Bản án số 199/2026/DS-PT ngày 09/03/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 199/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 199/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 199/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 199/2026/DS-PT ngày 09/03/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đồng Tháp |
| Số hiệu: | 199/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 09/03/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | - Ngày 04 tháng 9 năm 2025, bị đơn anh Nguyễn Ngọc N có đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm. Anh yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết sửa Bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt H. Lý do anh chỉ giao dịch mua lúa trôi nổi trên sông của ông H. Sau khi mua lúa anh đã chuyển khoản trả đủ tiền cho ông H. Vợ anh tên Nguyễn Thị Kim T1 không có tham gia mua bán lúa giữa anh với ông H nên không biết. Trong đoạn ghi âm ngày 19/11/2021 vợ anh chỉ nghe nói lại và tạm hứa trả cho ông H, mục đích là để chờ hỏi lại nhưng trên thực tế anh đã trả đủ tiền mua lúa cho ông H. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 199/2026/DS-PT
Ngày: 09 – 3 - 2026
V/v tranh chấp hợp đồng
mua bán tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sỹ Danh Đạt.
Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Đạt;
Bà Nguyễn Ái Đoan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Gia Khánh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng
Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp
tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị Cẩm Thuý - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 09 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng
Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 917/2025/TLPT-DS ngày 17
tháng 12 năm 2025 về Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 82/2025/DS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 303/2026/QĐ-PT ngày
08 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Việt H, sinh năm 1978;
Địa chỉ: Ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (Nay là Khóm A, phường L,
tỉnh Cà Mau).
Địa chỉ liên hệ: Khóm E, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (Nay là Khóm
A, phường G, tỉnh Cà Mau).
Người đại diện theo ủy quyền của ông H là: Bà Phan Ngọc T, sinh năm
1980. Địa chỉ: Số C, đường N, Khóm A, phường G, tỉnh Cà Mau (Theo văn bản
2
ủy quyền ngày 26/01/2026).
- Bị đơn: Nguyễn Ngọc N (B), sinh năm 1984;
Địa chỉ: Tổ F, Ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang (Nay là Ấp D, xã B,
tỉnh Đồng Tháp).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1985 (Xin vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang (Nay là ấp A, xã H, tỉnh
Đồng Tháp).
2. Đỗ Chí T2, sinh năm 1968 (Xin vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ (Nay là ấp T, xã T, thành
phố Cần Thơ).
- Người kháng cáo: Bị đơn Nguyễn Ngọc N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn ông Nguyễn Việt H trình bày:
Vào năm 2021, ông có bán cho anh Nguyễn Ngọc N (Bo) tổng cộng 637
tấn 493 kg lúa và đã giao cho anh N đầy đủ số lúa trên tại khu vực C Phó S thuộc
Khóm B, Phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. Trị giá tính thành tiền của 637 tấn
493 kg lúa là 4.319.603.000 đồng. Việc mua bán lúa thì ông tự ghi sổ sách theo
dõi chi tiết. Việc giao nhận lúa giữa hai bên có nhiều người chứng kiến và chủ
phương tiện chở lúa xác nhận.
Sau đó, anh N thanh toán bằng hình thức chuyển khoản vào số tài khoản
của ông là 070949464707 tại Ngân hàng S, tổng cộng 11 lần với số tiền là
3.997.130.000 đồng. Sau khi đối trừ số tiền đã chuyển khoản thanh toán thì anh N
còn nợ ông 322.473.000 đồng. Ông đã yêu cầu nhiều lần nhưng anh N không trả
nơ cho ông.
Vì vậy, ông yêu cầu anh N phải trả cho ông số tiền nợ mua lúa là
322.473.000 đồng và tiền lãi theo quy định pháp luật là 0,83%/tháng, tính từ ngày
06/11/2021 đến ngày 06/6/2024 là 322.473.000 đồng x 0,83%/tháng x 30 tháng =
80.295.777 đồng, tổng cộng tiền nợ gốc và lãi là 402.768.777 đồng.
3
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông rút lại một phần yêu cầu đối với số tiền
17.330.000 đồng. Ông yêu cầu anh N trả số tiền nợ là 305.143.000 đồng và tiền
lãi tính từ ngày 06/11/2021 đến ngày xét xử là 115.237.000 đồng, tổng cộng là
420.380.000 đồng.
- Bị đơn anh Nguyễn Ngọc N trình bày:
Thông qua ông Đỗ Chí T2 giới thiệu nên anh có nhận lúa từ ông Nguyễn
Việt H, chứ giữa anh với ông H không có giao dịch mua bán trực tiếp với nhau.
Do ông T2 kêu chuyển tiền trả tiền lúa cho ông H nên anh có chuyển tiền mua lúa
cho ông H tổng cộng 11 lần thông qua hình thức chuyển khoản với số tiền như
ông H trình bày là đúng. Số tiền năm trăm mấy chục triệu mà chị T1 (Vợ anh N)
nói với anh tại đoạn ghi âm vào ngày 19/11/2021 là chị T1 nói về số tiền lúa mà
anh còn thiếu chứ việc mua bán lúa giữa 03 người này chị T1 không có liên quan.
Anh đã trả tiền cho ông T2 để trả cho ông H xong nên không còn nợ ông H nữa.
Do đó, anh không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông H.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Nguyễn Thị Kim T1 trình bày:
Việc giao dịch mua bán giữa ông H với anh N và ông T2 thì chị không
biết. Chị chỉ biết ông T2 là người mua lúa trực tiếp từ ông H, sau đó anh N mua
lúa lại từ ông T2. Anh N có kêu chị hứa trả tiền cho ông H nên chị hứa. Chị có
nghe anh N nói lại với chị là đợt sau này anh N đã chuyển tiền xong hết cho ông
T2 nên không có nợ tiền của ông H.
+ Ông Đỗ Chí T2 trình bày:
Trước năm 2021 thì ông có mua bán lúa với ông H, từ năm 2021 ông không
còn mua bán lúa với ông H nữa mà do anh N trực tiếp mua lúa của ông H. Việc
giao dịch mua bán lúa giữa ông H và anh N, ông không tham gia và không có liên
quan gì. Ông H và anh N tự thỏa thuận mua bán, giao nhận và thanh toán với
nhau. Vào năm 2022, ông H có kể cho ông nghe việc anh N nợ tiền mua lúa của
ông H và nhờ ông cùng đi đến nhà anh N để đòi nợ. Tháng 11/2022, ông H, ông
và anh T3 cùng đi đến vườn mai kiểng nhà anh N tại tỉnh Tiền Giang để gặp anh
N. Lúc đó, anh N có thừa nhận nợ ông H số tiền trên 300.000.000 đồng và có hẹn
trả cho ông H.
4
- Người làm chứng:
+ Anh Huỳnh Quốc T3 trình bày:
Vào khoảng năm 2021, anh Nguyễn Ngọc N có nhờ anh chuyên chở lúa
mua của ông H từ thị xã G về tỉnh Tiền Giang cho anh N. Anh đã nhận lúa từ ông
H và vận chuyển về Tiền Giang giao cho anh N đầy đủ với số lượng như sau:
Ngày 04/3/2021, anh nhận lúa của ông H và giao cho ông N 73 tấn 158 kg
lúa.
Ngày 09/3/2021, anh nhận lúa của ông H và giao cho ông N 60 tấn lúa + 22
tấn 192 kg lúa.
Ngày 15/3/2021, anh nhận lúa của ông H và giao cho ông N 77 tấn 738 kg
lúa.
Ngày 18/3/2021, anh nhận lúa của ông H và giao cho ông N 81 tấn 236 kg
lúa.
Do anh N là người thuê anh nên toàn bộ chi phí chuyên chở anh N là người
trả cho anh. Anh N vẫn còn nợ anh một phần phí vận chuyển chưa trả nên vào
khoảng tháng 11/2022, anh có cùng ông H và ông T2 đi đến nhà anh N tại vườn
mai kiểng ở Tiền Giang để đòi nợ. Tại đây, anh có chứng kiến việc anh N thừa
nhận có nợ ông H số tiền mua lúa chưa thanh toán là hơn 300.000.000 đồng.
+ Anh Nguyễn Thanh D trình bày:
Vào ngày 16/3/2021, anh Nguyễn Ngọc N có nhờ anh chuyên chở lúa mua
của ông H từ thị xã G về Tiền Giang cho anh N. Anh đã nhận lúa từ ông H và vận
chuyển về Tiền Giang giao cho anh N 01 chuyến với số lượng là 81 tấn 883 kg
lúa. Ngoài chuyến này thì anh không có vận chuyển lúa nào từ ông H giao cho
anh N nữa.
- Tại bản án dân sự sơ thẩm số 82/2025/DS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đồng Tháp đã xử:
1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt H về việc yêu cầu anh
Nguyễn Ngọc N trả số tiền 17.330.000 đồng.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt H.
5
Buộc anh Nguyễn Ngọc N phải trả cho ông Nguyễn Việt H số tiền nợ mua
bán lúa là 305.143.000 đồng và tiền lãi là 115.237.000 đồng. Tổng cộng là
420.380.000 đồng, ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí; quyền, nghĩa vụ và thời hiệu thi hành
án; quyền và thời hạn kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
- Ngày 04 tháng 9 năm 2025, bị đơn anh Nguyễn Ngọc N có đơn kháng cáo
Bản án sơ thẩm. Anh yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết sửa Bản án sơ
thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt H. Lý do
anh chỉ giao dịch mua lúa trôi nổi trên sông của ông H. Sau khi mua lúa anh đã
chuyển khoản trả đủ tiền cho ông H. Vợ anh tên Nguyễn Thị Kim T1 không có
tham gia mua bán lúa giữa anh với ông H nên không biết. Trong đoạn ghi âm
ngày 19/11/2021 vợ anh chỉ nghe nói lại và tạm hứa trả cho ông H, mục đích là
để chờ hỏi lại nhưng trên thực tế anh đã trả đủ tiền mua lúa cho ông H.
oTại phiên tòa phúc thẩm ông H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, anh N vẫn
giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về
việc giải quyết vụ án.
- Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến của
Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn phúc thẩm:
- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng có mặt tại
phiên tòa đều chấp hành đúng theo quy định của pháp luật
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của
anh Nguyễn Ngọc N, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét giao dịch mua bán lúa giữa ông H với anh N mặc dù không được
lập thành văn bản. Tuy nhiên, thông qua lời trình bày của ông T2 và những người
làm chứng cùng các đoạn ghi âm trao đổi giá lúa với nhau cho thấy thực tế anh N
có mua lúa trực tiếp từ ông H. Việc anh N cho rằng anh mua lúa từ ông T2 nhưng
không được ông T2 thừa nhận và anh N cũng không có chứng cứ để chứng minh.
6
Mặt khác, tại đơn kháng cáo ngày 04/9/2025 anh N cũng thừa nhận anh có mua
lúa trôi nổi trên sông của ông H. Do đó, giao dịch mua bán lúa giữa ông H và anh
N là có thật.
[2] Ông H xác định đã giao cho anh N tổng cộng 637.493 kg lúa với giá là
4.319.603.000 đồng, nhưng anh N chỉ trả tiền cho ông H được 11 lần với tổng số
tiền là 3.997.130.000 đồng nên yêu cầu anh N trả số tiền còn lại 305.143.000
đồng là có căn cứ. Bởi vì, anh N không phủ nhận số lúa mà ông H trình bày là đã
giao cho anh N mà thừa nhận có nhận lúa từ ông H và xác định số tiền mua lúa
mà anh N chuyển khoản trả cho ông H là 3.997.130.000 đồng. Đồng thời, cả ông
H và anh N đều xác định thời gian chuyển tiền cuối cùng là vào ngày 06/11/2021.
Sau đó anh N không còn chuyển bất cứ khoản tiền nào cho ông H.
Theo đoạn ghi âm ngày 19/11/2021, vợ anh N là chị T1 (Ú) có thừa nhận
số tiền nợ là năm trăm mấy chục triệu, có chuyển trả 03 lần tiền, mỗi lần mấy
chục. Sau khi đối chiếu vào bảng sao kê tài khoản Ngân hàng cho thấy, 03 lần
phía anh N chuyển tiền cho ông H gồm: Vào ngày 06/11/2021 chuyển 30.000.000
đồng, ngày 09/9/2021 chuyển 50.000.000 đồng và ngày 16/7/2021 chuyển
80.000.000 đồng. Như vậy, 03 lần này, anh N chuyển cho ông H tổng số tiền là
160.000.000 đồng, trừ vào số tiền nợ thì anh N còn nợ lại số tiền hơn
340.000.000 đồng.
Anh N thừa nhận số tiền năm trăm mấy chục triệu mà chị T1 nói trong
đoạn ghi âm vào ngày 19/11/2021 là tiền lúa mà anh N còn thiếu nên kêu chị T1
hứa trả tiền cho ông H, chị T1 không liên quan gì đến việc mua bán lúa giữa ông
H, ông T2 với anh N. Đồng thời, anh N cho rằng số tiền còn nợ lại đã chuyển
khoản cho ông T2 để trả cho ông H xong nên không còn nợ ông H là không có
căn cứ. Bởi vì, anh N không cung cấp được chứng cứ chứng minh đã chuyển tiền
cho ông T2 để trả cho ông H và phía ông T2 cũng không thừa nhận việc này.
Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử buộc anh N phải trả cho ông H số tiền
mua lúa còn nợ 305.143.000 đồng và tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ
theo quy định của pháp luật tính từ ngày 06/11/2021 đến ngày Tòa án xét xử sơ
thẩm (Ngày 21/8/2025) là 115.237.000 đồng, tổng cộng 420.380.000 đồng là có
căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
7
Tại Tòa án cấp phúc thẩm, anh N cũng không cung cấp được chứng cứ nào
mới để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ nên không chấp nhận.
[3] Xét ý kiến đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng
Tháp là có căn cứ và phù hợp pháp luật nên chấp nhận.
Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của
anh N, giữ nguyên Bản án sơ thẩm. Để thuận tiện cho việc thi hành án Hội đồng
xét xử điều chỉnh lại cách tuyên án.
Về án phí: Do giữ nguyên bản án sơ thẩm nên anh N phải chịu 300.000
đồng án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Phần của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp
luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 91, Điều 147, Điều 148, Điều 228, của Bộ
luật tố tụng dân sự; Điều 357, khoản 2 Điều 468, Điều 430, Điều 440 của Bộ luật
dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Ngọc N.
2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 82/2025/DS-ST ngày 21 tháng 8
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đồng Tháp.
3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt H về việc yêu cầu anh
Nguyễn Ngọc N trả số tiền 17.330.000 đồng.
4. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt H.
5. Buộc anh Nguyễn Ngọc N phải trả cho ông Nguyễn Việt H số tiền nợ
mua bán lúa là 305.143.000 đồng và tiền lãi là 115.237.000 đồng. Tổng cộng là
420.380.000 đồng (Bốn trăm hai mươi triệu ba trăm tám mươi ngàn đồng).
8
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền
còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468
của Bộ luật Dân sự năm 2015.
6. Về án phí:
- Anh Nguyễn Ngọc N phải chịu 20.815.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm,
300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm và được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm
ứng án phí phúc thẩm theo biên lai số 0002242 ngày 09/9/2025 của Thi hành án
dân sự tỉnh Đồng Tháp, số còn lại phải nộp tiếp là 20.815.000 đồng.
- Ông Nguyễn Việt H được nhận lại 8.061.000 đồng tiền tạm ứng án phí
dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0002786 ngày 06/6/2024 của Chi cục Thi
hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận
thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế
thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án
dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- TAND khu vực 4 – Đồng Tháp;
- PTHADS khu vực 4 – Đồng Tháp;
- Phòng GĐKTTT TAND tỉnh Đồng Tháp;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Sỹ Danh Đạt
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 19/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 17/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 12/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 12/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Bản án số 367/2026/DS-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm