Bản án số 175/2026/DS-PT ngày 19/03/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 175/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 175/2026/DS-PT ngày 19/03/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 175/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: trần xuân hồng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐẮK LẮK Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc
Bản án số: 175/2026/DS-PT
Ngày: 19 - 3 2026.
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hồng
Các Thẩm phán: Ông Lê Trúc Lâm
Bà Nguyễn Thị Thu Trang
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Vấn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông
Phan Văn Công - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 587/2025/TLPT-DS ngày 17
tháng 12 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án dân sự
thẩm số 22/2025/DS-ST ngày 18/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Đắk
Lắk bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 03/2026/QĐ-PT, ngày
13/01/2026 Quyết định hoãn phiên tòa số 154/2026/QĐ-PT ngày 11/02/2026, giữa
các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trần Xuân HLê Thị T Có mặt.
Địa chỉ: Thôn E, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk - Nay là Thôn E, xã E, tỉnh Đắk
Lắk.
Đại diện theo ủy quyền của ông H, T Ông Đoàn Quang H1; Địa chỉ: Thôn
H, xã E, tỉnh Đắk Lắk, Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn K; Địa chỉ: Thôn C, E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk - Nay
là Thôn C, xã E, tỉnh Đắk Lắk, Có mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền ông Trần Huy T1
Địa chỉ: Số E H, phường Q, tỉnh Gia Lai - Có mặt;
3. Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị L; Địa chỉ:
Thôn C, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk - Nay Thôn C, E, tỉnh Đắk Lắk, Vắng mặt.
* Kháng cáo: Do có kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Kiên .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và đại diện
theo ủy quyền của nguyên đơn ông Đoàn Quang H1 trình bày:
Do có mối quan hệ quen biết từ lâu nên trước đây ông Trần Xuân H, Thị
T cho ông Nguyễn K vay số tiền 550.000.000 đồng. Đến ngày 04/3/2024, ông K
trả được cho ông H, bà T số tiền gốc 200.000.000 đồng, còn lại tiền gốc 350.000.000
đồng tiền lãi 130.00.000 đồng ông K chưa trả được. vậy, ông K viết lại giấy vay
(Biên lai nhận tiền theo mẫu in sẵn của Đại thu mua nông sản K1) số tiền
350.000.000 đồng. Ông K cam kết thời hạn trả 12 tháng, lãi suất 1,1%. Sau đó khoảng
10 ngày ngày 14/3/2024, ông K viết luôn vào mặt sau của giấy Biên lai nhận tiền
đề ngày 04/3/2024 số tiền lãi của số tiền 350.000.00 đồng tính đến trước ngày
04/3/2024 là 130.00.000 đồng.
Như vậy, đến nay ông K còn nợ ông H, T 350.000.000 đồng tiền gốc
lãi suất tngày 04/3/2024 đến nay; số tiền lãi của số tiền gốc 550.000.000 đồng
chốt trước ngày 04/3/2024 130.000.000 đồng. Đến hẹn trả tiền gốc lãi, ông K
không trả cho vợ chồng ông H theo cam kết. Vợ chồng ông H đã nhiều lần yêu cầu
ông K trả số tiền nhưng ông K vẫn không trả.
Nay ông H, T khởi kiện yêu cầu ông K phải trả số tiền nợ gốc 350.000.000
đồng và lãi suất từ ngày 04/3/2024 đến nay.
- Đối với số tiền lãi 130.000.000 đồng, do các bên không thỏa thuận về thời
hạn trả nên nay ông H, T xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền này.
Ông H, bà T sẽ khởi kiện bằng một vụ án sau.
Đối với khoản vay ông K vay của ông H, bà T thì vợ ông K là bà Nguyễn Thị
L biết giao dịch giữa ông K ông H, T. Tuy nhiên do bà L không biết viết nên
mọi giao dịch trong gia đình chỉ ông K đứng ra tên, nhưng ông H, T xác định
là ông K, bà L đều tham gia giao dịch và việc vay mượn này làm ăn kinh tế trong gia
đình. Nên ông H, bà T yêu cầu L có trách nhiệm liên đới trả nợ cho ông T, bà H.
* Bị đơn, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Trần Huy T1 trình
bày:
Bị đơn không đồng ý với toàn bộ lời trình bày của nguyên đơn. Đây không phải
khoản tiền vay mượn giữa các bên, n cứ vào giấy biên lai nhận tiền đề ngày
04/3/2024, nội dung hình thức của biên lai thể hiện đây là tiền gửi, không phải tiền
ông K vay ông H, T. Ông K nghề nghiệp làm đại thu mua nông sản chuyên
cho người dân vay tiền, khi người dân có nhu cầu đến hỏi vay thì ông K cho vay hoặc
ứng trước, đến vụ mùa thì người dân vay tiền sẽ trả tiền hoặc trả bằng hiện vật bằng
phê hoặc nông sản. Do mối quan hệ quen biết chơi thân với nhau trong xóm
làng nên ông H, T gửi tiền cho ông K để lấy lợi nhuận, sau 01 năm sẽ thanh
toán lợi nhuận và đổi phiếu nhận tiền một lần nếu bên gửi tiền không rút tiền gốc về.
Đối với giấy biên nhận đề ngày 04/3/2024, ông K chưa thanh toán lợi nhuận
chưa thanh toán số tiền gốc cho ông H bà T. Lý do là khi thời hạn gửi tiền mới được
09 tháng, chưa đến thời hạn trả gốc và trả lãi, ông H bà T đã khởi kiện ông K ra Tòa
án. Sau đó ông H, bà T rút yêu cầu khởi kiện.
3
Ông K chỉ đồng ý trả lại số tiền gốc ông H, T gửi tại đại của ông K
350.000.000 đồng, còn số tiền lợi nhuận tính từ ngày 04/3/2024 đến nay thì ông K
không đồng ý trả lãi cho T, ông H, vì ông T, H đã vi phạm thỏa thuận vào
giấy biên lai giữa các bên, chưa đến thời hạn ông T, bà H đơn phương kiện ông K trả
số tiền đã gửi giữ. Đồng thời, do ông H, bà T không xác định đúng bản chất của giao
dịch gửi gitài sản đây kiện đòi tài sản, nên bị đơn không đồng ý trả cho
nguyên đơn số tiền lãi của số tiền 350.000.000 đồng từ ngày 04/3/2024 đến nay.
Về việc ông H, T xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với s tiền
130.000.000 đồng, bị đơn không có ý kiến gì.
Đối với yêu cầu của nguyên đơn đưa bà L vợ ông K vào tham gia tố tụng và
yêu cầu bà L có trách nhiệm liên đới cùng ông K trả tiền, bị đơn không đồng ý.tại
thời điểm xác lập giao dịch, không mặt L, trong biên lai nhận tiền không có chữ
hoặc điểm chỉ của L. Đây giao dịch phát sinh do một bên xác lập, không
nhu cầu thiết yếu của gia đình nên không thể buộc L liên đới chịu trách nhiệm thực
hiện nghĩa vụ cùng ông K.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Nguyễn Thị L trình bày:
ông Nguyễn K vchồng. Đại thu mua nông sản Kiên Liên của
ông K, L. Tuy nhiên, do L đọc kém không viết được nên L không tham
gia vào giao dịch mua bán, gửi giữ tiền của gia đình mà một mình ông K trực tiếp phụ
trách, giấy tờ giao dịch và quản lý sổ sách. Tất cả các giao dịch mua bán, gửi nông
sản, mua bán nông sản với người dân do ông K quản phụ trách, L không tham
gia vào các công việc này.
L chỉ biết sự việc ông H, T gửi tiền tại đại lý nông sản của gia đình
L để lấy lãi. Tuy nhiên, số tiền gửi cụ thể là bao nhiêu tiền, gửi vào năm nào, lãi suất
bao nhiêu, ông K vợ chồng ông H, T thỏa thuận với nhau như thế nào về việc
trả tiền gốc và tiền lãi, thời gian trả thì bà L không biết. Trong quá trình ông H, bà T
làm ăn với gia đình bà L thì bà L chỉ biết ông H, bà T có gửi tiền, sau này khi xảy ra
tranh chấp với nhau về vấn đề tiền gửi thì ông K mới nói cho bà L biết số tiền ông K
chưa thanh toán cho ông H, T 350.000.000 đồng. Ông K giao dịch dân sự với
người dân nhằm mục đích cho một mình cá nhân ông K, không liên quan đến bà L.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 22/2025/DS-ST ngày 18/9/2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực 7 - Đắk Lắk, đã quyết định:
- Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39;
Điều 144; Điều 147, Điều 244, Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự;
- Khoản 20 Điều 3, Điều 35 Luật hôn nhân gia đình;
Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về
án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
4
[1.1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Xuân H, Thị T. Buộc
ông Nguyễn K có nghĩa vụ trả cho ông H, bà T tổng số tiền nợ là 421.610.000 đồng;
trong đó: Tiền nợ gốc là 350.000.000 đồng, nợ lãi là 71.610.000 đồng (tính đến ngày
18/9/2025).
Kể tngày tiếp theo của ngày xét xử thẩm cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự.
[1.2] Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền
130.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo, án phí cho các đương sự
theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 02/10/2025 bị đơn ông Nguyễn K có đơn kháng
cáo với nội dung: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, đánh giá lại toàn bộ nội
dung Bản án thẩm, xem xét lại trình tự, thủ tục tố tụng cấp thẩm đã thực hiện,
tuyên sửa Bản án thẩm theo hướng không tính lãi suất đối với số tiền gửi do bên
gửi tài sản có lỗi vi phạm thời hạn của hợp đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị
giữ nguyên Quyết định của bản án dân sự thẩm; bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu
kháng cáo như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa trình bày ý
kiến xác định:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán cũng ntại phiên
tòa, Hội đồng xét xử, Thư các đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của pháp
luật tố tụng dân sự;
Về nội dung: Trước ngày 04/3/2024, ông Trần Xuân H, Thị T cho ông
Nguyễn K vay một stiền. Đến ngày 04/3/2024, ông K trả được cho ông H, bà T mt
phần tiền gốc, còn tiền lãi 130.00.000 đồng ông K chưa trả được nên ông K viết lại
giấy vay (Biên lai nhận tiền theo mẫu in sẵn của Đại lý thu mua nông sản K1) với số
tiền là 350.000.000 đồng. Việc vay mượn tiền giữa các bên được thể hiện bằng Giấy
biên nhận tiền ngày 04/3/2024. Theo đó, các bên thỏa thuận lãi suất 1,1%/tháng; thời
hạn trả là 12 tháng. Như vậy, việc vayợn tiền giữa các bên là có thật. Đến hạn trả
nợ cho đến nay, ông K vẫn không trả ông H, bà T số tiền nợ gốc 350.000.000 đồng
và tiền lãi phát sinh nên ông H, bà T yêu cầu ông K phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ là
có căn cứ nên kháng cáo của bị đơn là không có cơ sở để chấp nhận.
Do đó, đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn K,
giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết
quả tranh tụng tại phiên toà, trên sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng
cứ, lời trình bày của các đương sự và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận
định như sau:
5
[1] Xét đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn K, thì thấy:
[1.1] Về thủ tục tố tụng của Tòa án cấp thẩm: Qua xem xét các tài liệu được
thu thập có trong hồ sơ vụ án thì thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng, đầy đủ
các thủ tụng tố tụng để đưa vụ án ra xét xử đúng thời hạn, thẩm quyền đúng quy
định của pháp luật. Việc xác định quan hệ tranh chấp thì căn cứ “Biên lai nhận tiền”
đề ngày 04 tháng 3 năm 2024 thể hiện ông K nhận của ông H, T số tiền
350.000.000 đồng, lãi suất 1,1%/tháng, thời hạn 12 tháng, tại mặt sau ghi thêm “N
lại 130.000.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp thẩm xác định quan hệ tranh chấp
Tranh chấp hợp đồng vay tài sản là phù hợp.
[1.2]. Về nội dung tranh chấp: Việc vay mượn tiền giữa các bên là có thật. Bị
đơn ông Nguyễn K cũng thừa nhận chỉ đồng ý trả cho nguyên đơn số tiền gốc
350.000.000 đồng, n tiền lãi, bị đơn không đồng ý trả. ông K cho rằng đây không
phải khoản tiền vay mượn giữa các bên đây là tiền gửi nhưng không có chứng cứ,
tài liệu để chứng minh giữa các bên mối quan hệ gửi tiền để cho người khác vay
lại, cũng như số tiền này tiền gửi chứ không phải tiền vay mượn cũng như nguyên
đơn không thừa nhận nội dung này. Do đó, không căn cứ để chấp nhận yêu cầu
kháng cáo về việc không đồng ý trả số tiền lãi của ông Nguyễn Kiên .
Do đó, kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn K không căn cứ để chấp nhận
mà cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm là phù hợp.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn K được miễn tiền án phí dân sự
phúc thẩm do là người cao tuổi.
[4] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn K; giữ nguyên Quyết
định của Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2025/DS-ST ngày 19/9/2025 của Tòa án nhân
dân Khu vực 7 - Đắk Lắk.
- Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39;
Điều 144; Điều 147, Điều 244, Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự;
- Khoản 20 Điều 3, Điều 35 Luật hôn nhân gia đình;
Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về
án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Xuân H, Lê Thị T. Buộc ông
Nguyễn K nghĩa vụ trả cho ông H, T tổng số tiền nợ 421.610.000 đồng; trong
6
đó: Tiền nợ gốc 350.000.000 đồng, nợ lãi 71.610.000 đồng (tính đến ngày
18/9/2025).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên
phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự.
[2] Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với s tiền
130.000.000 đồng.
[3] Về án phí:
Ông Nguyễn K người cao tuổi, đã đơn xin miễn án phí nên được miễn
toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.
[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng o, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân
sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án
dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa phúc thẩm TANDTC tại Đà Nẵng;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND Khu vực 7 – Đắk Lắk;
- Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk;
- Các đương sự;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Hồng
Tải về
Bản án số 175/2026/DS-PT Bản án số 175/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 175/2026/DS-PT Bản án số 175/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất