Bản án số 428/2026/DS-PT ngày 10/09/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 428/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 428/2026/DS-PT ngày 10/09/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 428/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 428/2026/DS-PT Bản án số 428/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 428/2026/DS-PT Bản án số 428/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 428/2026/DS-PT
Ngày 10 - 9 - 2026.
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung.
Các Thẩm phán: Ông Bùi Quốc Hà;
Bà Đặng Thị Thu Hằng.
- Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Cao Huế - Thẩm tra viên TAND tỉnh Đắk
Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: bà
Nguyễn Thị Mai Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 182/2026/TLPT-DS ngày 15/7/2026 về
việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 98/2026/DS-
ST ngày 27/5/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk bị kháng cáo. Theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 382/2026/QĐXX-PT ngày 04/8/2026 và Quyết
định hoãn phiên toà số 413/2026/QĐ-PT ngày 20/8/2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Huyền T, sinh năm 1992; địa chỉ: Tổ dân phố
B, phường T, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Bùi Phúc T1,
sinh năm 1979; địa chỉ: Số C đường F, phường C, thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
2. Bị đơn có yêu cầu phản tố: Bà Lê Thị Thanh T2, sinh năm 1972, ông Nguyễn
V, sinh năm 1970; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường T, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn V: Bà Lê Thị Thanh T2,
sinh năm 1972; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường T, tỉnh Đắk Lắk; (Văn bản ủy quyền
ngày 09/3/2026), vắng mặt.
3. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Huyền T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*/ Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn trình bày có nội dung:
2
Vào ngày 15/03/2025, vợ chồng ông Nguyễn V và bà Lê Thị Thanh T2 đã ký
kết Giấy mượn tiền, mượn của bà Nguyễn Thị Huyền T số tiền là 630.000.000 đồng
(Sáu trăm ba mươi triệu đồng) với mục đích là để vợ chồng ông Nguyễn V và bà Lê
Thị Thanh T2 thực hiện đáo hạn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (S1).
Ngày 09/6/2025, vợ chồng ông Nguyễn V và bà Lê Thị Thanh T2 ký kết Giấy
vay tiền, vay của bà Nguyễn Thị Huyền T số tiền là 1.360.000.000 đồng (Một tỷ ba
trăm sáu mươi triệu đồng) với mục đích thực hiện đáo hạn tại Ngân hàng Thương
mại Cổ phần S (S1), hẹn sẽ trả lại tiền cho bà Nguyễn Thị Huyền T sau 03 ngày kể
từ ngày vay.
Ngày 11/6/2025, vợ chồng ông Nguyễn V và bà Lê Thị Thanh T2 ký kết Giấy
vay tiền, vay của bà Nguyễn Thị Huyền T số tiền là 550.000.000 đồng (Năm trăm
năm mươi triệu đồng) với mục đích thực hiện đáo hạn tại Ngân hàng Thương mại
Cổ phần S (S1), hẹn sẽ trả lại tiền cho bà Nguyễn Thị Huyền T sau 03 ngày kể từ
ngày vay.
Như vậy, tổng số tiền mà bà Lê Thị Thanh T2 đã mượn của bà Nguyễn Thị
Huyền T là 2.540.000.000 đồng (Hai tỷ năm trăm bốn mươi triệu đồng). Bà Lê Thị
Thanh T2 đã thanh toán cho bà T được một phần của khoản vay trên. Ngày
06/11/2025, bà T và bà Lê Thị Thanh T2 đã cùng nhau thống nhất số tiền mà bà T2
còn nợ bà T là 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng). Bà T và bà Lê Thị Thanh T2 đã
ký kết Hợp đồng mua bán đất. Theo đó, bà Lê Thị Thanh T2 đã đồng ý chuyển
nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất có địa chỉ tại: thôn G, xã H, thành phố
B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk), có diện tích là 1060m
2
, với giá là
5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng). Số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) mà
bà Lê Thị Thanh T2 còn nợ bà T được chuyển thành tiền cọc đất. Bà T và bà Lê Thị
Thanh T2 thoả thuận trong vòng 30 ngày, nếu bà T2 trả lại cho bà T khoản tiền nợ
còn lại thì bà T sẽ không mua đất nữa. Tuy nhiên, đã quá thời hạn 30 ngày kể từ
ngày thoả thuận, bà Lê Thị Thanh T2 và ông Nguyễn V vẫn không trả lại số tiền
1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) cho bà Nguyễn Thị Huyền T như đã cam kết. Bà
Nguyễn Thị Huyền T nhiều lần đòi tiền nhưng ông Nguyễn V và bà Lê Thị Thanh
T2 đã khất nợ và không chịu trả tiền cho bà Nguyễn Thị Huyền T, cũng như không
thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà T. Ngày 27/12/2025 bà
T2 có trả cho bà T số tiền 10.000.000 đồng.
Như vậy, bà Nguyễn Thị Huyền T khởi kiện ông Nguyễn V và bà Lê Thị Thanh
T2, đề nghị Toà án xem xét, giải quyết:
- Buộc ông Nguyễn V và bà Lê Thị Thanh T2 trả cho bà Nguyễn Thị Huyền T
số tiền nợ gốc còn lại là: 990.000.000 đồng (Chín trăm chín mươi triệu đồng).
- Buộc ông Nguyễn V và bà Lê Thị Thanh T2 trả cho bà Nguyễn Thị Huyền T
tiền lãi chậm thanh toán đối với khoản nợ gốc 990.000.000 đồng, tạm tính từ ngày
3
27/12/2025 đến ngày 27/5/2026 với mức lãi suất 150% của 10%/năm với số tiền
69.885.585 đồng.
Tổng số tiền nợ là: 1.059.885.585 đồng.
Đối với số tiền 360.000.000 đồng theo đơn khởi kiện bà T cho rằng bà T2
thanh toán ngày 12/6/2025 (có viết giấy) là khoản tiền bà T2 thanh toán, tuy nhiên
tại phiên tòa, nguyên đơn xác định số tiền này chưa được thanh toán cho bà T.
Đối với các khoản tiền mà bà T2 cung cấp chuyển khoản vào số tài khoản
093354464 của bà T (bà T thừa nhận có nhận chuyển khoản số tiền này), tổng số
tiền mà bà T2 chuyển khoản là bà T2 thanh toán cho bà T cho cả 03 khoản vay nêu
trên.
Phía nguyên đơn cũng xác nhận khoản vay ngày 550.000.000 đồng ngày
11/6/2025 đã được thanh toán ngày 12/6/2025 (thừa nhận chữ ký của bà T), và khoản
vay ngày 15/3/2025 với số tiền 630.000.000 đồng đã được thanh toán vào ngày
19/3/2025 (thừa nhận chữ ký của bà T).
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện của nguyên đơn xác định khoản tiền nhận
qua hình thức chuyển khoản bao gồm cả gốc và lãi.
* Bị đơn bà Lê Thị Thanh T2 đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bị
đơn ông Nguyễn V trình bày có nội dung:
Do mối quan hệ quen biết nên tôi và chồng tôi có vay của bà Nguyễn Thị Huyền
T số tiền 1.360.000.000 đồng vào ngày 09/6/2025. Khi viết giấy vay tiền có viết giấy
vay, mục đích vay là để đáo hạn ngân hàng, thời hạn vay 03 ngày kể từ ngày viết
giấy, không thỏa thuận lãi suất. Sau khi vay vợ chồng tôi đã thanh toán các khoản
tiền như sau:
- Trả tiền mặt với số tiền 360.000.000 đồng vào ngày 12/6/2025.
- Các lần thanh toán qua số tài khoản 093354464 của bà T như sau: Ngày
10/6/2025 số tiền 10.000.000 đồng, ngày 12/6/2025 với số tiền 470.620.000 đồng
và 450.000.000 đồng, Ngày 17/6/2025 số tiền 15.000.000 đồng, Ngày 21/6/2025 số
tiền 100.000.000 đồng, Ngày 24/6/2025 số tiền 15.000.000 đồng, Ngày 08/7/2025
số tiền 50.000.000 đồng, Ngày 09/7/2025 số tiền 50.000.000 đồng, Ngày 22/7/2025
số tiền 50.000.000 đồng, Ngày 25/7/2025 số tiền 10.000.000 đồng, Ngày 08/8/2025
số tiền 1.200.000 đồng, Ngày 16/8/2025 số tiền 7.000.000 đồng, Ngày 27/12/2025
số tiền 10.000.000 đồng. Tổng số tiền đã thanh toán là 1.238.820.000 đồng bằng
hình thức chuyển khoản (không xác định rõ thanh toán nợ gốc và nợ lãi).
Ngoài khoản tiền vay ngày 09/6/2025 vợ chồng tôi còn vay của bà T 02 khoản
vay khác ngày 15/3/2025 với số tiền 630.000.000 đồng (đã thanh toán xong ngày
19/3/2025) và khoản vay ngày 11/6/2025 vay số tiền 550.000.000 đồng (đã thanh
toán xong ngày 12/6/2025), có xác nhận chữ ký của bà T. Hai khoản vay trên tôi đã
thanh toán xong và bà T đã viết giấy nhận tiền không còn nợ khoản nào.
4
Đối với tổng số tiền 1.238.820.000 đồng tôi thanh toán là cho khoản vay ngày
09/6/2025 trừ đi số tiền bà T khởi kiện tôi là 1.012.450.000 đồng. Như vậy, bà T còn
nợ lại tôi 226.370.000 đồng. Tôi đề nghị bà T thanh toán lại số tiền này cho tôi.
Tôi đề nghị Tòa án xem xét khấu trừ vào khoản tiền mà nguyên đơn khởi kiện.
Đối với giấy ghi nội dung tôi đồng ý chuyển nhượng thửa đất diện tích 1060m
2
và đặt cọc trước 1.000.000.000 đồng (số tiền của khoản vay ngày 09/6/2025) được
tôi viết vào ngày 06/11/2025. Nội dung của giấy này thể hiện vợ chồng tôi còn nợ
số tiền 1.000.000.000 đồng và đồng ý bán đất để trừ nợ. Nhưng nay bà T không tiếp
tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất và khởi kiện yêu cầu vợ chồng tôi thanh
toán khoản nợ ngày 09/6/2025 tôi đề nghị xác định lại cụ thể khoản tiền tôi còn nợ
bà T và khấu trừ vào số tiền tôi còn nợ bà T.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 98/2026/DS-ST ngày 27/5/2026 của Toà án
nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk đã quyết định:
- Căn c vào Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 266,
Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cĐiều 122, Điều 466, Điều 468
Bộ luật dân sự; căn c khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mc thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản l và s dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên x: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Huyền T.
Buộc bà Lê Thị Thanh T2 và ông Nguyễn V có nghĩa vụ thanh toán cho bà
Nguyễn Thị Huyền T tổng số tiền 324.145.833 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với
khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải
thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mc lãi
suất tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Huyền T về
việc buộc ông Nguyễn V, bà Lê Thị Thanh T2 có nghĩa vụ thanh toán số tiền
735.739.752 đồng.
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Lê Thị Thanh T2 về việc buộc bà
Nguyễn Thị Huyền T có nghĩa vụ thanh toán số tiền 226.370.000 đồng.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo cho các
đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 09/6/2026, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Huyền T kháng cáo một phần bản
án, đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và nội
dung đơn kháng cáo.
5
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa trình bày
kiến: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán cũng như tại phiên
tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự đã tuân thủ đúng các quy
định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã
được thu thập trong hồ sơ vụ án, xét thấy đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn
Thị Huyền T là có căn cứ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308,
Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà
Nguyễn Thị Huyền T, sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn về số nợ gốc 990.000.000 đồng và lãi suất theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết
quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng
cứ, lời trình bày của đương sự và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận
định như sau:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Huyền T trong hạn luật định
và bà đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, nên kháng cáo hợp lệ. Do đó, vụ án
được giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[1.2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, bị đơn bà Lê Thị Thanh T2
vắng mặt và có đơn xin hoãn phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy, bị đơn bà Lê Thị
Thanh T2 không kháng cáo, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng
mặt nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định khoản 3 Điều 296 của Bộ
luật Tố tụng dân sự.
[2]. Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Huyền T, thấy rằng:
[2.1]. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa các bên đều thống nhất bà T
cho vợ chồng bà T2 và ông V vay tiền tổng cộng là 03 lần cụ thể ngày 15/3/2025
vay 630.000.000 đồng, ngày 09/6/2025 vay 1.360.000.000 đồng và ngày 11/6/2025.
Ngoài 03 khoản vay trên bà T2, ông V không còn vay của bà T khoản nào khác.
[2.2]. Về quá trình trả nợ: Đối với khoản vay 630.000.000 đồng ngày
15/3/2025, nguyên đơn và bị đơn đều xác nhận bà T2 đã thanh toán xong khoản tiền
này vào ngày 19/3/2025 (Bút lục 69). Do đó, đối với với những khoản tiền đã chuyển
trả sau ngày 09/6/2025 được coi như để trả nợ cho 02 khoản vay ngày 09/6/2025 và
ngày 11/6/2025. Tổng số tiền của 02 khoản vay là 550.000.000 đồng +
1.360.000.000 đồng = 1.910.000.000 đồng. Trong đó, khoản vay 550.000.000 đồng
đã được nguyên đơn xác nhận đã nhận đủ ngày 12/6/2025 (bút lục 70).
Theo công văn số 55/OCB-PGDBMT ngày 07/4/2026 của Ngân hàng TMCP
P thể hiện, từ ngày 10/6/2025 đến ngày 16/8/2025, bà T2 đã chuyển khoản cho bà T
tổng cộng 12 lần với tổng số tiền 1.228.820.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng
6
do các bên không thỏa thuận trả nợ gốc hay nợ lãi nên cho rằng đây là khoản tiền bà
T2 chuyển trả nợ gốc cho bà T là chưa hợp lý, bởi lẽ: Mặc dù các giấy vay tiền không
thể hiện có lãi nhưng theo các nội dung trao đổi giữa bà T và bà T2 (từ bút lục 140-
146) có thể hiện bà T2 có nhắn nội dung cam kết trả tiền gốc và lãi cho bà T, nên có
căn cứ xác định hai bên có thỏa thuận vay có lãi, phù hợp với các giao dịch vay tiền
thông thường. Do đó các khoản tiền được bà T2 chuyển khoản cho bà T trước ngày
06/11/2025 là để trả tiền gốc và lãi.
Tại giấy do bị đơn bà T2 viết có nội dung đặt cọc mua đất được nguyên đơn bà
T cung cấp (bút lục 121) có nội dung: “… và số tiền tôi đã mượn đáo hạn một tỷ,
hôm 9/6/2025 nay đã chuyển qua tiền cọc mua đất”. Bà T2 thừa nhận có viết nội
dung này và xác nhận thời điểm viết giấy trên là vào ngày 06/11/2025. Như vậy, có
căn cứ xác định tính đến thời điểm ngày 06/11/2025, bà T2 thừa nhận vẫn còn nợ bà
T số tiền 01 tỷ đồng theo giấy nợ ngày 09/6/2025, phù hợp với nội dung tin nhắn đòi
tiền từ ngày 05/12/2025 đến ngày 13/12/2025 giữa bà T và bà T2 (từ bút lục 140-
146). Đối với ý kiến của bà T2 cho rằng do hai bên chưa tính toán lại số nợ nên bà
ghi theo ý kiến của bà T là không có căn cứ. Ngày 27/12/2025, bà T2 chuyển khoản
trả cho bà T số tiền 10.000.000 đồng. Do đó, số tiền gốc bà T2 còn nợ bà T là
990.000.000 đồng.
[2.3]. Đối với số tiền 360.000.000 đồng, bị đơn bà T2 cho rằng đã trả cho bà T
bằng tiền mặt theo giấy đề ngày 12/6/2025 dương lịch, thấy rằng: Quá trình khởi
kiện, nguyên đơn bà T có cung cấp bản phô tô tài liệu trên kèm theo đơn khởi kiện
(bút lục số 12) và tại buổi hòa giải ngày 13/4/2026 (bút lục 102), người đại diện theo
ủy quyền của nguyên đơn xác nhận có nhận khoản tiền trên vào ngày 12/6/2025 là
khoản tiền bà T2 thanh toán cho khoản vay ngày 09/6/2025. Như vậy số tiền vay
theo giấy đề ngày 09/6/2025 còn lại 01 tỷ đồng. Điều này hoàn toàn phù hợp với
chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp là giấy do bị đơn bà T2 viết có nội dung đặt cọc
mua đất được nguyên đơn bà T cung cấp (bút lục 121). Do đó, ý kiến thay đổi của
người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tại phiên tòa sơ thẩm cho rằng do
nhầm lẫn chứ thực tế bà T không nhận được số tiền 360.000.000 đồng là có sự mâu
thuẫn giữa lời trình bày và chứng cứ do nguyên đơn cung cấp nên không có cơ sở
chấp nhận. Tuy nhiên, khoản tiền này được trả trước thời điểm các bên viết giấy
ngày 06/11/2025 nên không được trừ vào khoản nợ gốc 990.000.000 đồng.
[2.4]. Về số tiền lãi: Mặc dù trong giấy vay tiền các bên không thỏa thuận lãi
suất chỉ thỏa thuận thời hạn trả nợ nhưng có căn cứ xác định các bên có thỏa thuận
về lãi nhưng không xác định mức lãi suất, nguyên đơn chỉ yêu cầu tính tiền lãi chậm
trả trên nợ gốc từ ngày 27/12/2025 là kể từ ngày thanh toán nợ gốc cuối cùng cho
đến thời điểm xét xử sơ thâm là tự nguyện của nguyên đơn nên chấp nhận.
Về mức lãi suất các bên không thỏa thuận mức lãi suất và có tranh chấp về lãi
suất nên áp dụng khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự để tính mức lãi suất 10%/năm.
7
Lãi suất chậm trả là 150% mức lãi suất 10%/năm. Cụ thể: 990.000.000 đồng x 150%
x 10%/năm x 05 tháng = 61.785.000 đồng.
Tổng cộng nợ gốc và lãi bà T2, ông V có nghĩa vụ phải trả cho bà T là
1.051.875.000 đồng (Một tỷ, không trăm năm mươi mốt triệu, tám trăm bảy mươi
lăm nghìn đồng).
[3]. Từ những phân tích và nhận định trên, xét thấy nội dung kháng cáo của
nguyên đơn bà Nguyễn Thị Huyền T là có cơ sở để chấp nhận, nên sửa Bản án dân
sự sơ thẩm số 98/2026/DS-ST ngày 27/5/2026 của Toà án nhân dân khu vực 1 - tỉnh
Đắk Lắk.
[4]. Về án phí:
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên án phí được tính lại như
sau:
Bà Nguyễn Thị Huyền T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại
số tiền 27.924.000 đồng (hai mươi bảy triệu, chín trăm hai mươi bốn nghìn đồng)
tạm ứng án phí đã nộp (do bà Nguyễn Thị Ngọc T3 nộp thay) theo biên lai thu tạm
ứng án, phí lệ phí Tòa án số 0001013 ngày 26/01/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh
Đắk Lắk.
Bị đơn bà Lê Thị Thanh T2 và ông Nguyễn V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm
là 36.000.000 đồng + 3%(1.051.875.000 đồng - 800.000.000 đồng) = 43.556.250
đồng và án phí đối với yêu cầu phản tố không được chấp nhận là 226.370.000 đồng
x 5% = 11.318.500 đồng. Tổng cộng là 54.874.750 đồng (năm mươi bốn triệu, tám
trăm bảy mươi bốn nghìn, bảy trăm năm mươi đồng), được khấu trừ vào khoản tiền
tạm ứng án phí đã nộp là 5.659.000 đồng (năm triệu, sáu trăm năm mươi chín nghìn
đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003379 ngày 31/3/2026 tại
Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk. Bà Lê Thị Thanh T2 và ông Nguyễn V còn phải
nộp 49.215.750 đồng (bốn mươi chín triệu, hai trăm mười lăm nghìn, bảy trăm năm
mươi đồng).
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên người kháng
cáo nguyên đơn bà Nguyễn Thị Huyền T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[5]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
nên Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời
hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ
Điều 122, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự; Điều 26; Điều 29 của Nghị quyết số
8
326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Huyền T. Sửa một phần
Bản án dân sự sơ thẩm số 98/2026/DS-ST ngày 27/5/2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 1 - Đắk Lắk.
Tuyên x:
[1.1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Huyền T.
Buộc bà Lê Thị Thanh T2 và ông Nguyễn V có nghĩa vụ thanh toán cho bà
Nguyễn Thị Huyền T tổng số tiền 1.051.875.000 đồng (Một tỷ, không trăm năm
mươi mốt triệu, tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét x sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên
phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
mc lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật,
nếu không có thỏa thuận về mc lãi suất thì quyết định theo mc lãi suất quy định
quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[1.2]. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Lê Thị Thanh T2 về việc buộc
bà Nguyễn Thị Huyền T có nghĩa vụ thanh toán số tiền 226.370.000 đồng. (Hai trăm
hai mươi sáu triệu, ba trăm bảy mươi nghìn đồng).
[2]. Về án phí:
[2.1]. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Huyền T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại
số tiền 27.924.000 đồng (hai mươi bảy triệu, chín trăm hai mươi bốn nghìn đồng)
tạm ứng án phí đã nộp (do bà Nguyễn Thị Ngọc T3 nộp thay) theo biên lai thu tạm
ứng án, phí lệ phí Tòa án số 0001013 ngày 26/01/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh
Đắk Lắk.
Bị đơn bà Lê Thị Thanh T2 và ông Nguyễn V phải chịu 54.874.750 đồng (năm
mươi bốn triệu, tám trăm bảy mươi bốn nghìn, bảy trăm năm mươi đồng), án phí
dân sự sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.659.000 đồng (năm
triệu, sáu trăm năm mươi chín nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí
Tòa án số 0003379 ngày 31/3/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk. Bà Lê Thị
Thanh T2 và ông Nguyễn V còn phải nộp 49.215.750 đồng (bốn mươi chín triệu,
hai trăm mười lăm nghìn, bảy trăm năm mươi đồng).
[2.2]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Huyền T không phải chịu
án phí dân sự phúc thẩm được nhận lại số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng)
tạm ứng án phí do Nguyễn Thị Ngọc T3 nộp thay theo biên lai thu tạm ứng án, phí
lệ phí Tòa án số 0006901 ngày 15/6/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
9
[3]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 36 của Luật Thi
hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật
Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 1 – Đắk Lắk;
- Phòng THADS khu vực A – Đắk Lắk;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
(Đã ký)
Nguyễn Thị Nhung
THÀNH VIÊN
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Nguyễn Thị Nhung Nguyễn Thị Thu Trang
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 428/2026/DS-PT Bản án số 428/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 428/2026/DS-PT Bản án số 428/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất