Bản án số 119/2023/DS-PT ngày 18/04/2023 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 119/2023/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 119/2023/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 119/2023/DS-PT ngày 18/04/2023 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Cà Mau |
| Số hiệu: | 119/2023/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 18/04/2023 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Ông T yêu cầu Toà án buộc ông Lê Văn Tr và bà Nguyễn Thị C có trách nhiệm liên đới trả cho ông T số tiền 200.000.000 đồng (tiền thuê đất) và 07 (bảy) chỉ vàng 24k. Buộc ông Lê Văn Tr trả lại cho ông Lê Tấn T số tiền đo đạc 5.727.000 đồng. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 119/2023/DS-PT
Ngày 18 – 4 – 2023
V/v tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử
dụng đất, hợp đồng vay tài sản, đòi lại
tài sản, đòi lại giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lập
Các Thẩm phán: Ông Đỗ Cao Khánh
Bà Đinh Cẩm Đào
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Như Nguyện - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà
Lê Thị Màu – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 28 tháng 3 và 18 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân
dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:
186/2022/TLPT-DS ngày 10 tháng 8 năm 2022 về việc: “Tranh chấp hợp đồng
thuê quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản, đòi lại tài sản, đòi lại giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 143/2022/DS-ST ngày 23 tháng 6 năm 2022
của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 165/2022/QĐ-PT ngày
25 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Tấn T1, sinh năm 1970 (Có mặt);
Địa chỉ cư trú: Phường C, quận Ô, thành phố C.
- Bị đơn: Ông Lê Văn T2, sinh năm 1957 (Vắng mặt);
Người đại diện hợp pháp theo uỷ quyền của ông T2: Bà Lê Hồng S, sinh
năm 1957;
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp T, xã L, huyện T, tỉnh C . (Có mặt);
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp Lê Văn T2: Ông Ngô Đình Chiến,
là Luật sư của Văn phòng Luật sư Ngô Đình C1 - thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Cà Mau
(Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
1. Bà Nguyễn Thị C2 (Lê Thị C2) , sinh năm 1960 (Vắng mặt);
Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã L, huyện T, tỉnh C ..
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị C2: Ông Ngô
Đình Chiến, là Luật sư của Văn phòng Luật sư Ngô Đình C1 - thuộc Đoàn Luật sư
tỉnh Cà Mau (Có mặt).
2. Bà Lê Thị D, sinh năm 1968 (Vắng mặt);
Địa chỉ cư trú: Phường C, quận Ô, thành phố C.
- Người kháng cáo: Ông Lê Tấn T1, là nguyên đơn; ông Lê Văn T2, là bị
đơn; bà Nguyễn Thị C2, là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo ông Lê Tấn T1 trình bày:
Về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất: Cha mẹ ông T1 là cụ Lê
Văn Ấn (chết năm 1983) và cụ Nguyễn Thị Ngâu (chết năm 1979). Cụ Ấn và cụ
Ngâu có 08 người con chung gồm Lê Văn Đẹp (chết), Lê Thị Hoa, Lê Hồng Thắm
(chết 2009), Lê Hồng S, Lê Văn T2, Lê Văn Đông, Lê Văn Nam, Lê Tấn T1.
Ngoài ra, cụ Ấn còn có 01 người con riêng tên Lê Thị Tốt. Sinh thời, cụ Ấn và cụ
Ngâu có tạo lập được phần đất, nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất (CNQSDĐ), cụ Ấn và cụ Ngâu chết không để lại di chúc. Sau khi cụ Ấn
và cụ Ngâu chết, phần đất để lại các anh em ông T1 cùng quản lý sử dụng. Đến
năm 1995, tất cả anh em trong gia đình thống nhất giao cho ông Lê Văn T2 đứng
tên quyền sử dụng đất toàn bộ phần đất cha mẹ để lại; ông T2 được Ủy ban nhân
dân huyện Trần Văn Thời cấp giấy CNQSDĐ ngày 20/12/1995 diện tích 35.460
m
2
, đất tọa lạc tại ấp Tân Phong, xã Lợi An, huyện Trần Văn Thời. Sau đó, ông T2
cho bà Lê Thị Thắm mượn giấy CNQSDĐ thế chấp vay vốn Ngân hàng.
Đến ngày 18/01/2011 al, các anh chị em trong gia đình họp lại để chia phần
đất của cha mẹ để lại, chia đều cho tất cả anh chị em mỗi người 01 phần bằng
nhau, người nào không nhận đất thì nhận bằng giá trị (người nào nhận phần đất của
người không nhận đất, thì phải trả bằng giá trị cho người đó). Ông T1 được chia 01
phần đất, khi đó bà S không nhận đất nên ông T1 đồng ý nhận phần đất của bà S có
nghĩa vụ trả cho bà S 15 chỉ vàng 24k và 09 triệu đồng (đã trả xong). Phần đất chia
cho bà Lê Thị Thắm do ông T1 nhận, ông T1 có nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng để rút
giấy CNQSDĐ về. Năm 2011, ông T1 đã xuất tiền ra trả nợ Ngân hàng với tổng số
tiền 45.000.000 đồng và hiện nay ông T1 đang giữ giấy CNQSDĐ.
Đến ngày 30/4/2011, ông T1 cho vợ chồng ông T2 và bà C2 thuê lại toàn bộ
phần đất của ông T1 (bao gồm phần ông T1 được chia, phần ông T1 nhận phần của
bà S và nhận phần của bà Thắm) với giá 20.000.000 đồng/năm, tiền thuê thanh
toán theo từng năm. Việc thuê đất có làm giấy tay “Bảng hợp đồng cho mướn đất
vuông ngày 30/4/2011, tờ giấy cam kết mướn đất làm ngày 30/4/2011” giữa ông
T1 và vợ chồng ông T2 ký. Quá trình thực hiện hợp đồng thuê đất từ năm 2011 đến
nay, vợ chồng ông T2 và bà C2 không trả tiền thuê cho ông T1. Do đó, ông T1
khởi kiện yêu cầu ông T2 và bà C2 trả cho ông số tiền thuê đất còn nợ 200.000.000
đồng.
3
Về tranh chấp hợp đồng vay: Vào ngày 11/4/2010, ông T1 cho vợ chồng
ông T2 và bà C2 mượn 07 chỉ vàng 24k, không quy định thời hạn mà khi nào có
thì trả; bà C2 có viết biên nhận. Từ khi cho mượn đến nay vợ chồng ông T2 chưa
trả cho ông, nên ông T1 yêu câu ông T2 và bà C2 trả lại ông 07 chỉ vàng 24K.
Về tranh chấp đòi lại tài sản: Vào năm 2017, ông T1 và ông T2 muốn đo
đạc phần đất để tách quyền sử dụng đất (QSDĐ) ra cho ông T1 và làm QSDĐ phần
đất còn lại cho ông T2, nên ông T2 tự liên hệ hợp đồng đo đạc toàn bộ phần đất.
Đến ngày 29/9/2017, ông T2 gửi đơn đến nơi làm việc của ông T1 yêu cầu ông T1
đem QSDĐ về để tách QSDĐ. Sau đó, ông T1 về liên hệ ký hợp đồng đo đạc phần
đất của ông T1, thì ông T2 nhờ ông T1 nhờ ký tên hợp đồng đo đạc và nộp thay
cho ông T2 số tiền 5.727.000 đồng. Hợp đồng đo đạc đã thực hiện xong nhưng ông
T2 không trả lại tiền cho ông T1, nên ông T1 yêu cầu ông T2 trả lại số tiền
5.727.000 đồng.
Đối với yêu cầu của ông T2, yêu cầu ông trả lại giấy CNQSDĐ ông không
đồng ý. Lý do, ông T2 đã ủy quyền cho bà Thắm thế chấp QSDĐ để vay tiền Ngân
hàng, sau đó ông T2 ủy quyền cho ông trả tiền Ngân hàng để rút giấy CNQSDĐ về
và giữ giấy CNQSDĐ, nên ông T2 không còn quyền gì đối với giấy CNQSDĐ
được cấp. Ông không đồng ý trả lại giấy CNQSDĐ cho ông T2.
- Theo ông Lê Văn T2 trình bày:
Về quan hệ gia đình và nguồn gốc đất như ông T1 trình bày là đúng. Năm
1983, sau khi cha ông chết, toàn bộ phần đất cha mẹ để lại do ông quản lý; đến
năm 1995, ông được cấp giấy CNQSDĐ diện tích 35.460 m
2
. Năm 2004, ông cho
bà Lê Thị Thắm (đã chết năm 2009) 01 phần đất khoảng 05 công tầm lớn (chỉ cho
ở tạm và canh tác để sinh sống, chứ không có làm giấy tờ). Năm 2007, bà Thắm
mượn giấy CNQSDĐ để thế chấp Ngân hàng vay số tiền 40.000.000 đồng; đồng
thời ông cũng thế chấp giấy CNQSDĐ phần đất ở xã Khánh Bình Tây Bắc để vay
tiền Ngân hàng số tiền 30.000.000 đồng. Năm 2012, ông muốn trả Ngân hàng
khoản nợ 40.000.000 đồng mà bà Thắm đã vay nên có nhờ ông T1 đứng ra trả thay
và có nói nếu ông không có tiền trả lại ông T1 thì ông T1 được sử dụng phần đất
để canh tác. Năm 2012, ông và ông T1 trực tiếp đến Ngân hàng để làm thủ tục trả
nợ, nhưng ông T1 không xuất tiền ra trả nợ mà kêu ông ký một số giấy tờ để lấy
giấy CNQSDĐ mà ông được cấp đối với phần đất ở xã Lợi An ra và giữ cho đến
nay. Cuối năm 2013, ông đến Ngân hàng đóng lãi khoản vay 30.000.000 đồng thì
mới biết là khoản nợ vay lên đến 70.000.000 đồng tiền vốn, ông hỏi cán bộ Ngân
hàng thì mới biết là do ký lại hợp đồng vay thêm số tiền 40.000.000 đồng đối với
QSDĐ ở xã Khánh Bình Tây Bắc đã thế chấp trước đó. Lúc này, ông mới biết là
ông T1 lừa ông, chứ ông T1 không có cho ông mượn tiền để trả Ngân hàng. Năm
2012, khi chưa biết việc ông T1 lừa ông thì ông có đưa đất cho ông T1 canh tác,
sau đó ông T1 có cho ông Dương Trần Toại thuê 01 năm. Năm 2013, ông lấy lại
phần đất và yêu cầu ông T1 trả lại giấy CNQSDĐ nhưng ông T1 không đồng ý trả.
Ông xác định không có ký giấy tờ thuê đất của ông T1, “Bảng hợp đồng cho mướn
đất vuông ngày 30/4/2011 và tờ giấy cam kết mướn đất làm ngày 30/4/2011” do
ông T1 cung cấp không phải chữ ký và chữ viết của ông và bà C2, từ trước đến giờ
bà C2 không biết chữ.

4
Năm 2010, ông có mượn của vợ chồng ông T1 07 chỉ vàng 24k, thời hạn đến
tháng 12/2010 trả. Năm 2010, bà C2 đi cùng 01 người xe ôm (không biết tên) đến
nhà ông Lê Hoàng Nam để trả 07 chỉ vàng 24k cho ông T1 (quy ra giá trị bằng tiền
để trả); khi trả có vợ ông Nam là bà Nguyễn Thị Thắm biết. Việc mượn vàng, trả
tiền đều không có làm biên nhận.
Năm 2018, ông có ý định tách QSD một phần đất cho ông Lê Hoàng Nam,
nên ông có ký hợp đồng đo đạc nhưng chưa nộp tiền; sau khi đo đạc xong, ông yêu
cầu ông T1 đem giấy CNQSDĐ về để tách QSDĐ cho ông Nam, nhưng ông T1
không đưa. Sau đó, ông T1 có ký hợp đồng đo đạc với Chi nhánh Văn phòng đăng
ký đất đai không thì ông không biết, nhưng ông T1 có kêu ông đến Ủy ban nhân
dân xã Lợi An để ký thủ tục chuyển tên cho ông Nam và ông T1, ông không đồng
ý và anh em mâu thuẫn cho đến nay. Từ trước đến giờ ông không có nhờ ông T1
liên hệ Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Trần Văn Thời ký hợp đồng
đo đạc và cũng không có mượn khoản tiền nào của ông T1 để trả tiền đo đạc.
Trong phần đất ông đứng tên giấy CNQSDĐ không có phần đất nào của ông T1.
Ông không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của ông T1, đồng thời yêu cầu ông
T1 trả lại giấy CNQSDĐ cho ông.
- Theo bà Lê Thị D trình bày:
Bà D thống nhất với ý kiến của ông T1. Việc tranh chấp giữa ông T1 với ông
T2 và bà C2 là chuyện riêng của ông T1, chứ không liên quan gì đến quyền và lợi
ích hợp pháp của bà D.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số:143/2022/DS-ST ngày 23 tháng 6 năm 2022
của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời quyết định:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Tấn T1. Buộc ông Lê
Văn T2 và bà Nguyễn Thị C2 (Lê Thị C2 có trách nhiệm liên đới trả cho ông Lê
Tấn T1 07 (bảy) chỉ vàng 24k.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Tấn T1 về việc yêu cầu ông
Lê Văn T2 và bà Nguyễn Thị C2 tiền thuê đất 200.000.000 đồng và yêu cầu ông
Lê Văn T2 trả tiền hợp đồng đo đạc 5.727.000 đồng.
Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Lê Văn T2 và yêu cầu độc lập của bà
Nguyễn Thị C2 (Lê Thị C2. Buộc ông Lê Tấn T1 có trách nhiệm trả lại cho ông Lê
Văn T2 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Lê Văn T2 đứng tên đối với
phần đất có diện tích 35.460 m
2
– tại các thửa đất số 0346, 0347, 0348, 0351, 0352,
0354, 0357 – tờ bản đố số 10 – đất tọa lạc tại ấp Tân Phong, xã Lợi An, huyện
Trần Văn Thời, được Ủy ban nhân dân huyện Trần Văn Thời cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất ngày 20/12/1995.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương
sự.
Ngày 24/6/2022, ông Lê Tấn T1 có đơn kháng cáo, yêu cầu sửa một phần
bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông T1, buộc ông Lê Văn T2 và
bà Nguyễn Thị C2 trả tiền thuê đất 200.000.000 đồng và tiền đo đạc 5.727.000

5
đồng; không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông T2 và bà C2 đòi ông T1 trả lại
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 05/7/2022, ông Lê Văn T2 và bà Nguyễn Thị C2 có đơn kháng cáo,
yêu cầu sửa một phần bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu của ông T1 đòi
ông T2 và bà C2 trả 07 chỉ vàng 24K.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Lê Tấn T1, người đại diện của ông Lê Văn T2
giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; bà Nguyễn Thị C2 vắng mặt.
Phần tranh luận tại phiên toà:
Ông T1 không có ý kiến tranh luận.
Luật sư Chiến phát biểu: Phần đất do ông T2 đứng tên quyền sử dụng, cấp
ngày 20/12/1995. Các anh em ông T2 và ông T1 có họp gia đình chia đất nhiều lần
nhưng không thành, các biên bản họp gia đình không có đủ mặt anh em nên không
có giá trị pháp lý. Ông T1 không có xuất tiền trả Ngân hàng mà gia hạn vay đối với
phần đất ông T2 ở Khánh Bình Tây Bắc. Năm 2012, ông T1 cho ông Toại, ông
Doanh thuê đất thì lam sao ông T1 cho ông T2 thuê đất từ năm 2011. Phần đất ông
T1 chưa được giao, chưa có quyền sử dụng đất thì làm sao có quyền cho thuê, đất
đến nay vẫn do ông T2 quản lý sử dụng. Chữ ký trong hợp đồng thuê đất không
phải là của ông T2, kết luận giám định không khách quan, không đúng, chỉ là giám
định lần đầu, nên yêu cầu Hội đồng xét xử trưng cầu giám định lại để đảm bảo
khách quan. Đối với khoản tiền đo đạc 5.727.000 đồng, ông T2 ký hợp đồng đo
đạc với Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Trần Văn Thời, ông T2 không
nhờ ông T1 nộp nhưng ông T1 tự nộp nên ông T1 tự chịu. Ông T2 và bà C2 có
mượn ông T1 07 chỉ vàng 24K, nhưng đã trả xong, trả tại nhà ông Nam có bà
Thắm chứng kiến. Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông T2 đứng
tên, hiện ông T1 đang giữ, nên buộc ông T1 trả lại cho ông T2. Từ những căn cứ
trên, kiến nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông T2 và bà C2, không
chấp nhận kháng cáo của ông T1.
Bà S thống nhất với ý kiến tranh luận của Luật sư Chiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội
đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa
đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của
Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông T2 và bà C2; chấp
nhận một phần kháng cáo của ông T1, sửa bản án sơ thẩm: Buộc ông T2 và bà C2
trả cho ông T1 tiền thuê đất 190.000.000 đồng, buộc ông T2 trả cho ông T1 số tiền
đo đạc 5.727.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Bà Nguyễn Thị C2 (Lê Thị C2) là người kháng cáo được Tòa án triệu tập
hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do và cũng
không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, xem như từ bỏ việc kháng cáo. Do đó, Hội
đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu kháng cáo của bà C2 theo quy định tại
khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự.
6
[2] Xét kháng cáo của ông Lê Tấn T1, ông Lê Văn T2, Hội đồng xét xử xét
thấy:
[2.1] Đối với kháng cáo của ông T1:
[2.1.1] Đối với yêu cầu buộc ông T2 và bà C2 trả tiền thuê đất 200.000.000
đồng:
Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: Sinh thời, cha mẹ ông T1
và ông T2 là cụ Lê Văn Ấn (chết năm 1983) và cụ Nguyễn Thị Ngâu (chết năm
1979) có tạo lập được phần đất tọa lạc tại ấp Tân Phong, xã Lợi An, huyên Trần
Văn Thời, nhưng chưa được cấp giấy CNQSDĐ, cụ Ấn và cụ Ngâu chết không để
lại di chúc. Đến năm 1995, các anh em trong gia đình thống nhất giao cho ông T2
đứng tên quyền sử dụng đất toàn bộ phần đất cha mẹ để lại, nhưng phần đất vẫn là
di sản của cha mẹ để lại chưa phân chia; ông T2 được Ủy ban nhân dân huyện Trần
Văn Thời cấp giấy CNQSDĐ ngày 20/12/1995 diện tích 35.460m
2
. Năm 2007, ông
T2 cho bà Lê Thị Thắm mượn giấy CNQSDĐ thế chấp vay vốn Ngân hàng.
Đến ngày 18/01/2011 al, các anh chị em trong gia đình họp lại để chia phần
đất của cha mẹ để lại, chia đều cho tất cả anh chị em mỗi người 01 phần bằng
nhau, người nào không nhận đất thì nhận bằng giá trị (người nào nhận phần đất của
người không nhận đất, thì phải trả bằng giá trị cho người đó). Ông T1 được chia 01
phần đất, khi đó bà S không nhận đất nên ông T1 đồng ý nhận phần đất của bà S có
nghĩa vụ trả cho bà S 15 chỉ vàng 24k và 9.000.000 đồng. Phần đất chia cho bà
Thắm do ông T1 nhận, ông T1 có nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng khoản tiền bà Thắm
vay để rút giấy CNQSDĐ về. Năm 2011, ông T1 đã xuất tiền ra trả nợ Ngân hàng
với tổng số tiền 41.620.800 đồng và hiện nay ông T1 đang giữ giấy CNQSDĐ.
Đến ngày 30/4/2011, ông T1 cho vợ chồng ông T2 và bà C2 thuê lại toàn bộ
phần đất của ông T1 (bao gồm phần ông T1 được chia, phần ông T1 nhận phần của
bà S và nhận phần của bà Thắm) với giá 20.000.000 đồng/năm, tiền thuê thanh
toán theo từng năm. Việc thuê đất có làm giấy tay “Bảng hợp đồng cho mướn đất
vuông ngày 30/4/2011, tờ giấy cam kết mướn đất làm ngày 30/4/2011” giữa ông
T1 và vợ chồng ông T2 ký. Đối với ông T2 không thừa nhận có thuê phần đất của
ông T1 như ông T1 trình bày, đồng thời cũng cho rằng không có ký tên trong Bảng
hợp đồng cho mướn đất vuông ngày 30/4/2011 và Tờ giấy cam kết mướn đất làm
ngày 30/4/2011. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, ông T1 có yêu cầu
giám định đối với chữ ký của ông T2 tại hai văn bản nêu trên. Tại Kết luận giám
định số 6446/KL-KHHS ngày 13/01/2023 của Phân Viện khoa học hình sự Bộ
Công an tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Chữ ký, chữ viết họ tên “Lê Văn
T2” dưới chữ ký trên tài liệu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A4 so với chữ ký
đứng tên Lê Văn T2 trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2, M3 và chữ ký, chữ
viết đứng tên Lê Văn T2 trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M4 đến M10 là do
cùng một người ký và viết ra. Như vậy có cơ sở xác định ông T2 đã có ký vào
“Bảng hợp đồng cho mướn đất vuông ngày 30/4/2011, tờ giấy cam kết mướn đất
làm ngày 30/4/2011” với ông T1. Đối với ông T2 không đồng ý với kết luận giám
định, cho rằng kết luận giám định không khách quan, không đúng, đồng thời có
yêu cầu trưng cầu Phòng giám định kỹ thuật hình sự thuộc Bộ Quốc phòng tại
7
Thành phố Hồ Chí Minh giám định lại. Tuy nhiên, ông T2 không đưa ra được cơ
sở để chứng minh kết luận giám định của Phân Viện khoa học hình sự Bộ Công an
tại Thành phố Hồ Chí Minh là không khách quan, không đúng. Hơn nữa cơ quan
giám định của Bộ Quốc phòng và cơ quan giám định của Bộ Công an là ngang cấp
với nhau; do đó, yêu cầu của ông T2 là không có cơ sở chấp nhận.
Đối với trình bày của ông T2 cho rằng ông T1 không có trả cho Ngân hàng
khoản tiền bà Thắm vay, thấy rằng: Tại các chứng từ giao dịch trả nợ Ngân hàng
đối với khoản tiền bà Thắm vay đều do ông T1 đứng tên và ký tên; đồng thời tại
đơn gửi Đảng ủy và Ban Giám hiệu Trường Quân sự thành phố Cần Thơ (nơi ông
T1 công tác) do ông Lê Văn T2, ông Lê Văn Nam và bà Lê Hồng S ký tên ngày
29/9/2017 trình bày: “… năm 2007, chị ruột của tôi là Lê Thị Thấm kẹt vốn làm
ăn, nên mượn bằng khoán đất của tôi để thế chấp ngân hàng làm ăn, sau một năm
chị tôi bị tai nạn chết đến năm 2013 ngân hàng đòi nợ, tôi không có tiền trả, nên
em tôi là Lê Tấn T1, đem tiền về trả ngân hàng, cả vốn lẫn lãi khoản 45 triệu đồng.
Trả xong lấy bằng khoán ra rồi Lê Tấn T1 giữ bằng khoán luôn đến nay. Hiện giờ
tôi đang cần bằng khoán để chia đất lại cho anh em trong gia đình, trong đó có
phần đất của em tôi là Lê Tấn T1 …”.
Đối với trình bày và xác nhận của ông Dương Trần Doanh, ông Dương Trần
Toại: Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/02/2022 ông Doanh và ông Toại trình bày
năm 2012 ông Toại thuê đất của ông T1 diện tích 6 công, giá 12.000.000
đồng/năm, thời hạn thuê 01 năm; ông Toại sử dụng đất được 06 tháng thì giao lại
cho ông Doanh sử dụng; hết thời hạn thuê ông Doanh trả lại đất cho ông T1.
Nhưng tại xác nhận ngày 22/4/2023 của ông Doanh và ông Toại trình bày khoảng
năm 2012 ông Toại thuê đất của ông T1, ông T2 diện tích 6 công, giá 12.000.000
đồng/năm, ông Toại sử dụng đất được 06 tháng thì giao lại cho ông Doanh sử
dụng, ông Doanh sử dụng đất thêm 06 tháng thì trả lại đất cho ông T2. Xét lời trình
bày của ông Doanh, ông Toại tại biên bản lấy lời khai ngày 22/02/2022 và tại xác
nhận ngày 22/4/2023 là mâu thuẫn, không thống nhất nhau; ông Doanh và ông
Toại cũng không có giấy tờ gì chứng minh có việc thuê đất như các ông trình bày.
Hơn nữa, theo Bảng hợp đồng cho mướn đất vuông ngày 30/4/2011 và tờ cam kết
mướn đất vuông ngày 30/4/2011 thì ông T1 đã cho ông T2 và bà C2 thuê toàn bộ
phần đất. Nếu có việc thuê đất xảy ra là do ông T2 cho ông Toại thuê lại đối với
phần đất mà ông T2 và bà C2 đã thuê của ông T1. Do đó, trình bày của ông Doanh
và ông Toại là không có căn cứ.
Như vậy, việc ông T2 và bà C2 thuê đất của ông T1 là có thực tế. Do ông T2
và bà C2 chưa thanh toán tiền thuê đất cho ông T1, nên yêu cầu của ông T1 buộc
ông T2 và bà C2 trả số tiền thuê đất còn nợ 200.000.000 đồng là có căn cứ chấp
nhận. Tuy nhiên, tại phiên tòa ông T1 chỉ yêu cầu ông T2 và bà C2 trả số tiền thuê
đất 190.000.000 đồng, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông T1, buộc
ông T2 và bà C2 trả số tiền 190.000.000 đồng là phù hợp.
[2.1.2] Đối với yêu cầu buộc ông T2 trả số tiền đo đạc 5.727.000 đồng: Ông
T2 là người ký hợp đồng đo đạc với Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện
Trần Văn Thời để đo đạc tách quyền sử dụng đất cho ông T2, nên ông T2 phải có
nghĩa vụ nộp tiền đo đạc. Việc đo đạc đã hoàn thành nhưng ông T2 chưa nộp tiền
8
cho Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Trần Văn Thời, ông T1 đã thay
cho ông T2. Nếu ông T1 không nộp thay số tiền đo đạc cho ông T2 thì ông T2
cũng phải có nghĩa vụ nộp số tiền đo đạc cho Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất
đai huyện Trần Văn Thời. Do đó, yêu cầu của ông T1 buộc ông T2 trả lại số tiền
đo đạc 5.727.000 đồng là có căn cứ, được chấp nhận.
[2.1.3] Đối với yêu cầu của ông T2 và bà C2 yêu cầu ông T1 trả lại giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất: Ông T1 thừa nhận hiện nay ông T1 đang giữ bản
gốc giấy CNQSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện Trần Văn Thời cấp ngày
20/12/1995 cho ông Lê Văn T2 đứng tên đối với phần đất có diện tích 35.460m
2
tọa lạc tại ấp Tân Phong, xã Lợi An, huyện Trần Văn Thời, nhưng không đồng ý
trả lại cho ông T2 và bà C2. Lý do ông T2 đã ủy quyền cho bà Thắm thế chấp
QSDĐ để vay tiền Ngân hàng, sau đó ông T2 ủy quyền cho ông trả tiền Ngân hàng
rút giấy CNQSDĐ ra nên ông T2 không còn quyền gì đối với QSDĐ được cấp.
Xét thấy, mặc dù ông T2 có ủy quyền cho ông T1 trả tiền Ngân hàng để rút
giấy CNQSDĐ ra, nhưng về mặt pháp lý giấy CNQSDĐ được Nhà nước cấp cho
ông T2 đứng tên, nên được pháp luật bảo vệ. Việc ông T1 đang chiếm giữ giấy
CNQSDĐ do ông T2 được cấp là không có căn cứ pháp luật. Do đó, Tòa án cấp sơ
thẩm chấp nhận yêu cầu của ông T2 và bà C2, buộc ông T1 trả lại giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất là có căn cứ.
[2.2] Đối với kháng cáo của ông T2 và bà C2:
Quá trình giải quyết vụ án ông T2 cũng thừa nhận vợ chồng ông T2 có
mượn của ông T1 07 chỉ vàng 24k. Ông T1 xác định ông T2 và bà C2 chưa trả;
ông T2 cho rằng đã trả xong tại nhà ông Nam, có ông Nam và vợ ông Nam là bà
Thắm biết. Qua xác minh thì ông Nam và bà Thắm không xác định được việc ông
T2 và bà C2 có trả xong 07 chỉ vàng 24k cho ông T1 hay chưa. Ông T2 cũng
không có chứng cứ chứng minh đã trả 07 chỉ vàng 24K cho ông T1. Tại cấp phúc
thẩm, ngày 18/4/2023 Luật sư bảo vệ cho ông T2 có cung cấp xác nhận của bà Lê
Bé Ngoan (là con ruột ông T2, bà C2 có nội dung ông T1 có nói với bà Ngoan số
vàng ông T2 và bà C2 mượn đã trả hết, nhưng ông T1 ghét ông T2 nên thưa cho bỏ
ghét. Xét thấy, nội dung xác nhận của bà Ngoan không được ông T1 thừa nhận, bà
Ngoan cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì chứng minh. Hơn nữa, bà
Ngoan có mối quan hệ là con ruột ông T2 và bà C2, nên việc xác nhận của bà
Ngoan không đảm bảo tính khách quan, không thể xem là chứng cứ để xác định
ông T2 và bà C2 đã trả 07 chỉ vàng 24K cho ông T1. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm
chấp nhận yêu cầu của ông T1, buộc ông T2 và bà C2 trả cho ông T1 07 vàng 24K
là có căn cứ.
[3] Từ phân tích trên, cấp phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của ông
T1, không chấp nhận kháng cáo của ông T2, sửa một phần bản án sơ thẩm là phù
hợp.
[4] Án phí dân sự sơ thẩm các đương sự phải chịu được điều chỉnh lại theo
quy định pháp luật.

9
[5] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông T1 không phải chịu án phí, đã dự nộp
được nhận lại. Ông T2 được miễn chịu án phí (đã được miễn dự nộp). Bà C2 được
miễn dự nộp án phí nên không đặt ra.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt
ra xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản khoản 3 Điều 296, khoản 2 Điều 308 Điều 309 của Bộ luật tố
tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị C2 (Lê Thị
C2.
Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Lê Tấn T1.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn T2.
Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 143/2022/DS-ST ngày 23 tháng 6
năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Tấn T1.
Buộc ông Lê Văn T2 và bà Nguyễn Thị C2 (Lê Thị C2 có trách nhiệm liên
đới trả cho ông T1 số tiền 190.000.000 đồng (tiền thuê đất) và 07 (bảy) chỉ vàng
24k.
Buộc ông Lê Văn T2 trả lại cho ông Lê Tấn T1 số tiền đo đạc 5.727.000
đồng.
Kể từ ngày ông T1 có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong
khoản tiền nêu trên thì hàng tháng ông T2 và bà C2 còn phải chịu thêm khoản tiền
lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều
468 của Bộ luật dân sự.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Lê Văn T2 và yêu cầu độc lập của bà
Nguyễn Thị C2 (Lê Thị C2.
Buộc ông Lê Tấn T1 trả lại cho ông Lê Văn T2 và bà Nguyễn Thị C2 bản
gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện Trần Văn Thời
cấp ngày 20/12/1995 cho ông Lê Văn T2 đứng tên đối với phần đất có diện tích
35.460 m
2
, đất tọa lạc tại ấp T, xã L, huyện T, tỉnh C ..
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Văn T2 và bà Nguyễn Thị C2 được miễn
chịu án phí. Ông Lê Tấn T1 phải chịu án phí không có giá ngạch 300.000 đồng.
Ông T1 đã dự nộp 6.074.000 đồng theo biên lai thu số: 0004870 ngày 19/4/2021
của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, đối trừ ông T1 được nhận lại
số tiền 5.774.000 đồng.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Văn T2 được miễn chịu án phí. Ông
Lê Tấn T1 không phải chịu án phí. Ngày 24/6/2022, ông T1 đã dự nộp 300.000
10
đồng theo biên lai thu số 0005027 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần văn
Thời được nhận lại.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời;
- Chi cục THADS huyện Trần Văn Thời;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thành Lập
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 20/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 19/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 19/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 18/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 17/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 13/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 12/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 12/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Bản án số 367/2026/DS-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm