
Công nhận cho bà Lê Ngọc P2 được quyền sử dụng thửa đất 131, tờ bản đồ
13 - nền 23, dãy I
N
tại khu phố A, phường C, tỉnh Đồng Tháp theo biên bản số
23/BB-2016 ngày 15/7/2016 của Ban quản lý dự án đầu tư thị xã C về việc giao
nhận nền nhà tại hiện trường khu thương mại A (giai đoạn A, 2 mở rộng) – thị
xã C.
Vị trí, diện tích thửa đất thể hiện trên Mảng trích đo địa chính số 58 – 2024,
Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 11/7/2024, bản mô tả
ranh giới mốc giới thửa đất của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã C
nay là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực VII – Đồng Tháp đính
kèm theo bản án.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, bà Lê Ngọc P2 được quyền liên hệ
với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được điều chỉnh biến động hoặc cấp lại
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng
cáo và quyền, nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định pháp luật.
Ngày 03 tháng 3 năm 2026, bị đơn Lê Minh P và người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan Trần Thị B1 kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc
thẩm xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn và người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không
thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến về việc
tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của
người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm
đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn Lê Minh P và người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan Trần Thị B1, Kiểm sát viên nhận định: Ông P và bà B1
kháng cáo nhưng không cung cấp bổ sung tài liệu, chứng cứ mới chứng minh
cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có căn cứ chấp nhận, đề nghị Hội
đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông P và bà B1, giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng
xét xử nhận định:
8
[1] Anh Lê Minh P và bà Trần Thị B1 nộp đơn kháng cáo và thực hiện thủ
tục kháng cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo
trình tự phúc thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Trung T2 và chị Đỗ
Thị Hồng D1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố
tụng của bị đơn ông Lê Văn B là ông Lê Minh T1, bà Lê Hồng P1, bà Lê Thị
Thu T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ
quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa
án xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn Lê Minh P và người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan Trần Thị B1, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Theo Quyết định số 1766/QĐ.UB ngày 06/5/2004 của Chủ tịch Ủy ban
nhân dân tỉnh T về việc duyệt dự án Cụm D - thị trấn C (giai đoạn 2) năm 2006,
hộ ông Lê Văn B bị thu hồi 5.540,5m² đất để thực hiện dự án. Tại Thông báo số
17/TB.HĐ ngày 30/7/2007 của Hội đồng bồi thường và tái định cư huyện C, đối
với hộ ông Lê Văn B được hoán đổi 03 nền nhà tái định cư; đối với bà Lê Ngọc
P2, trường hợp được ông B cho đất thì diện tích đất của bà P2 được trừ vào diện
tích đất bị giải tỏa của ông B và được bố trí 01 nền nhà tái định cư.
Tại Biên bản về việc thông báo kết quả bồi thường đối với hộ ông Lê Văn
B lập ngày 31/7/2007 tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, ông Lê Minh P có ý kiến
đồng ý cho bà Lê Ngọc P2 diện tích 81m² đất của ông B để tái định cư, phần đất
này được trừ vào diện tích đất giải tỏa của ông Lê Văn B. Mặc dù tại thời điểm
này không có tài liệu thể hiện ông B, bà B1 ủy quyền cho ông P thay mặt trình
bày ý kiến, nhưng từ ngày 31/7/2007 cho đến thời điểm ông B được cấp 04 nền
nhà tái định cư, ông B, bà B1 cũng không có ý kiến phản đối.
Tại Tờ trình số 90/TTr-HĐBT ngày 11/9/2007 của Hội đồng bồi thường
huyện C và Văn bản số 839/UBND-NC ngày 19/9/2007 của Ủy ban nhân dân
huyện C, hộ ông Lê Văn B được giải quyết 04 nền nhà tái định cư hoán đổi,
trong đó ông B được 03 nền và bà P2 là con ông B được 01 nền. Bà Lê Ngọc P2
cũng đã nộp số tiền 6.075.000 đồng theo Phiếu thu ngày 23/8/2007, với nội dung
thu tiền nền nhà hoán đổi của bà P2, trừ trên nền đất của ông Lê Văn B.
Sau khi có kết quả bốc thăm giao nền nhà hoán đổi, ngày 15/7/2016 ông Lê
Văn B và bà Trần Thị B1 lập giấy cho nền nhà cho bà Lê Ngọc P2, thể hiện ông
B, bà B1 đồng ý cho bà P2 01 nền nhà để xây dựng nhà ở. Từ các tài liệu nêu
trên có cơ sở xác định việc ông B, bà B1 đồng ý cho bà P2 phần đất để được bố
trí nền tái định cư đã được xác lập từ ngày 31/7/2007; giấy cho nền nhà ngày
15/7/2016 chỉ thể hiện lại ý chí của ông B, bà B1 về việc xác định cụ thể nền
nhà được dành cho bà P2.
Đối với ý kiến của phía ông P cho rằng ông B, bà B1 đã thống nhất bán các
nền số 21, 22 và chia tiền cho các con, trong đó bà P2 đã ký tên trong hợp đồng
chuyển nhượng nên không còn quyền yêu cầu nền số 23, tuy nhiên phía ông P
không cung cấp được chứng cứ chứng minh có thỏa thuận này; bà P2 không
thừa nhận có thỏa thuận khác sau khi được cấp nền. Việc bà P2 ký tên trong hợp
9
đồng chuyển nhượng nền số 21, 22 không đồng nghĩa với việc bà P2 không còn
nhu cầu hoặc từ bỏ quyền đối với nền số 23.
Do đó, có cơ sở xác định ông Lê Văn B và bà Trần Thị B1 đã thống nhất
cho bà Lê Ngọc P2 01 nền nhà tái định cư là nền số 23, dãy IN thuộc thửa đất số
131, tờ bản đồ số 13 tại khu phố A, phường C. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà
Lê Ngọc P2 có căn cứ chấp nhận. Kháng cáo của ông Lê Minh P và bà Trần Thị
B1 yêu cầu không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà P2 là không có cơ sở
chấp nhận.
Đối với căn nhà tiền chế do ông Nguyễn Trung T2 và bà Đỗ Thị Hồng D1
xây dựng trên nền số 23, do ông T2, bà D1 không có yêu cầu độc lập trong vụ án
và có ý kiến nếu Tòa án xử cho ai thắng thì sẽ tự thương lượng với người đó. Do
đó, Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết đối với căn nhà này trong vụ
án là có căn cứ.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy Tòa án cấp
sơ thẩm đã xem xét, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Ngọc P2 là phù hợp. Ông Lê Minh P và bà
Trần Thị B1 kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới làm
thay đổi nội dung vụ án nên không có căn cứ chấp nhận.
Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định công nhận cho bà Lê Ngọc P2
quyền sử dụng đất mà chưa xác định, công nhận hiệu lực của hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất giữa các bên là chưa đầy đủ. Cần xác định và công nhận giao
dịch tặng cho quyền sử dụng đất trước, trên cơ sở đó mới xem xét, công nhận
quyền sử dụng đất cho bà Lê Ngọc P2. Vì vậy, cần sửa bản án sơ thẩm về nội
dung này.
[3] Xét ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp
là có căn cứ, phù hợp một phần nhận định của Hội đồng xét xử.
[4] Về án phí: Do sửa án sơ thẩm nên các đương sự kháng cáo không phải
chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lê Minh P và bà Trần Thị
B1.
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 46/2026/DS-ST ngày 23 tháng 02
năm 2026 của Toà án nhân dân Khu vực X - Đồng Tháp.
Căn cứ vào Điều 465 Bộ luật Dân sự năm 2005;
Căn cứ vào Điều 106 Luật Đất đai năm 2003;
Căn cứ vào Điều 147, Điều 148 và Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
10
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Ngọc P2.
Công nhận Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Lê Văn B, bà
Trần Thị B1 và bà Lê Ngọc P2 đối với thửa đất 131, tờ bản đồ 13 - nền 23, dãy
IN tại khu phố A, phường C, tỉnh Đồng Tháp theo biên bản số 23/BB-2016 ngày
15/7/2016 của Ban quản lý dự án đầu tư thị xã C về việc giao nhận nền nhà tại
hiện trường khu thương mại A (giai đoạn A, 2 mở rộng) – thị xã C có hiệu lực
pháp luật.
Công nhận cho bà Lê Ngọc P2 được quyền sử dụng thửa đất 131, tờ bản đồ
13 - nền 23, dãy IN tại khu phố A, phường C, tỉnh Đồng Tháp theo biên bản số
23/BB-2016 ngày 15/7/2016 của Ban quản lý dự án đầu tư thị xã C về việc giao
nhận nền nhà tại hiện trường khu thương mại A (giai đoạn A, 2 mở rộng) – thị
xã C.
Vị trí, diện tích thửa đất thể hiện trên Mảng trích đo địa chính số 58 – 2024,
Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 11/7/2024, bản mô tả
ranh giới mốc giới thửa đất của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã C
nay là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực VII – Đồng Tháp đính
kèm theo bản án.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, bà Lê Ngọc P2 được quyền liên hệ
với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được điều chỉnh biến động hoặc cấp lại
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
2. Về chi phí tố tụng: Bà Lê Ngọc P2 tự nguyện chịu và đã nộp xong.
3. Về án phí:
3.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Lê Minh P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại bà Lê Ngọc P2 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp
theo biên lai thu số 0002455 ngày 25/6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thị
xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang (nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực X - Đồng
Tháp).
3.2. Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Lê Minh P và bà Trần Thị B1 không phải chịu án phí dân sự phúc
thẩm.
Trả lại ông Lê Minh P 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã
nộp theo biên lai thu số 0003011 ngày 03/3/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh
Đồng Tháp.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
11
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi
hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- TAND KV X - Đồng Tháp;
- Phòng THADS KV X - Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Thanh Phong
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 791/2026/DS-PT Bản án số 791/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 791/2026/DS-PT Bản án số 791/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất