Bản án số 141/2026/DS-PT ngày 10/03/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 141/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 141/2026/DS-PT ngày 10/03/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 141/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: bà Trần Thị T, khởi kiện vyêu cầu tòa án buộc ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị Hồng B phải trả cho Trần Thị T số tiền 73.000.000 đồng (Bảy mươi ba triệu đồng) và 1.200 kg (Một nghìn hai trăm ki lô gam) cà phê nhân xô quy chuẩn.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐẮK LẮK Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 141/2026/DS-PT
Ngày: 10 - 3 - 2026
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay i sản kiện đòi i sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Tuyết
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đình Triết
Ông Lê Ngọc Minh
- Thư ký phiên toà: Bà Thị Hồng Phúc - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk.
- Đại din Vin kim sát nhân dân tnh Đắk Lk: Trương Thị Thu
Thy - Kim sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 10 tháng 3 năm 2026, tại trụ sToà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 609/2025/TLPT-DS ngày 17
tháng 12 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đng vay tài sn kiện đòi tài sn”.
Do bản án dân sự thẩm số: 28/2025/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực 9 - Đắk Lắk bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 81/2026/QĐ-PT ngày
14 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Bà Trần Thị T sinh năm 1981
Nơi cư trú: Thôn 2B, xã EH, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).
Đại diện theo ủy quyền: Bà Đinh Thị Thu A sinh năm 1995
Nơi cư trú: Tổ dân phố 7, phường TL, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).
*Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng B, sinh năm 1966
Nơi cư trú; Thôn 2B, xã EH, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).
Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Phương L sinh năm 1995
Nơi cư trú: Thôn 2B, xã EH, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1956 .
Nơi cư trú: Thôn 2B, xã EH, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Ti đơn khi kin quá tnh giải quyết v án nguyên đơn Trn Th T
và người đại diện theo ủy quyền bà Đinh Thị Thu A trình bày:
Trong quá trình làm ăn, Trần Thị T nhiều lần cho vợ chồng
Nguyễn Thị Hồng B (bà T gọi B mệ), ông Nguyễn Văn M vay tiền và
phê cụ thể như sau:
- Ngày 09/01/2022, bà B đến mượn bà T 01 tạ phê nhân xô quy chuẩn.
Do T không có nhà nên chồng bà T anh Nguyễn Hữu Ngọc giao cho B.
Bà B không ký xác nhận lần này nhưng những lần sau đó khi mượn ký xác nhận
là xác nhận đồng thời khoản vay trước đó.
- Ngày 12/01/2022, bà B ợn 01 tạ phê nhân quy chuẩn với giá
40.400 đồng/kg. Bà B trực tiếp ký nhận.
- Ngày 28/01/2022, bà B mượn 5.000.000 đồng, sau đó mượn thêm
3.000.000 đồng, tổng cộng 8.000.000 đồng. Bà B trực tiếp ký nhận.
- Ngày 24/01/2022, B mượn 01 tấn phê nhân quy chuẩn, giá
40.200 đồng/kg tương đương 40.200.000 đồng. Bà B trực tiếp ký nhận.
- Ngày 09/3/2022, ông M mượn 5.000.000 đồng. Ông M không nhận
nhưng lần mượn sauB xác nhận để đồng ý khoản vay trước đó).
- Ngày17/3/2022, ông M mượn 20.000.000 đồng, bà B ký xác nhận.
- Ngày 10/4/2022, mệ (tức là B) mượn 10.000.000 đồng. B xác
nhận.
- Ngày14/4/2022, bà B mượn 20.000.000 đồng. Bà B ký xác nhận.
- Ngày11/10/2022, bà B mượn 10.000.000 đồng. Bà B ký xác nhận.
Tổng cộng, bà B, ông M đã mượn 73.000.000 đồng và 1,2 tấn cà phê nhân
xô quy chuẩn.
Mặc dù, đã nhiều lần bà T yêu cầu bà B, ông M trả nợ nhưng bà B, ông M
không chịu thanh toán. vậy, T làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc
B, ông M thanh toán số nợ tiền và cà phê cho bà T theo quy định của pháp luật.
Tại đơn khởi kiện T chỉ yêu cầu khởi kiện đối với B, tuy nhiên nay
bà T yêu cầu cả bà B và ông M cùng có trách nhiệm trả khoản nợ này cho bà T.
3
Quá trình tham gia tố tụng bị đơn Nguyễn Thị Hồng B người đại
diện theo ủy quyền Nguyễn Thị Phương L; người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan là ông Nguyễn Văn M trình bày:
Trong quá trình làm ăn, bà B gửi phê tiền cho T, sau đó bán
dần để lấy tiền. Tuy nhiên, số lần cụ thể thì không thể nhớ do thời gian đã lâu.
B khẳng định các khoản vay mượn này đã được T tính viết giấy
chốt công nợ cho bà B vào năm 2022 (bà T viết giấy chốt nợ và gạch sổ trong sổ
của bà B; việc gửi và mua bán cà phê giữa bà T và bà B đã được giải quyết xong
tại Bản án số 07/2024/DSST ngày 18/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ea
H’Leo, tỉnh Đắk Lắk. Vì vậy, bà B không còn nợ bà T khoản tiền và cà phê nào.
Ngoài ra, trong các giấy mượn tiền mà bà T cung cấp có dấu hiệu của việc chỉnh
sửa nội dung, nên B đề nghị Tòa án xem xét theo Bản án số 07/2024/DSST
ngày 18/01/2024 khi vợ chồng bà B khởi kiện bà T thì không còn khoản vay nào
vợ chồng bà B nợ T.
Ý kiến của ông M: Bản thân ông M không vay nợ tiền hay phê với
T.
Do đó, bà B không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Thinh về
việc yêu cầu B trả stiền 73.000.000 đồng 1,2 tấn phê nhân quy
chuẩn.
Tại Bn án n sự sơ thẩm số 28/2025/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2025
ca Toà án nhân dân khu vực 9 - Đk Lk đã quyết định:
Áp dụng các Điều 117; 118; 119, Điều 463 Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều
26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định
về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần
Thị T, về việc buộc ông Nguyễn Văn M Nguyễn Thị Hồng B phải trả cho
Trần Thị T số tiền 73.000.000 đồng (Bảy mươi ba triệu đồng) 1.200 kg (Một
nghìn hai trăm ki lô gam) cà phê nhân xô quy chuẩn.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định v án phí và quyn kháng o
cho các đương sự theo quy đnh của pháp luật.
Ny 29/9/2025 nguyên đơn bà Trần ThT kháng cáo toàn bộ bản án dân sự
thẩm số: 28/2025/DS-ST ngày 24/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9-
Đắk Lắk. Đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của bà T.
4
Tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị T vẫn giữ nguyên nội dung đơn khởi
kiện, đơn kháng cáo. Bị đơn Nguyễn Thị Hồng B đề nghị không chấp nhận
đơn khởi kiện, đơn kháng cáo của nguyên đơn.
Tại phn a, đại din Viện kiểm sát nhân n tỉnh Đk Lắk phát biểu quan
đim vván:
Về tố tụng: Trong quá trình th lý giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng t
x, Thư ký, c đương sự đã chấp nh đúng quy đnh ca Blut tố tụng n sự.
Vnội dung: Đề ngh hội đng xét xử căn c khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2015; Không chấp nhận kháng cáo của Trần Thị T - giữ
nguyên Bản án dân sự thẩm s28/2025/DS-ST ny 24 tháng 9 năm 2025 ca
Toà án nn n khu vực 9 - Đk Lk.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn co các tài liệu có trong hsơ ván đã đưc thẩm tra tại phiên a,
căn cứ o kết qu tranh luận tại phn tòa trên cơ sở xem t đầy đcác i liệu
chứng cứ, li tnh bày củac đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hi đồng xét x
nhận định:
[1] Vthtc tố tụng: Đơn kháng o của Trần Thị T làm trong hạn lut
đnh, đã nộp tm ng án phí Dân sự phúc thẩm nên đưc xem xét theo trình tự phúc
thm.
[2] Xét ni dung kháng o ca bà Trần ThT, Hội đng t xử thấy rằng:
[2.1] Nguyễn Thị Hồng B trình bày từ m 2018 gia đình B
mang tài sản phê nhân xô đến gửi tại đại thu mua nông sản của gia đình
Trần Th T, khi cần tiền thì đến bán theo giá phê tại thời điểm việc gửi
chốt bán phê được thiết lập thành 02 bản, nội dung như nhau do bà
Trần Thị T tự viết, B ký. Một bản T giữ, một bản giao cho B giữ để
theo dõi. Hai bên tính toán xong và T đã gạch toàn bộ s nợ này trong s theo dõi
của B, B không biết chữ n toàn bộ ch viết trên giấy là của bà T. T viết
li giấy xác nhận còn n phê của bà B n B đã làm đơn khởi kiện được giải
quyết ti Bản án số 07/2024/DSST ngày 18/01/2024. Bản án đã có hiệu lực pháp
luật, bà T đã thực hiện xong nghĩa vụ tại Cơ quan Thi hành án. Hiện nay nguyên
đơn và bị đơn không ai còn nợ nần ai.
Đối với các tài liệu chứng cứ do bà T xuất trình, bà B cho rằng các chữ ký
B đã vào các giấy tờ do T cung cấp do B để bán phê
5
nhận tiền từ việc bán phê với T. T đã tự ý chỉnh sửa, viết thêm nội
dung cho rằng vợ chồng B vay mượn tiền phê của T không đúng
sự thật.
Đối với giấy chốt nợ tiền bà B trình bày: Do bà T nói gia đình bà B có tiền
thì đem đến gửi cho T để lấy lãi hàng tháng. Ngày 22/02/2022 B đưa
cho T 40.000.000 đồng với lãi suất 2%/tháng, T viết giấy nợ B
40.0000.000đồng. Sau đó, khi cần tiền bà B đã đến lấy của bà T các lần như sau:
Ngày 17/3 lấy 20.000.000 đồng, ngày 10/4 lấy 10.000.000 đồng, ngày 14/4 lấy
10.000.000 đồng. Tổng 03 lần B lấy số tiền 40.000.000 đồng hết khoản
tiền 40.000.000 đồng B gửi T tớc đó. Tại giấy do T cung cấp đã
chỉnh sửa số tiền, ghi thêm chữ mượn vào giấy vay thực tế đây khoản tiền
B đến lấy chứ không phải mượn.
Ngoài ra, T đã tự ý ghi thêm ngày 09/3 ông mượn 5.000.000 đồng.
Ngày 11/10 T tự ý ghi thêm mệ lấy 10.000.000 đồng đều không xác nhận
của vợ chồng bà. Chữ ký B ngày 11/10 không phải chữ ký của bà vì trước khi bà
T khởi kiện T đã đưa cho B giấy chốt vay tiền thì không hề xác nhận
chữ ký B ở khoản vay.
Q trình tham gia ttng bà T tha nhận các tài liu chứng cứ do T xuất
trình đã tý sửa chữa nội dung trước khi nộp đơn khởi kiện cho Tòa án. C
thể T ghi thêm chữ “mượn” vào các khoản vay ngày 09/3/2022, 17/3/2022,
10/4/2022, 14/4/2022, 11/10/2022. Tại khoản vay ngày 17/3/2022 bà T xác nhận
đã tự sửa tsố 1 thành số 2 ngày 17/3/2022 ông M lấy 10.000.000 đồng, sau
đó B lấy thêm 10.000.000 đồng nên sửa từ 10.000.000đồng thành
20.000.000 đồng. Vào ngày 14/4/2022 B lấy 2 lần tiền, mỗi lần 10.000.000
đồng, do đó T cũng tự ý sửa từ số 1 thành số 2, nghĩa ngày 14/4 B
lấy 20.000.000 đồng. Số tiền này bà B chưa thanh toán cho bà T.
Đối với giấy chốt về số lượng 1.200 kg phê nhân quy chuẩn
8.000.000 đồng B đã vay của T, T ng thừa nhận sửa từ bánthành
“mượn”. T cho rằng, mục đích của T tự ý sửa chữa “bán” thành chữ
“mượn” tại giấy chốt là để tự diễn giải ý nghĩa của việc lấy tiền của B
“mượn”. Mặt khác, T trình bày đại thu mua phê nên vào các ngày
09/01, 12/01, 24/01 B đã ra đại của T yêu cầu bán phê non ghi
nhận sẽ bán tổng 1,2 tấn phê theo giá tại thời điểm bán B đã nhận đủ
tiền nhưng chưa giao phê cho bà T.
Đối với số cà phê bà T nợ thì bà B đã khởi kiện và được Tòa án giải quyết
tại Bản án số 07/2024/DSST ngày 18/01/2024.
6
[2.2] Xét thấy, bà T và bà B đều thừa nhận vào năm 2022, bà B có gửi cho
T 3,2 tấn cà phê nhân xô. Do nhu cầu của gia đình nên bà B đã bán dần số
phê trên cho bà T theo giá thị trường tại thời điểm bán, quá trình bán cà phê bà T
là người viết giấy và đều ghi làm hai bản bà B và bà T mỗi người giữ một bản.
Tại giấy do bà B cung cấp có thể hiện nội dung ngày 09/01 bà B n 01 tạ
phê; ngày 12/01 bán 01 tạ phê, 28/01 mệ mượn 5.000.000 + 3.000.000
ngày 24/01 bán 01 tấn phê. T cũng thừa nhận đã chỉnh sửa từ chữ “bán”
thành chữ “mượn” tại giấy chốt T giữ. Do đó, lời khai của bà B cho rằng
B ký giấy chốt để bán cà phê và nhận tiền từ việc bán cà phê với bà T chứ không
mượn cà phê là có căn cứ.
B cung cấp tài liệu chứng cứ tại bút lục số 40 thể hiện các khoản bán
cà phê ngày 9/1, 12/1, 24/1 và khoản nợ 8.000.000 đồng ngày 28/1 đã được gạch
bỏ, tại biên bản phiên tòa thẩm bút lục số 126T cũng thừa nhận tài liệu bà
B cung cấp các bên đã tính toán xong gạch chéo phù hợp với lời khai của
B cho rằng các bên đã tính toán xong, gạch bỏ thỏa thuận viết giấy khác
thể hiện bà T nợ bà B số cà phê 1.475kg cà phê. Số nợ này được giải quyết bằng
bản án số 07/2024/DSST ngày 18/01/2024, các bên đã thi hành án xong.
T cho rằng tài liệu gạch chéo B xuất trình khoản nợ khác không
liên quan đến khoản nợ bà đang khởi kiện nhưng không cung cấp được chứng cứ
chứng minh, bị đơn cũng không thừa nhận nên kháng cáo của T không
sở.
[2.3] Về khoản nợ tiền mặt: Tại bút lục số 24 B cung cấp tài liệu th
hiện bà T nợ B 40.000.000 đồng, Tại phiên tòa phúc thẩm bà B cung cấp bản
chính thể hiện ngày 22/02/2022 Thinhj có mượn mệ B 40.000.000 đồng chẵn lãi
2 phảy. T cũng thừa nhận nợ của bà B 40.000.000 đồng. B cho rằng
vào các ngày 17/3/2022, 10/4/2022 và ngày 14/4/2022, bà B đến lấy nợ của bà T
số tiền 40.000.000 đồng mà bà B đã cho bà T mượn trước đó. Các lần lấy tiền có
sau khi thời gian bà T mượn 40.000.000 đồng của bà B nên không căn cứ
việc bà B đang nợ T số tiền 50.000.000 đồng trong các ngày 17/3/2022,
10/4/2022 ngày 14/4/2022. Đối với khoản nợ ngày 9/3/2022 không xác
nhận của vợ chồng B, khoản nợ ngày 11/10/2022 tài liệu do B cung cấp
bút lục số 51 không xác nhận của vợ chồng bà B, nên không căn cứ để
chấp nhận. Mặt khác, tại giấy chốt nợ tiền mặt bà T cũng thừa nhận đã chỉnh sửa
các con số và ghi thêm chữ mượn trong giấy vay.
Từ những phân tích nhận định nêu trên, Hội đồng xét xxét thấy bản án
thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn căn cứ, đúng
pháp luật, kháng cáo của bà T là không có cơ sở nên cần giữ nguyên Bản án dân
7
sự thẩm s 2/8/2025/DS-ST ngày 24 tng 9 năm 2025 ca Toà án nhân dân khu
vc 9 - Đắk Lk.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do đơn kháng cáo không được chấp nhận
nên bà Trần ThT phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của Trần Thị T - giữ nguyên Bản án dân
sự sơ thẩm s28/2025/DS-ST ny 24 tng 9 năm 2025 ca T án nhân n khu
vc 9 - Đắk Lk.
[2]. Điều luật áp dụng: Áp dụng các Điều 117; 118; 119, Điều 463 Bộ luật
Dân sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy
định vmức thu, miễn giảm, thu nộp, quản sdụng án phí lphí Tòa
án.
[3]. Tuyên xử:
[3.1]. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Trần Thị T, về việc buộc ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị Hồng B phải trả
cho Trần Thị T số tiền 73.000.000 đồng (Bảy mươi ba triệu đồng) 1.200 kg
(Một nghìn hai trăm ki lô gam) cà phê nhân xô quy chuẩn.
[3.2].Về án phí dân sự thẩm: Trần Thị T phải chịu 10.550.000 đồng
án phí dân sự sơ thẩm, khu trừ số tiền 5.695.000 đồng (Năm triệu sáu trăm chín
mươi lăm nghìn đồng) tạm ứng án phí Trần Thị T đã nộp theo biên lai số
AA/2023/0002775 ngày 12/5/2025, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea
H’Leo (Nay Phòng THADS khu vực 9 Đắk Lắk). bà Trần Thị T tiếp tục
phải nộp số tiền 4.855.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[3.3]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị T phải chịu 300.000 đồng
tiền án phí phúc thẩm, khấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm
đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001644 ngày 07/10/2025 tại Thi
hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk (ông Nguyễn Hữu V nộp thay).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Đắk Lắk; Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- TAND khu vực 9;
- Phòng Thi hành án khu vực 9; (Đã ký)
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
8
Đinh Thị Tuyết
Tải về
Bản án số 141/2026/DS-PT Bản án số 141/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 141/2026/DS-PT Bản án số 141/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất