Bản án số 166/2026/DS-PT ngày 17/03/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 166/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 166/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 166/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 166/2026/DS-PT ngày 17/03/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đắk Lắk |
| Số hiệu: | 166/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 17/03/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Căn cứ khoản 2 Điều 308; khoản 1 Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự; Chấp nhận một phần kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn; Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 04/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Đắk Lắk. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản
1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐẮK LẮK Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 166/2026/DS-PT
Ngày: 17 - 3 - 2026
“V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hà.
Các Thẩm phán: Bà Đinh Thị Tuyết và ông Lê Ngọc Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nữ Hoàng Yến, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk: Bà Lương Thị Diệu Anh -
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 17 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 467/2025/TLPT-DS ngày 13/11/2025
về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số:
02/2025/DS-ST ngày 04/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 536/2025/QĐ-PT ngày
31/12/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị Lệ L, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Tổ dân phố F, phường E, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Đức S, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: A H, phường B, tỉnh Đắk Lắk.
2. Bị đơn: Bà Hồ Thị Mỹ H, sinh năm 1980.
Địa chỉ: A T, phường T, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Tuấn A, có đơn đề nghị xét xử vắng
mặt.
Địa chỉ: Số H T, phường B, tỉnh Đắk Lắk.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Lương Thanh V -
Luật sư thuộc Công ty L1, Đoàn Luật sư tỉnh Đắk Lắk, có đơn đề nghị xét xử vắng
mặt.
3. Người kháng cáo: Ông Bùi Đức S - người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền
của nguyên đơn trình bày:
Bà Trịnh Thị Lệ L và bà Hồ Thị Mỹ H có giao dịch vay mưn, có khoản đã trả,
có khoản chưa trả; những khoản n bị đơn chưa trả nguyên đơn đang thực hiện khởi
kiện, cụ thể: ngày 19/9/2016 bị đơn vay 50.000.000 đồng; ngày 23/9/2016 vay
50.000.000 đồng; ngày 26/9/2016 vay 100.000.000 đồng; ngày 27/9/2016 vay
100.000.000 đồng. Các khoản vay đều tha thuận thời hạn trả n 1-2 tháng; các khoản
vay này bị đơn đã trả đưc 22.500.000 đồng tiền lãi và đưc ghi vào cuối giấy vay
n (theo chứng cứ khởi kiện).
Quá hạn bị đơn không trả nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả n gốc 300.000.000
đồng và lãi là 442.000.000 đồng (khi vay các bên tha thuận lãi suất 3.000
đồng/1triệu/ngày nhưng bị đơn chưa thực hiện). Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn
yêu cầu bị đơn trả n gốc là 300.000.000 đồng và lãi suất 1.66%/tháng theo quy định
pháp luật, khấu tr số tiền lãi đã trả theo quy định để buộc bị đơn trả phần n còn lại.
Đối vi phần trnh bày của nguyên đơn tại biên bản đối chất là sự thật đề nghị
Tòa án ghi nhận khi xét xử vụ án. Nguyên đơn không đồng ý việc bị đơn yêu cầu áp
dụng thời hiệu, v khi đến hạn trả n bị đơn không trả nên các bên có tha thuận trả
dần cho đến khi hết n; Số tiền nguyên đơn chuyển trả chưa xác định gốc hay lãi nên
đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Về chứng cứ bị đơn cung cấp (giấy
ký nhận tiền, chứng t chuyển khoản) nguyên đơn tha nhận là đúng. Tuy nhiên, đối
vi khoản tiền bà H đã trả 150.000.000 đồng vào ngày 12/11/2016 là trả cho khoản
vay ngày 22/9/2016 số tiền 100.000.000 đồng và ngày 30/10/2016 số tiền 40.000.000
đồng, còn 10.000.000 đồng là tiền lãi tính t ngày 22/10/2016 đến ngày 12/11/2016
âm lịch của khoản vay 100.000.000 đồng (không tính số tiền 9.000.000 đồng bà H
trả và đưc ghi cuối giấy vay ngày 22/9/2016) và 40.000.000 đồng tính t ngày vay
30/10/2016 đến ngày 12/11/2016 âm lịch. Bà L đã viết giấy ký xác nhận đã nhận số
tiền trên đưa cho bà H giữ, sau đó bà L đã gạch b 02 khoản vay ngày 22/09/2016 và
ngày 30/10/2016 trong sổ n. Đó là lý do khi khởi kiện bà H bà L không liệt kê hai
khoản n này vào. Tuy nhiên, bà H lại cộng thêm số tiền 150.000.000 đồng – mà bà
L đã viết giấy xác nhận vào ngày 12/11/2016 – để chứng minh mnh đã trả n cho bà
L đối vi các giấy vay n bà L khởi kiện là có dấu hiệu gian dối, không trung thực.
Ngoài ra, căn cứ vào tài liệu chứng cứ mà bà H cung cấp, th chỉ chứng minh đưc
việc bà H đã trả cho bà L số tiền 150.000.000 đồng – Bằng hnh thức chuyển khoản
và tiền mặt. Bà L cũng tha nhận đã nhận số tiền này. Tuy nhiên, trong những chứng
cứ mà bà Hồ Thị Mỹ H cung cấp không hề thể hiện đây là trả tiền gốc hay là tiền lãi,
nên việc bà H cho rằng số tiền 150.000.000 đồng đã trả vào tiền gốc là không hp lý.
Theo như bà L cho biết th đây là những khoản mà bà H trả tiền lãi hằng tháng cho
bà L. Do đó, nguyên đơn không đồng ý vi ý kiến trnh bày của bị đơn.
Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình
bày:
3
Đối vi chứng cứ nguyên đơn khởi kiện, bị đơn tha nhận đúng là chữ ký của
bị đơn. Tuy nhiên, các khoản vay trên bị đơn đã trả bằng hnh thức chuyển khoản t
số tài khoản 0231000658756 đến số tài khoản của nguyên đơn 0231000613998 trong
thời gian t ngày 30/9/2021 đến ngày 09/02/2024 là 121.000.000 đồng; Ngoài ra bị
đơn còn trả trực tiếp và nguyên đơn ký giấy nhận tiền giao lại cho bị đơn quản lý t
ngày 12/11/2016 đến 10/9/2019 là 194.000.000 đồng. Quá trnh vay bị đơn đã trả lãi
108.000.000 đồng (bao gồm cả số tiền 22.500.000đồng bị đơn trả lần đầu và đưc
nguyên đơn viết vào cuối giấy vay (theo chứng cứ nguyên đơn cung cấp), số tiền còn
lại 85.000.000 đồng chỉ đưa tay không viết giấy tờ nên không có cung cấp cho Tòa
án.
Như vậy, tổng số tiền bị đơn đã trả cho nguyên đơn là 445.500.000 đồng. Trong
đó số tiền gốc đã trả bằng hnh thức chuyển khoản và ký nhận tổng là 315.000.000
đồng; lãi đã trả có chứng cứ trong giấy vay của nguyên đơn là 22.500.000 đồng, lãi
đưa không có giấy tờ là 85.500.000 đồng. Khi vay các bên tha thuận lãi suất 3.000
đồng/1triệu/ngày, không giao tài sản làm tin. Khoản vay này bị đơn mưn giúp cho
người khác không liên quan đến gia đnh bị đơn. Số tiền bị đơn trả nhiều hơn số tiền
mưn 300.000.000 đồng nhưng không yêu cầu Tòa án xem xét v xác định trả lãi.
Đối vi lời trnh bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tại phiên
tòa sơ thẩm là mâu thun vi phần trnh bày của nguyên đơn nên yêu cầu Tòa án ghi
nhận ý kiến của nguyên đơn và bị đơn tại biên bản đối chất làm căn cứ giải quyết vụ
án.
*Ngưi bo v quyn v li ch hp php cho b đơn trnh by:
Thống nhất như trnh bày của bị đơn, đồng thời đề nghị Tòa án áp dụng thời
hiệu khởi kiện khi giải quyết vụ án để không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 04/7/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 1, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
1. Về điều luật áp dụng:
Căn cứ vào các điều 26, 35, 39, 147, 184, 266 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Về nội dung:
- Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trịnh
Thị Lệ L.
+ Buộc bị đơn bà Hồ Thị Mỹ H có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn bà Trịnh Thị Lệ
L số tiền lãi còn n là 54.325.666 đồng.
4
+ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối vi nội dung buộc bị
đơn phải trả số tiền gốc 300.000.000 đồng.
Kể t ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người đưc thi hành án cho đến khi
thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dânsự
2015, tr trường hp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí:
+ Bị đơn bà Hồ Thị Mỹ H có nghĩa vụ nộp 2.716.000 đồng án phí dân sự sơ
thẩm.
+ Nguyên đơn bà Trịnh Thị Lệ L phải chịu 15.000.000 đồng án phí dân sự sơ
thẩm khấu tr vào số tiền 16.840.000 đồng tạm ứng án phí (do Vũ Hồng N Qunh
nộp thay) tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột theo biên lai thu
tiền số AA/2023/0012518 ngày 09/12/2024. Sau khi khấu tr bà Trịnh Thị Lệ L đưc
nhận lại số tiền 1.840.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo cho các đương sự
theo quy định pháp luật.
Ngày 15/7/2025, ông Bùi Đức S là người đại diện theo ủy quyền của nguyên
đơn có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đưng sự đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người kháng cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu:
Về tố tụng: Trong quá trnh thụ lý giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét
xử, Thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Qua phân tích đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ
án, xét thấy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc
buộc bị đơn trả số n gốc là 300.000.000 đồng. Tuy nhiên, về lãi suất xét thấy Tòa
án cấp sơ thẩm xác định số tiền lãi bị đơn phải trả 54.325.666 đồng là chưa chính
xác nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308; khoản 1 Điều 309 của Bộ
luật tố tụng dân sự; Chấp nhận một phần kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền
của nguyên đơn, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 04/7/2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Đắk Lắk về lãi suất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đưc thẩm tra tại phiên tòa,
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ các tài liệu
chứng cứ, lời trnh bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên:
[1] V tố tụng: Đơn kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên
đơn làm trong hạn luật định và đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên đưc xem xét,
giải quyết theo trnh tự phúc thẩm.
5
[2] V nội dung: Xét kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên
đơn, nhận thấy:
Nguyên đơn và bị đơn đều tha nhận các giấy vay mưn tiền vào ngày
19/9/2016 số tiền vay 50.000.000 đồng; ngày 23/9/2016 số tiền vay 50.000.000 đồng;
ngày 26/9/2016 số tiền vay 100.000.000 đồng; ngày 27/9/2016 số tiền vay
100.000.000 đồng là có thật. Như vậy, tổng số tiền vay tính đến ngày 27/9/2016 là
300.000.000 đồng.
Bị đơn cho rằng đã trả tổng số tiền là 445.500.000 đồng (trả hết n gốc, phần
còn lại là trả lãi). Cụ thể:
- Trả bằng hnh thức chuyển khoản trong thời gian t ngày 30/9/2021 đến ngày
09/02/2024 là 121.000.000 đồng.
- Trả trực tiếp (có chữ ký xác nhận của nguyên đơn) t ngày 12/11/2016 đến
10/9/2019 là 194.000.000 đồng.
- Trả lãi 108.000.000 đồng (bao gồm cả số tiền 22.500.000 đồng bị đơn trả lần
đầu và đưc nguyên đơn viết vào cuối giấy vay, số tiền còn lại 85.000.000 đồng chỉ
đưa tay không viết giấy tờ.
Xét thấy, nguyên đơn tha nhận có nhận 121.000.000 đồng của bị đơn qua hnh
thức chuyển khoản và 194.000.000 đồng nhận tiền mặt có ký xác nhận, 22.500.000
đồng tiền lãi. Nguyên đơn cho rằng số tiền 121.000.000 đồng là tiền trả lãi và trong
tổng số 194.000.000 đồng tiền mặt nguyên đơn đã nhận th khoản 150.000.000 đồng
ngày 12/11/2016 là bị đơn trả cho khoản vay ngày 22/9/2016 số tiền 100.000.000
đồng và ngày 30/10/2016 số tiền 40.000.000 đồng, còn 10.000.000 đồng là tiền lãi
của hai khoản vay này. Do hai khoản vay này bị đơn đã trả xong nên nguyên đơn đã
gạch b và không khởi kiện nhưng bị đơn lại sử dụng giấy xác nhận nguyên đơn đã
ký cho 02 khoản vay đã xong để đưa vào những khoản vay nguyên đơn đang khởi
kiện là không trung thực. Tuy nhiên, lời trnh bày của nguyên đơn nhưng không đưc
bị đơn tha nhận v cho rằng các khoản nguyên đơn gạch b là đã trả xong. HĐXX
nhận thấy, đối vi các khoản vay sau khi bị đơn đã trả th nguyên đơn có nghĩa vụ trả
lại giấy vay gốc cho bị đơn hoặc gạch b khoản vay. Việc bị đơn cung cấp giấy nhận
tiền là phù hp vi lời trnh bày của bị đơn là do khi bị đơn trả n nguyên đơn không
mang giấy gốc đối chiếu gạch b nên mi viết giấy nhận tiền cho bị đơn, còn đối vi
những khoản vay bị đơn đã trả xong th nguyên đơn đã gạch b.
Như vậy, có căn cứ chấp nhận lời trnh bày của bị đơn đối vi số tiền đã chuyển
khoản cho nguyên đơn 121.000.000 đồng; Trả trực tiếp và có ký nhận của nguyên
đơn là 194.000.000 đồng; Trả 22.500.000 đồng đưc nguyên đơn viết vào cuối giấy
vay. Tổng cộng số tiền bị đơn đã trả là 337.500.000 đồng. Đối vi số tiền lãi
85.000.000 đồng bị đơn không cung cấp đưc chứng cứ chứng minh nên không có
căn cứ chấp nhận.
Về lãi suất: Khoản vay giữa các bên đều xác định thời hạn trả n t 01 đến 02
tháng, lãi suất theo tha thuận, quá hạn trả n và các bên có tha thuận trả dần đến
6
khi trả hết n (không tha thuận lãi hay gốc) nên Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng
thời hiệu khởi kiện là phù hp. Xét thấy, nguyên đơn và bị đơn đồng ý việc trả n
dần, bắt đầu t ngày 12/11/2016 đến ngày 09/02/2024, bị đơn không có ý kiến g về
mức lãi suất 1.66%/tháng nguyên đơn yêu cầu, nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng mức
mức lãi suất 1.66%/tháng kể t thời điểm vay là phù hp theo quy định tại Điều466,
Điều 468 Bộ luật Dânnăm 2015. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm xác định tổng số tiền
lãi 91.825.666 đồng là chưa chính xác, cần xác định lại cụ thể như sau:
- Tiền lãi t khi vay ngày 19/9/2016 đến ngày 11/11/2016 là 8.632.000 đồng.
- Ngày 12/11/2016 bị đơn trả 150.000.000 đồng. Tiền lãi là 20.252.000 đồng.
- Ngày 17/7/2018 trả 10.000.000 đồng. Tiền lãi là 8.908.666 đồng.
- Ngày 13/11/2018 trả 5.000.000 đồng. Tiền lãi là 3.286.800 đồng.
- Ngày 28/12/2018 trả 5.000.000 đồng. Tiền lãi là 2.229.933 đồng.
- Ngày 30/01/2019 trả 5.000.000 đồng. Tiền lãi là 2.005.833 đồng.
- Ngày 30/02/2019 trả 5.000.000 đồng. Tiền lãi là 2.257.600 đồng.
- Ngày 08/4/2019 trả 5.000.000 đồng. Tiền lãi là 1.972.633 đồng.
- Ngày 10/5/2019 trả 5.000.000 đồng. Tiền lãi là 7.243.133 đồng.
- Ngày 10/9/2019 trả 4.000.000 đồng. Tiền lãi là 43.931.346 đồng.
- Ngày 30/9/2021 trả 5.000.000 đồng. Tiền lãi là 2.011.920 đồng.
- Ngày 07/11/2021 trả 4.000.000 đồng. Tiền lãi là 4.293.866 đồng.
- Ngày 28/01/2022 trả 10.000.000 đồng. Tiền lãi là 12.949.660 đồng.
- Ngày 28/10/2022 trả 12.000.000 đồng. Tiền lãi là 3.237.000 đồng.
- Ngày 17/01/2023 trả 10.000.000 đồng. Tiền lãi là 4.999.366 đồng.
- Ngày 07/6/2023 trả 8.000.000 đồng. Tiền lãi là 31.540 đồng.
- Ngày 08/6/2023 trả 12.000.000 đồng. Tiền lãi là 5.727.000 đồng. Tính đến
ngày 28/01/2024 tiền gốc bị đơn còn n nguyên đơn là 45.000.000 đồng.
- Ngày 29/01/2024 trả 50.000.000 đồng.
- Ngày 09/02/2024 trả 10.000.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền lãi bị đơn phải trả cho nguyên đơn là 133.970.296 đồng.
Tổng số tiền gốc và lãi phải trả là 433.970.296 đồng.
Bị đơn đã trả cho nguyên đơn là: 337.500.000 đồng. Nên cần buộc bị đơn tiếp
tục thanh toán cho nguyên đơn số tiền là: 433.970.296 đồng – 337.500.000 đồng =
96.470.000 đồng (làm tròn số) là phù hp.
7
T những phân tích trên, xét thấy cần chấp nhận một phần kháng cáo của người
đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-
ST ngày 04/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 về lãi suất.
[3] Về án phí: Do sửa bản án sơ thẩm nên án phí dân sự sơ thẩm đưc xem xét
lại theo quy định pháp luật.
V các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 2 Điều 308; khoản 1 Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên
đơn;
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 04/7/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 1, tỉnh Đắk Lắk.
[2] Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trịnh
Thị Lệ L.
- Buộc bị đơn bà Hồ Thị Mỹ H có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn bà Trịnh Thị
Lệ L số tiền lãi còn n là 96.470.000 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối vi nội dung buộc
bị đơn phải trả số tiền gốc 300.000.000 đồng.
Kể t ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người đưc thi hành án cho đến khi
thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật
Dân2015, tr trường hp pháp luật có quy định khác.
[3] Về án phí:
+ Bị đơn bà Hồ Thị Mỹ H có nghĩa vụ nộp 4.823.500 đồng án phí dân sự sơ
thẩm.
+ Nguyên đơn bà Trịnh Thị Lệ L phải chịu 15.000.000 đồng án phí dân sự sơ
thẩm khấu tr vào số tiền 16.840.000đồng tạm ứng án phí (do Vũ Hồng N Qunh
nộp thay) tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột theo biênthu
tiền số AA/2023/0012518 ngày 09/12/2024. Sau khi khấu tr bà Trịnh Thị Lệ L đưc
nhận lại số tiền 1.840.000 đồng.
+ Nguyên đơn bà Trịnh Thị Lệ L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, và
đưc nhận lại 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp (do ông Nguyễn Lê Phưc H1
nộp thay) theo biên lai số 000021 ngày 15/8/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đắk
Lắk.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có
8
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành
án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TAND Tối cao; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND Khu vực 1;
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
- Phòng THADS khu vực 1;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Bùi Quốc H
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 12/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Bản án số 367/2026/DS-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 24/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm