Bản án số 120/2026/HS-PT ngày 11/09/2026 của TAND tỉnh An Giang

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 120/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 120/2026/HS-PT ngày 11/09/2026 của TAND tỉnh An Giang
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh An Giang
Số hiệu: 120/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Bị cáo Ninh Văn T phạm tội Cố ý gây thương tích
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 120/2026/HS-PT Bản án số 120/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 120/2026/HS-PT Bản án số 120/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH AN GIANG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 120/2026/HS-PT
Ngày: 11-9-2026.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Thuấn
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Quang và ông Trần Bình Đảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thanh Huế - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà
Lê Mai Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 179/2026/TLPT-HS ngày 10
tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo Ninh Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với
bản án hình sự sơ thẩm số: 90/2026/HS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 15 – An Giang.
- Bị cáo có kháng cáo: Ninh Văn T, sinh ngày 23/7/1996 tại tỉnh Ninh
Bình; nơi đăng ký thường trú: khóm A, phường A, tỉnh Đồng Tháp; nơi ở hiện
nay: ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa:
09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con
ông Ninh Văn T1 và bà Trần Thị P; bị cáo có 03 anh, chị, em ruột, bị cáo là người
thứ hai; vợ Mai Kim L và có 01 con sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/3/2026 cho đến nay, tại Phân trại tạm
giam A1 (cơ sở 2) hiện đang tạm giam tại thuộc Trại tạm giam số 1 – Công an
tỉnh A
Người bào chữa theo yêu cầu của bị cáo Ninh Văn T: Luật sư Phạm Thái
B – Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A; địa chỉ: tổ D, khóm H, xã A, tỉnh
An Giang. (có mặt)
(Ngoài ra còn có những người tham gia tố tụng khác nhưng không liên
quan đến nội dung kháng cáo của bị cáo nên không triệu tập)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 8 năm 2024, Ninh Văn T cho Phạm Thị L1 vay số tiền
3.000.000 đồng, thanh toán bằng hình thức trả góp hằng ngày, mỗi ngày góp
150.000 đồng trong hạn 24 ngày (gồm tiền gốc và tiền lãi, mức lãi suất
25%/tháng). Do L1 thanh toán không đúng hạn, ngày 26/9/2024, T và P1 (không
rõ họ tên, lai lịch cụ thể) đến nhà L1, khóm L, phường L, tỉnh An Giang để đòi
tiền, xảy ra cự cãi, bị Trần Văn Tuấn A (con ruột Lặc) cầm khúc gỗ, rượt đuổi dọa
đánh T, được can ngăn, T và P1 hẹn Tuấn A đánh nhau tại bến đò Mương Miễu,
khóm L, phường L. Như đã hẹn, Tuấn A đi cùng Lê Văn T2 (em rể Tuấn A) đi
đến gặp và rượt đuổi T và P1 bỏ chạy, không gây thương tích cho nhau. Tức giận,
khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, T sử dụng Messenger của tài khoản Facebook
(không nhớ tên tài khoản) để liên lạc và thuê H (không rõ họ tên, lai lịch cụ thể)
rủ thêm người đi tìm Tuấn A đánh trả thù. Sau khi được thuê, H rủ thêm 03 người
nam (không rõ họ tên, lai lịch), chuẩn bị 02 dao tự chế và 03 ống tuýp sắt tròn, cắt
nhọn 01 đầu, đi đến khu vực bến phà số A (phường T, tỉnh An Giang), gặp T,
nhận số tiền 3.000.000 đồng, cùng đi với T và P1 đến nhà L1 tìm đánh Tuấn A.
Khi đến nơi, một mình T cầm ống tuýp kim loại đi lên trên nhà L1 tìm đánh Tuấn
A; H và những người còn lại đứng dưới sàn nhà, thấy Trần Văn V (em ruột Tuấn
A), bị khuyết tật nặng, đi lại khó khăn, đang đứng phía trước sân nhà, thì 01 người
nam trong nhóm của H (được T thuê), cầm dao xông đến từ phía sau chém V
nhiều nhát trúng vào vùng vai, lưng và tay phải. Lúc này, do không tìm gặp Tuấn
A, T quay trở ra, thấy người bị chém không phải là Tuấn A nên tri hô “không phải
nó”, cả nhóm lên xe bỏ trốn. V được người nhà đưa đến bệnh viện điều trị thương
tích, đến ngày 03/10/2024, V xuất viện, vụ việc được trình báo Công an. Mời làm
việc, T thừa nhận; ống tuýp T sử dụng đã ném bỏ, cơ quan Công an không thu giữ
được. Đối với P1 và nhóm của H, không rõ ở đâu, chưa mời làm việc được.
Căn cứ kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số
801/24/KLTTCT-TTPY ngày 10/12/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh A:
Họ và tên: Trần Văn V, sinh năm 1994, địa chỉ: tổ A, khóm L B, phường
L, tỉnh An Giang.
Các kết quả chính:
+ Sẹo vùng vai phải (09 x 0.5) cm, sẹo lồi, hồng, bờ sắc, tỷ lệ là 02%. Gây
mẻ mỏm cùng vai phải tương ứng với sẹo ngoài, tỷ lệ 02%, tỷ lệ 4%.
+ Sẹo vùng lưng phải (11 x 0.6) cm, sẹo lồi, hồng, bờ sắc, tỷ lệ 03%.
+ 03 sẹo lưng trái, sẹo lồi, hồng, bờ sắc: Vết 01: nằm xiên (04 x 0.2) cm, tỷ
3
lệ 01%; Vết 02: nằm ngang (8.5 x 0.6) cm, tỷ lệ 03%; Vết 03: nằm xiên (02 x 0.2)
cm, tỷ lệ 01%;
+ Sẹo thắt lưng trái, nằm xiên (4.5 x 0.3) cm, sẹo lồi, hồng, bờ sắc, tỷ lệ
02%;
+ 02 sẹo mặt ngoài 1/3 trên cánh tay phải, sẹo lồi, hồng, bờ sắc: Vết 01:
nằm xiên (2.5 x 0.4) cm, tỷ lệ là 01%; Vết 02: nằm ngang (09 x 0.4) cm, tỷ lệ
02%.
+ Sẹo mặt sau 1/3 dưới cánh tay phải, nằm xiên (4.3 x 0.5) cm, sẹo lồi,
hồng, bờ sắc, tỷ lệ 02%.
+ Sẹo mặt lòng bàn tay phải từ mô cái đến kẻ ngón III - IV bàn tay phải (11
x 0.2) cm, sẹo lồi, hồng, bờ sắc, tỷ lệ 02%. Gây: Đứt nhánh thần kinh giữa, đã
phẫu thuật khâu nối thần kinh, tỷ lệ 11%; Đứt nhánh thần kinh quay, đã phẫu thuật
khâu nối thần kinh, tỷ lệ 11%; Đứt gân gấp nông sâu ngón III bàn tay phải, đã
phẫu thuật khâu nối gân. Hiện tại gây cứng một khớp liên đốt ngón III bàn tay
phải, tỷ lệ 02 %; Đứt gân gấp nông sâu ngón IV bàn tay phải, đã phẫu thuật khâu
nối gân gấp. Hiện tại gây cứng một khớp liên đốt ngón IV bàn tay phải, tỷ lệ 02
%;
+ Sẹo mổ đứng dọc mặt lòng bàn tay phải ngón III (4.5 x 0.1) cm, tỷ lệ 01
%. Tỷ lệ là 26%.
Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên của Trần
Văn V (áp dụng phương pháp cộng theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày
28/8/2019 của Bộ Y) là 39%. Tất cả thương tích trên do vật sắc gây nên. (Bút lục
số: 153 - 157).
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Thu giữ 01 (một)
khúc gỗ tròn, dài 36 cm, rộng 02 cm, đã qua sử dụng, do Trần Văn Tuấn A sử
dụng khi xảy ra cự cãi với T tại nhà của bà L1, chuyển Cơ quan thi hành án dân
sự khu vực 15 – An Giang theo quy định.
Phần dân sự: Gia đình bị hại Trần Văn V đã nhận tiền bồi thường
200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng, có đơn yêu cầu không xử lý hình sự đối với T
và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Ninh Văn T khai nhận có thực hiện hành vi
đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo không tranh
luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 90/2026/HS-ST, ngày 30 tháng 6 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 15 - An Giang đã quyết định:
4
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự
Tuyên bố bị cáo Ninh Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Ninh Văn T 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây
thương tích”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày
07/3/2026).
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng,
án phí và báo quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 02/7/2026, bị cáo Ninh Văn T có đơn kháng cáo với nội dung xin
giảm nhẹ hình phạt xin được giảm nhẹ hình phạt tù.
Ngày 01 tháng 7 năm 2026, ông Trần Văn P2 là cha bị hại Trần Văn V có
đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Ninh Văn T.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo
là đúng tội và giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét
nội dung kháng cáo của bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang giữ quyn công tố tại
phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:
- Về tính hợp pháp của kháng cáo: Bị cáo Ninh Văn T kháng cáo trong hạn
luật định do đó đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận để xem xét, giải
quyết kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
- Về hành vi phạm tội của bị cáo: Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý
gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 07
năm 06 tháng tù là có căn cứ đúng quy định của pháp luật. Cấp sơ thẩm đã đánh
giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng đầy đủ các tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo với mức án là phù hợp tương
xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa bị cáo kháng cáo có thêm tình
tiết giảm nhẹ mới đó là có xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân bị cáo
là lao động chính trong gia đình, cha của bị hại Trần Văn V là ông Trần Văn P2
tiếp tục có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, có cậu ruột là Liệt sĩ, bản thân bị cáo đã
hoàn thành nghĩa vụ quân sự năm 2017 là có căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị
cáo.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm
b khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo,
sửa nội dung bản án sơ thẩm về phần hình phạt. Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134;
điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự
5
xử phạt bị cáo Ninh Văn T từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù về tội “Cố ý gây
thương tích”. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Người bào chữa theo yêu cầu của bị cáo Ninh Văn T là Luật sư Phạm Thái
B phát biểu quan điểm: Thống nhất về tội danh của bị cáo là đúng người, đúng
tội, đúng pháp luật; bị cáo có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải,
tác động gia đình khắc phục hậu quả cho bị hại, có đơn xác nhận hoàn cảnh gia
đình khó khăn, bị cáo làm việc thiện nguyện tại địa phương có xác nhận của địa
phương, cậu ruột bị cáo là Liệt sĩ, bản thân bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân
sự, ông Trần Văn P2 là cha của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt sau khi xét
xử sơ thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo 06
tháng tù để tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về với gia đình.
Bị cáo thống nhất với quan điểm bào chữa của Luật sư, không có ý kiến gì
thêm.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ăn năn hối cải xin Hội đồng xét xử
xem xét cho bị cáo giảm nhẹ hình phạt sớm trở về chăm sóc gia đình nuôi con
nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo:
Xét đơn kháng cáo của bị cáo về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng
cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được
Hội đồng xét xử xem xét và giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về quyết định của Bản án sơ thẩm:
Quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, bị cáo Ninh Văn T đã khai
nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt
nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa
là phù hợp, phù hợp với lời khai của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan; người làm chứng cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ
khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ
cơ sở kết luận:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 26/9/2024, do tức giận vì bị bên vay tiền rượt
đánh, Ninh Văn T đã thuê nhóm người, cùng T mang theo ống tuýp kim loại và
dao là hung khí nguy hiểm, đến nhà tại khóm L, phường L, tỉnh An Giang tìm
6
đánh, chém Trần Văn Tuấn A, không gặp Tuấn A, người được T thuê dùng dao
chém Trần Văn V (em ruột Tuấn A) là người khuyết tật nặng, không có khả năng
tự vệ, gây thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 39%. Vì vậy, T phải chịu trách
nhiệm hình sự về hành vi phạm tội đã gây ra.
Với hành vi nêu trên, Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây
thương tích” theo c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 07 năm 06 tháng tù là có căn
cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về yêu cầu kháng cáo của bị cáo:
Sau khi xét xử sơ thẩm xong, bị cáo có đơn kháng cáo với nội dung xin
được giảm nhẹ hình phạt. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là người có đầy đủ
năng nhận thức được hành vi phạm tội của mình là rất nguy hiểm cho xã hội, đã
trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật, làm ảnh
hưởng an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Vì mâu thuẫn ban đầu do Trần Văn
Tuấn A (anh ruột của bị hại) cầm khúc gỗ, rượt đuổi dọa đánh bị cáo và P1 do đến
nhà bà L1 (mẹ ruột bị hại và Tuấn A) đòi tiền. Sau đó bị cáo và Phú hẹn Tuấn A
đánh nhau tại bến đò Mương Miễu; bị cáo thuê H (không rõ họ tên, lai lịch cụ thể)
với giá 3.000.000 đồng và H rủ thêm 03 người mang theo ống tuýp kim loại và
dao là hung khí nguy hiểm đi tìm nhóm Tuấn A. Khi đến nhà thấy Trần Văn V
(em ruột Tuấn A) thì người nam trong nhóm của H cầm dao xông đến từ phía sau
chém V nhiều nhát trúng vào vùng vai, lưng và tay phải. Bị cáo nhận thấy người
bị chém không phải là Tuấn A nên tri hô cả nhóm và bỏ chạy.
Xét đơn kháng cáo của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ
thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng
đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo mức án 07 (bảy)
năm 06 (sáu) tháng tù là có căn cứ đúng quy định của pháp luật. Mặc dù không là
người trực tiếp gây thương tích cho bị hại nhưng bản thân bị cáo là người thuê
nhóm của H với giá 3.000.000 đồng cùng đi kiếm nhóm Tuấn A để giải quyết mâu
thuẫn do đó bị cáo là chủ mưu trong vụ án vì vậy cần áp dụng mức hình phạt tù
đối với bị cáo nhằm đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung
trong xã hội nhằm đảm bảo mục đích cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt.
Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo kháng cáo có cung cấp
được thêm tài liệu, chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo đó là: hoàn
cảnh gia đình khó khăn; gia đình có công với Cách mạng, bị cáo đã hoàn thành
nghĩa vụ quân sự, tham gia công tác thiện nguyện đóng góp ở địa phương, cha của
bị hại tiếp tục tha thiết xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
7
Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo; sửa
một phần bản án sơ thẩm về hình phạt.
[4] Về quan điểm của Kiểm sát viên: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng
điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm b khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa một phần bản án sơ thẩm về hình phạt là phù
hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về quan điểm bào chữa của Luật sư: Đề nghị Hội đồng xét xử xem
xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo 06 tháng tù là phù hợp nên Hội đồng xét xử
chấp nhận.
[6] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận vì vậy không phải chịu 200.000 đồng án
phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử
không xem xét.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số:
90/2026/HS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 15 – An
Giang về hình phạt.
2. Áp dụng: điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều
51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự,
Xử phạt bị cáo Ninh Văn T 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây
thương tích”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày
07/3/2026).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Ninh Văn T không phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc
thẩm.
4. Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 90/2026/HS-ST ngày 30
tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 15 – An Giang không có kháng
8
cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Vụ giám đốc kiểm tra 1 (1); THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VCTVKS phúc thẩm tại Tp. HCM (1);
- Tòa phúc thẩm -TANDTC tại Tp . HCM (1);
- VKSND tỉnh An Giang (1);
- Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh An Giang (1);
- Bị cáo (1);
- Cơ quan điều tra khu vực (1);
- Tòa án nhân dân khu vực 15 – An Giang (1); Phan Văn Thuấn
- VKS nhân dân khu vực 15 – An Giang (1);
- Phòng THA DS khu vực 15 – An Giang (1);
- Lưu hồ sơ (1);
- Lưu tòa hình sự (5).
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 120/2026/HS-PT Bản án số 120/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 120/2026/HS-PT Bản án số 120/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất