Bản án số 1152/2026/DS-PT ngày 08/06/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1152/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1152/2026/DS-PT ngày 08/06/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 1152/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 08/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã ký
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1152/2026/DS-PT Bản án số 1152/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1152/2026/DS-PT Bản án số 1152/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 1152/2026/DS-PT
Ngày: 08-6-2026
V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, đòi lại
nhà đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- :
- : Bà Bùi Thị Thương
Ông Cao Minh Vỹ
Ông Hoàng Trí Thức
- : Nguyễn Thị Vy Thư Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
-  tham gia
phiên tòa: Bà Bùi Thị Doan – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh sở A, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số
597/2026/TLPT-DS ngày 24 tháng 3 năm 2026 về việc 
 ”.
Do Bản án dân sự thẩm số 13/2026/DSST ngày 16 tháng 01 năm 2026
của Tòa án nhân dân Khu vực X, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3006/2026/QĐ-PT ngày
07 tháng 5 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 7308/2026/QĐ-
PT ngày 19 tháng 5 năm 2026; Quyết định tạm ngừng phiên tòa s
7985/2026/QĐ- PT ngày 29 tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:
 Ông Hoàng Đông H, sinh năm 1949 (có mặt) Trần
Thị S, sinh năm 1957 (có mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp H, xã N, Thành phố Hồ Chí Minh.
 Ông Lê Minh P, sinh năm 1989
(có mặt);
Địa chỉ: Trung tâm trợ giúp pháp Nhà nước số 3, Thành phố Hồ Chí
Minh.
Ông Văn T, sinh năm 1975 (vắng mặt) Trần Thị V,
sinh năm 1977 (vắng mặt);
2
Cùng địa chỉ: 211/2/1 hẻm B đường Â, xã N, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Ông Hồ Khắc N, sinh năm 1983 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp C, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Lê Công Đ, sinh năm 1992 (có mặt);
Địa chỉ: 2, TX B, khu phố B, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. 
3.1. Bà Hoàng Thị Thủy T1, sinh năm 1984 (có mặt);
3.2. Ông Trần Xuân T2, sinh năm 1981 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp H, xã N, Thành phố Hồ Chí Minh.
3.3. Ông Võ Văn H1, sinh năm 2000 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
3.4. Bà Võ Thị Kim B, sinh năm 2002 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Thôn T, xã K, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. 
4.1. Ông Nguyễn Đình C, sinh năm 1954 (vắng mặt);
Địa chỉ: 3 L, ấp H, xã N, Thành phố Hồ Chí Minh.
4.2. Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1962 (có mặt);
Địa chỉ: Hẻm F L, ấp H, xã N, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn ông Võ Văn T và bà Trần Thị V.
NỘI DUNG VỤ ÁN:

Hoàng Thị Thủy T1 con của ông Hoàng Đông H Trần Thị S.
T1 vay tiền của vợ chồng ông Văn T Trần Thị V để kinh doanh buôn
bán. Việc cho vay nhiều lần nên giữa V T1 mối quan hệ thân thiết.
kinh doanh thua lỗ, T1 chưa tiền trcho V ông T nên V đề nghị
T1 làm ăn chung để có tiền trả nợ. Theo đó, bà V là người đưa tiền cho bà T1
cho vay trả góp và thu tiền hàng ngày cho ông T bà V, bà T1 sẽ được hưởng tiền
chênh lệch.
Năm 2018 2019, những người vay trốn tránh không trả tiền cho T1
nhưng T1 vẫn phải trả tiền cho V ông T. Khi số nợ lên đến khoảng
2.000.000.000 đồng thì T1 không khả năng thanh toán cho V ông T,
nên ông H S thỏa thuận với ông T bà V rằng trước mắt ông H S đồng ý
sang tên thửa đất số 8, tờ bản đồ số 100A, tọa lạc tại thị trấn N, huyện C, tỉnh
Rịa - Vũng Tàu (nay N, Thành phố Hồ Chí Minh) (sau đây gọi tắt thửa
đất số 8) cho ông T V đkhấu trừ số tiền 2.000.000.000 đồng bà T1 đã nợ.
Do đó, hai bên đã lập thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ông T V đã
được cập nhật tại trang 4 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày
3
24/3/2020. Mặc đã sang tên nhưng nhà đất, tài sản trên đất thực tế vẫn do
gia đình ông H S quản lý, sử dụng để thời gian sau ông H S nhận chuyển
nhượng lại theo giá thị trường. Ông H S không nhận của ông T V bất kỳ
một khoản tiền nào.
Đến năm 2021, ông H bà S thỏa thuận với ông T V sẽ nhận chuyển
nhượng lại nhà đất nêu trên, cụ thể như sau: Ngày 27/12/2021, ông H S cùng
ông T V thỏa thuận thống nhất giá chuyển nhượng thửa đất 3.000.000.000
đồng thanh toán tiền theo hình thức trả góp với mức lãi suất cao 17.500.000
đồng/ngày trong thời gian 04 tháng (120 ngày). Thời điểm này, ông T V
đang thế chấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất tại Ngân hàng Thương mại
Cổ phần Phát triển Thành phố H, chi nhánh C2 (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) để
vay với số tiền 1.250.000.000 đồng, nên ông T V buộc ông H S phải chịu
tiền lãi Ngân hàng mỗi tháng cho đến khi tất toán khoản vay. Khi thanh toán đủ
số tiền 1.750.000.000 đồng thì ông H S sẽ tiếp tục thanh toán tiền gốc còn lại
với Ngân hàng, được giải chấp thì các bên công chứng hợp đồng chuyển
nhượng. Hai bên có lập hợp đồng chuyển nhượng đất viết tay tại nhà ông H bà S
đang ở. Người viết hợp đồng T1, lúc viết mặt ông H S, V ông T,
tuy nhiên chỉ có đại diện bên mua ông H bên bán ông T tên. Các bên
thỏa thuận thêm rằng bà T1 là người đại diện gia đình trả tiền cho ông T bà V.
Cho đến khoảng ngày 30/4/2022 xem như việc thanh toán của ông H bà S
đã hoàn thành. Sau đó, ông H S yêu cầu ông T bà V đến Ngân hàng để thanh
lý hợp đồng thế chấp và công chứng hợp đồng chuyển nhượng đất lại cho ông H
bà S nhưng ông T bà V khất lần. Trong thời gian này, ông T bà V trả tiền nợ còn
lại cho Ngân hàng, tất toán khoản vay nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất về cất giữ, trốn tránh, không công chứng sang tên cho ông H S như hợp
đồng đã kết trước đó. Thậm chí, ông T V đã khởi kiện đến Tòa án nhưng
sau đó lại rút đơn khởi kiện còn đe dọa tinh thần, sức khỏe nhằm tạo áp lực
cho gia đình ông H bà S ra khỏi nhà đất.
Ông H S làm đơn khởi kiện ông T V, yêu cầu Tòa án công nhận hợp
đồng chuyển nhượng đất viết tay ngày 27/12/2021 giữa ông H ông T đối với
thửa đất số 8 hiệu lực pháp luật. Nếu ông T V không tiếp tục thực hiện
hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất nói trên thì ông T V phải trả lại
cho ông H S số tiền 2.100.000.000 đồng (trong đó 1.750.000.000 đồng số
tiền đã trả góp trong 04 tháng, 350.000.000 đồng tiền lãi). Đồng thời ông
sẽ di dời và trả lại nhà đất cho ông T bà V.
Tại đơn khởi kiện bổ sung ông H bà S xác định sẽ thanh toán số tiền nhận
chuyển nhượng nhà đất còn lại 1.250.000.000 đồng cho ông T V; Buộc
ông T bà V bàn giao bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 8 để
làm thủ tục sang tên lại cho ông H S. Trường hợp ông T V không đồng ý
thì ông T V phải hoàn trả cho ông H S số tiền 2.100.000.000 đồng bao
gồm 1.750.000.000 đồng đã trả góp 350.000.000 đồng tiền lãi của số tiền
1.750.000.000 đồng được tính từ ngày 27/12/2021, đồng thời ông T V cũng
4
phải trả cho ông H bà S số tiền 90.000.000 đồng là chi phí cho việc sửa chữa, lát
gạch con đường vào nhà. Ông H bà S sẽ bàn giao lại nhà đất cho ông T bà V.
Tại phiên tòa thẩm, ông H S xác nhận lại yêu cầu khởi kiện yêu
cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất viết tay ngày 27/12/2021
giữa ông H, ông T đối với thửa đất số 8 hiệu lực pháp luật. Buộc ông T V
bàn giao bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông H S đồng ý
thanh toán số tiền 1.250.000.000 đồng cho ông T V. Ngoài ra, ông H bà S
không yêu cầu nào khác.

    Vào ngày 27/12/2021, ông T lập hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất viết tay giữa ông T và ông H bà S với nội dung: Ông
Thông đồng Ý chuyển nhượng thửa đất số 8 có hai căn nhà cấp 4 như hiện trạng
với giá tiền là 3.000.000.000 đồng, có thỏa thuận trả góp vì ông H bà S không có
tiền đưa đủ một lần. Khi đó ông H bà S hứa 04 tháng sau sẽ trả số tiền
1.750.000.000 đồng, đối với số tiền còn lại 1.250.000.000 đồng ông T bà V đang
vay tại Ngân hàng thì ông H S cũng trả luôn, sau khi đã thanh toán xong số
tiền 1.750.000.000 đồng.
Mặc thỏa thuận như trên nhưng ông H bà S đã không thực hiện hợp
đồng đã ngày 27/12/2021. Ông H S không trả tiền theo tiến độ thỏa thuận
cho ông T. Ông T V chưa nhận được số tiền nào từ ông H S, nên nay ông
H S khởi kiện không sở, đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của
ông H bà S.
Ông T, V yêu cầu phản tố: Yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng đất
viết tay được lập vào ngày 27/12/2021 giữa bên bán là ông T bên mua ông
H; Buộc ông H S chấm dứt hành vi ngăn cản quyền sử dụng đối với thửa đất
số 08; Buộc ông H S ra khỏi nhà đất. Ngoài ra, ông T V không yêu cầu
thêm.
[3] Quá trình t tng, nhi quyn l liên quan trình
bày:
- Bà  trình bày:
T1 là con của ông H bà S. Trước đâyT1 có vay tiền của ông T bà V
nhiều lần để làm ăn buôn bán. Công việc kinh doanh khó khăn nên T1 chỉ trả
được một phần tiền cho bà V ông T. Trong thời gian này, nhà đất do ông H bà S
đứng tên đang thế chấp Ngân hàng để vay 700.000.000 đồng đến thời gian
phải trả nợ, mặt khác ông T V cũng đòi nợ yêu cầu ông H S trả nợ cho
T1. Thời điểm đó tâm T1 khủng hoảng, không làm ăn được nữa
thương con nên ông H S đồng ý chuyển nhượng thửa đất số 8 cùng tài sản
trên đất với số tiền 2.000.000.000 đồng để cấn trừ nợ. Ông T V đưa cho
T1 700.000.000 đồng đgiải chấp tại Ngân hàng thỏa thuận thêm rằng,
khi nào tiền thì T1 sẽ nhận chuyển nhượng lại nhà đất cho ông H S.
Ông T bà V cho gia đình bà T1 tiếp tục ở trên nhà đất.
5
Năm 2021, T1 m môi giới đất lời nên đề nghị với ông T V
được nhận chuyển nhượng lại nhà đất cho ông H bà S và ông T bà V đồng ý. Do
vậy giữa ông H S ông T V hợp đồng chuyển nhượng đất viết tay
ngày 27/12/2021. Theo đó, T1 chịu trách nhiệm trả tiền cho ông T V thay
cho ông H S bằng hình thức trả góp theo ngày, mỗi ngày góp 17.500.000
đồng, trong thời hạn 120 ngày (do khi thỏa thuận, ông T V yêu cầu trả
thêm số tiền lãi nên thực tế T1 góp 120 ngày thì hoàn thành số tiền
2.100.000.000 đồng, trong đó có 1.750.000.000 đồng tiền góp nhận chuyển
nhượng nhà đất và 350.000.000 đồng tiền lãi). Việc trả tiền có khi bằng tiền mặt
do bà V là người trực tiếp nhận và có khiT1 chuyển khoản vào tài khoản của
V, tài khoản của hai người con V Văn H1 Thị Kim B. Khi
giao tiền mặt T1 không làm biên bản giao nhận khi chuyển khoản cho
V hoặc hai người con V thì T1 cũng không ghi nội dung chuyển khoản
giữa hai gia đình ông H bà S và ông T V mối quan hcha mẹ và con nuôi
nên tin tưởng nhau. Mặt khác, thời gian này bà T1 cũng đang thu tiền lời cho bà
V nên hàng ngày bà T1 chuyển cả tiền lời tiền góp nhận chuyển nhượng nhà
đất cho V không tách bạch riêng ra từng khoản, không ghi nội dung
chuyển khoản.
Đối với giấy viết tay chuyển nhượng quyền sdụng đất ngày 27/12/2021
do T1 người viết, sự chứng kiến của ông T bà V ông H S nhưng
chỉ ông T ông H ký. Còn bà V S mặt nhưng không ký hai bên
gia đình rất thân thiết tin tưởng lẫn nhau. Sau khi lập xong giấy viết tay, gia
đình bà T1 bắt đầu thực hiện việc trả góp tiền hàng ngày là 17.500.000 đồng.
Đối với việc làm ăn qua lại giữa T1 V: Như đã trình bày trên
thì giữa bà T1 và bà V mối quan làm ăn bằng việc bà V đưa tiền (có khi bằng
tiền mặt, khi chuyển khoản) để T1 cho các tiểu thương chợ khu vực
lân cận vay trả góp hàng ngày. Đến cuối ngày thì T1 V đối chiếu số
tiền, T1 sẽ đưa lại tiền cho V. người cho vay khất nợ nên T1 cũng
nợ lại bà V. Khi số tiền nợ lên đến hàng tỷ đồng thì T1 bị V khởi kiện đến
Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (nay là Toà án nhân dân Khu
vực X, Thành phố Hồ Chí Minh). Tại Tòa án, hai bên đã thỏa thuận được với
nhau về việc giải quyết vụ án nên Tòa án đã ban hành Quyết định công nhận s
thỏa thuận s44/2022/QĐST ngày 19/12/2022 về việc T đồng Ý1 trả số tiền
5.200.000.000 đồng cho ông T bà V. Cho đến nay, bà T1 vẫn chưa trả được cho
ông T V khoản tiền nào. vậy, ông T V muốn làm khó ông H bà S bằng
việc khởi kiện để đòi lại nhà đất.
T1 khẳng định việc nhận chuyển nhượng lại nhà đất thật. Bà T1
đã giao tiền như đã trình bày bên trên. Do đó, đề nghị Tòa án bảo vệ quyền lợi
cho ông H bà S. Bà T1 đồng ý với ý kiến, yêu cầu khởi kiện của ông H bà S nêu
trên, không đồng ý với yêu cầu phản tố của ông T V. Ngoài ra, T1 không
có ý kiến gì thêm.
- Ông  trình bày:
6
Ông là con rể của ông H S chồng của T1. Việc nhận chuyển
nhượng lại nhà đất là thật. Bà T1 giao tiền cho ông T bà V bằng hình thức
tiền mặt chuyển khoản. Do T1 đang nợ V 5.200.000.000 đồng chưa
tiền trả nên V ông T làm khó cho ông H S. Sau khi nhận chuyển nhượng
lại nhà đất nêu trên cho ông H S thì ông T2 T1 mrộng đường đi vào
nhà bằng việc mua đất của các hộ dân liền kề với số tiền 100.000.000 đồng. Ông
T2 hiện nay đang trên thửa đất tranh chấp, đề nghị Tòa án bảo vệ quyền lợi
cho ông H bà S. Ông T2 không đồng ý với yêu cầu phản tố của ông T bà V.
-Ông  trình bày:
Ông H1 con của ông T V. Vào ngày 29/01/2022, ông H1 nhận số
tiền 100.000.000 đồng là khoản tiền V nhờ T1 chuyển cho ông để
đóng học phí và chi phí sinh hoạt. Còn những việc khác ông không biết gì.
-Bà  trình bày:
con của ông T bà V. Vào ngày 11/01/2022, nhận số tiền
41.000.000 đồng và ngày 01/12/2021 nhận số tiền 25.000.000 đồng là số tiền mà
V nhờ T1 chuyển cho đóng tiền học phí. Ngày 06/12/2021, nhận
thêm 2.000.000 đồng số tiền V nhờ bà T1 chuyển cho để phục vụ chi
phí sinh hoạt. Còn những việc khác bà không biết gì.

-Ông  trình bày: Ông là người trong ban hòa giải của ấp
H, N, Thành phố Hồ Chí Minh. Trước đây, ông T đưa đơn nhờ ban a
giải tranh chấp đất với gia đình ông H S. Tuy nhiên, yêu cầu trên vượt quá
thẩm quyền nên ông T3 không tiến hành hòa giải. Ông T3 không biết về việc
giao tiền giữa hai bên. Gia đình ông H có bỏ ra 100.000.000 đồng để mở rộng
đường đi chung vào nhà đất.
-Ông nh C trình bày: Năm 2023 ông T V đơn xin giải
quyết vụ tranh chấp đất, gửi cho ông để nhờ khu phố giải quyết. Ông T
trình bày với ông rằng trước đây ông T nhận chuyển nhượng mảnh đất của
ông H S. Sau đó, ông T chuyển nhượng lại cho ông H S nhưng họ trả tiền
còn thiếu, ông T mới nhận từ gia đình ông H S 1.750.000.000 đồng. Tiền trả
còn thiếu nhưng gia đình ông H không trả tiếp còn chiếm dụng nhà. vụ
việc vượt quá thẩm quyền nên ban hoà giải của ấp không hòa giải, đề nghị
chuyển cơ quan khác để giải quyết theo quy định.
 -
 
1. Chp nhn yêu cu khi kin của nguyên đơn ông Hoàng Đông H,
Trn Th S đối vi ông Võ Văn T và bà Trn Th V.
1.1 Công nhn hợp đng chuyển nhượng đt lp ngày 27/12/2021 gia
ông H, bà S và ông T, bà V có hiu lc pháp lut.
1.2 Ông H, S đưc quyn s dụng đất din tích 785m
2
(có 150m
2
đất ở) thuc thửa đất s 08, t bản đồ s 100A, ta lc ti th trn N, huyn C,
7
tnh Ra - Vũng Tàu (nay N, Thành ph H Chí Minh). Buc ông T, bà
V phi bàn giao bn chính giy chng nhn quyn s dụng đất s BG 603083 do
UBND huyn C cp cho ông Hoàng Đông H ngày 06/12/2011 (chuyn dch
sang tên ngày 24/03/2020 cho ông T, bà V) cho ông H, bà S để làm th tc sang
tên. Trường hp không giao Giy chng nhn Quyn s dụng đất thì cơ quan thi
hành án thm quyn thu hi Giy chng nhn Quyn s dụng đất theo quy
định ca pháp lut.
Các đương sự có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để
tiến hành các thủ tục chỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo
quy định của pháp luật.
2. Không chp nhn yêu cu phn t ca ông T V v vic buc ông
H, S chm dứt hành vi ngăn cản ra khỏi nhà đất din tích 785m
2
(có
150m
2
đất ở) thuc thửa đt s 08, t bản đồ s 100A, ta lc ti th trn N,
huyn C, tnh Bà Ra - Vũng Tàu (nay là xã N, Thành phố H Chí Minh).
3. Buc ông H, S trách nhim tiếp tc thanh toán s tin
1.250.000.000 đồng (Mt tng) cho ông T, V
theo như hợp đồng đã ký kết.
4. Đình chỉ mt phn yêu cu khi kin của nguyên đơn đối vi b đơn về
vic yêu cu b đơn thanh toán số tiền 90.000.000 đồng (ng).
Ngoài ra, bản án sơ thm còn tuyên v chi phí t tng, nghĩa v chm thi
hành án, án phí, quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 29-01-2026, bị đơn ông Văn T Trần Thị V đơn kháng cáo,
yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, tuyên
bố giấy tay chuyển nhượng đất lập ngày 27/12/2021 giữa ông H với ông T
hiệu, buộc ông H S phải chấm dứt hành vi cản trở người quyền sử dụng
đất và giao trả đất cùng tài sản trên thửa đất số 8 cho ông T bà V.

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn xác định yêu cầu phản tố tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng
đất ngày 27-12-2021 giữa ông H, ông T; buộc ông H S ông T2 T1
những người ở trên nhà đất phải giao trả thửa đất số 8 và tài sản trên đất cho ông
T bà V.
Ông T V xác định yêu cầu kháng cáo là sửa bản án thẩm theo hướng
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H S, chấp nhận yêu cầu phản tố
của ông T bà V.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.


- Về tố tụng: Đơn kháng cáo của b đơn nộp trong thời hạn luật định.
8
Những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục tố
tụng theo quy định. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền
nghĩa vụ tố tụng.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 2 Điều 308 Điều
309 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án thẩm theo hướng không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn. Ghi
nhận sự tự nguyện của ông T bà V về việc trả cho ông H bà S số tiền 58.700.000
đồng là giá trị mái che tôn, sân bê tông mà ông H bà S đã đầu tư trên đất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, trên sở kết
quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của bị đơn nộp trong thời hạn luật định nên được chấp
nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Đương sự vắng mặt hoặc đã ủy quyền tham gia ttụng hoặc đơn
đề nghị xét xử vắng mặt hoặc được triệu tập hợp lđến lần thứ hai nhưng vẫn
vắng mặt không sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó Hội
đồng xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng
dân sự.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn
Hội đồng xét xxem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu
phản tố của bị đơn:
[2.1] Theo ông H S ông T2 T1 thì ông H bà S nhận chuyển
nhượng thửa đất số 8 cùng tài sản trên đất của ông T V theo Hợp đồng
chuyển nhượng đất ngày 27-12-2021. Việc thanh toán tiền cho ông T bà V đã
hoàn tất vào ngày 30-4-2022. Tuy nhiên ông T V không thực hiện công
chứng chuyển nhượng đt cho ông H bà S. Ông T V đã từng khởi kiện ông H
S tại Tòa án nhưng sau đó đã rút đơn khởi kiện. Từ trước đến nay đất tài
sản trên thửa đất số 8 vẫn do ông H bà S và ông T2T1 quản lý, sử dụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm ông T bà V xác định việc ông H S ký hợp đồng
chuyển nhượng thửa đất số 8 và tài sản trên đất cho ông T bà V vào năm 2020 là
quan hệ chuyển nhượng thật, không phải để cấn trừ nợ như ông H S ông
T2 T1 trình bày. Ông T bà V đã thanh toán đầy đủ tiền cho ông H S do
ông H bà S khó khăn về nơi ở nên ông T bà V nói miệng cho ông H bà S được ở
nhờ, khi nào ông T bà V có nhu cầu sẽ lấy lại.
Đối với quan hệ chuyển nhượng đất theo Hợp đồng chuyển nhượng đất
ngày 27-12-2021 thì chỉ có ông Thông đồng Ý ký kết chuyển nhượng. Ông H bà
S không thực hiện bất cứ nghĩa vụ thanh toán nào theo thỏa thuận giữa các bên
tại hợp đồng. Ông T V đã nhiều lần đòi lại nhà đất nhưng ông H S không
đồng ý trả nên ông T V đã có đơn khởi kiện tại Tòa án vào năm 2023, sau đó
rút đơn khởi kiện do muốn vụ việc được quan Công an xem xét giải quyết,
9
tuy nhiên được trả lời đây vụ việc dân sự nên khi ông T V chưa khởi kiện
lại thì ông H S đã khởi kiện vụ án này.
[2.2] Quá trình tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn cùng người
quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn ông T2 T1 xác
định:
Theo Hợp đồng chuyển nhượng đất đề ngày 27-12-2021 (BL 54 TA), tại
nhà ông H S, sự tham gia của ông T bà V ông T2 T1, các bên đã
thỏa thuận việc ông T bà V đồng ý chuyển nhượng thửa đất số 8 (có bao gồm tài
sản gắn liền trên đất) cho ông H S với giá 3.000.000.000 đồng. Ông H S
trách nhiệm thanh toán theo hình thức trả góp 04 tháng số tiền 1.750.000.000
đồng. Còn lại số tiền 1.250.000.000 đồng thì do thời điểm chuyển nhượng ông T
V đang thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 8 tại Ngân hàng
để vay khoản tiền này, nên ông H bà S có trách nhiệm trả tiền lãi cho Ngân hàng
đến khi ông H S tất toán khoản vay thay cho ông T bà V thì ông T V
chuyển nhượng thửa đất số 8 cho ông H S. Hợp đồng này chỉ ông H
ông T đại diện ký tên.
Ông H S đã ủy quyền cho bà T1 thực hiện việc thanh toán tiền cho ông
T bà V, cụ thể trả góp 04 tháng số tiền 1.750.000.000 đồng (trả theo ngày, tương
ứng với 120 ngày). Ngoài ra, theo yêu cầu của ông T V thì cùng với việc trả
góp số tiền 1.750.000.000 đồng, ông H S còn phải trả tiền lãi trên số tiền
1.750.000.000 đồng cho đến khi góp xong tiền, được tính toán 350.000.000
đồng, nên tổng số tiền trả góp trong 04 tháng là 2.100.000.000 đồng và bà T1 đã
trả cho ông T V đầy đủ thông qua hình thức chuyển khoản lẫn tiền mặt. Đối
với việc trả tiền lãi trên số tiền 1.250.000.000 đồng cho Ngân hàng thì hàng
tháng V đều nhắn tin số tiền lãi phải trả cho Ngân hàng sang cho T1 biết
T1 cũng đã thanh toán cho V đầy đủ cũng thông qua hình thức chuyển
khoản lẫn tiền mặt.
* Về phía ông T V thì cho rằng chỉ ông H ông T tham gia thỏa
thuận vào Hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 27-12-2021. V không
biết, không tham gia không đồng ý việc chuyển nhượng thửa đất số 8. Việc
thỏa thuận trả góp 04 tháng số tiền 1.750.000.000 đồng được hiểu hàng tháng
ông H S phải trả số tiền 437.500.000 đồng nhưng ông H S không thực
hiện. Ngoài ra ông H S cũng không trả bất cứ khoản tiền lãi nào trên số tiền
nợ gốc 1.250.000.000 đồng cho Ngân hàng thay ông T V như đã thỏa thuận.
Không hề việc ông H S ủy quyền cho T1 thực hiện việc trả tiền góp
nhận chuyển nhượng đất và trả tiền lãi Ngân hàng cho ông T bà V.
 Theo Hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 27-12-
2021 chỉ có chữ ký ghi họ tên của bên bán là Văn T và bên mua là Hoàng
Đông H, trong đó có nội dung        
1.750.00


.
10
Như vậy theo thỏa thuận trên thì chủ thể nghĩa vụ trả góp tiền nhận
chuyển nhượng đất và trả lãi cho Ngân hàng là ông H. Ông H S và T1 cho
rằng ông H ủy quyền cho T1 thực hiện việc trả tiền góp nhận chuyển
nhượng đất tiền lãi Ngân hàng nhưng không được ông T V thừa nhận
ông H bà S cùng T1 cũng không đưa ra được chứng cứ chứng minh.
[2.3] Tại phiên tòa phúc thẩm T1 khai giữa V các mối quan
hệ làm ăn chung như sau:
- Bà T1 vay tiền của bà V từ khoảng năm 2014-2015, kết thúc việc vay tiền
ngày 24-3-2020 (thời điểm ông H S chuyển nhượng nhà đất thửa số 8 cho
ông T V đcấn trừ nợ thay cho T1). Khi cho T1 vay tiền thì V đưa
tiền mặt, T1 trả nợ gốc lãi cho V lúc bằng tiền mặt, lúc chuyển
khoản, việc vay tiền làm nhiều lần, khi trả có thể cộng dồn và trả bằng hình thức
trả góp.
- Bà V thông qua bà T1 hoặc tự bà V cho những người khác vay tiền, bà T1
người thực hiện việc đi thu tiền lãi, gốc từ những người vay thay cho V
T1 được hưởng lợi nhuận. V đưa tiền cho T1 khi bằng tiền mặt,
khi chuyển khoản và T1 đưa tiền lại cho bà V cũng theo hai phương thức này.
Mặc dù có nhiều khoản cho vay nhưng giữa bà T1 và bà V thỏa thuận chốt lại số
tiền T1 thu tiền góp từ những người vay đ đưa cho V hàng ngày
28.000.000 đồng. Trong quan hệ này T1 V làm ăn chung từ năm 2019
và kết thúc vào ngày 19-5-2022.
Số tiền 5.200.000.000 đồng bà T1 ông T2 đồng ý trả cho ông T V theo
Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 44/2022/QĐST- DS ngày 19-12-2022
của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (cũ) không phải là khoản
nợ bà T1 vay của ông T V đây được cộng từ những số tiền V đưa
cho T1 để cho người khác vay, nay họ không đồng ý trả nợ nên T1 cùng
ông T2 phải gánh nợ trả cho ông T bà V.
- Bà T1 cùng bà V góp tiền mua đất chung từ năm 2021 và kết thúc vào đầu
năm 2022. Trong quan hệ này thì bà V đều đưa tiền mặt cho bà T1 đi mua đất và
khi có lợi nhuận thì bà T1 đều đưa tiền mặt lại cho bà V.
* Về phía ông T bà V cho rằng giữa ông bà và bà T1 có các quan hệ làm ăn
chung như sau:
- V cho T1 vay tiền từ năm 2018-2019, kết thúc vào tháng 5-2022.
T1 vay tiền nhiều lần. Khi cho vay thì V đưa tiền cho T1 khi bằng
tiền mặt, khi chuyển khoản. Khi T1 trả ncho V đều bằng hình thức
chuyển khoản. Ngày 31-5-2022 các bên chốt nợ, T1 cùng chồng ông T2
lập Giấy mượn tiền xác nhận số nợ 5.200.000.000 đồng. Tại Quyết định công
nhận sthỏa thuận số 44/2022/QĐST- DS ngày 19-12-2022 của Tòa án nhân
dân huyện C, tỉnh Rịa Vũng Tàu (cũ), T1 ông T2 đồng ý trả cho ông T
V số tiền 5.200.000.000 đồng, tuy nhiên cho đến nay thì ông T2 T1 vẫn
chưa trả cho ông T bà V khoản tiền nào.
Từ “Quay hụi” được thể hiện trong tin nhắn zalo trao đổi giữa V
11
T1 nghĩa nếu T1 chưa trả được tiền nợ vay thì V sẽ tiếp tục cho vay
lại.
- V T1 hùn tiền mua đất chung từ năm 2021, không nhớ thời gian
kết thúc quan hệ làm ăn chung này. Tất cả các lần mua đất thì bà V là người đưa
tiền mặt choT1 đi mua. Khi bà T1 đưa tiền lại cho bà V thì có khi bằng hình
thức chuyển khoản, có khi bằng tiền mặt.
Hội đồng xét xử thấy rằng lời khai bên trên của bà T1 và ông T bà V đều có
sự bất nhất. Ông T V không thừa nhận lời trình bày của T1 về việc giữa
các bên mối quan hệ làm ăn chung rằng T1 người thay V đi thu tiền
góp từ những người bà V cho vay. Ngoài ra trong mối quan hệ vay- cho vay tiền
giữa V T1 thì T1 cho rằng T1 không còn vay tiền của V từ
ngày 24-3-2020, tuy nhiên căn cứ vào hồ sao lục tại Tòa án nhân dân huyện
C, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (cũ) giải quyết vụ án ông T bà V khởi kiện ông T2
T1 đòi số tiền nợ 5.200.000.000 đồng thì T1 khai rằng T1 ông T2
vay của bà V ông T nhiều lần, ngày 31-5-2022 ông T2 T1 đã viết Giấy mượn
tiền xác nhận có nợ ông T bà V số tiền 5.200.000.000 đồng. Do giữa ông T bà V
cùng ông T2 T1 thỏa thuận được với nhau về việc T1 ông T2 đồng ý trả
cho ông T V số tiền 5.200.000.000 đồng nên Tòa án nhân dân huyện C đã
ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 44/2022/QĐST- DS ngày 19-
12-2022, do vậy nay T1 khai không còn vay tiền của ông T V từ ngày 24-
3-2022 và khoản tiền 5.200.000.000 đồng là số tiền bà T1 nhận từ V đưa cho
những người khác vay, nay họ không đồng ý trả nên T1 ông T2 phải gánh nợ
trả cho ông T bà V là hoàn toàn không phù hợp.
[2.4] Đối với việc trả tiền góp nhận chuyển nhượng đất: Theo T1 thì
đã trả góp tiền nhận chuyển nhượng đất cho ông T V thông qua hình thức
chuyển khoản tiền mặt, chứng minh cho sự bắt đầu thanh toán tiền được thể
hiện việc ngày 27-11-2021 T1 đã nhắn tin cho V qua ứng dụng zalo
nội dung 
   . T1 cho rằng điều này cũng chứng minh
được V biết, tham gia, đồng ý chuyển nhượng thửa đất số 8 cho ông H
S.
Thấy rằng việc T1 nhắn tin cho V nội dung bên trên nhưng không
được V nhắn tin phản hồi, nên không đủ căn cứ để xác định V xác nhận
thông tin về việc V biết, tham gia, đồng ý chuyển nhượng thửa đất số 8,
cũng không chứng minh được bà T1 là người thực hiện trả tiền góp nhận chuyển
nhượng đất theo sự ủy quyền của ông H bà S.
T1 còn khai rằng việc thực hiện trả tiền góp nhận chuyển nhượng đất
cho ông T bà V mỗi ngày 17.500.000 đồng, cộng với số tiền 28.000.000 đồng
cố định mỗi ngày bà T1 thu hộ V tnhững người V cho vay, nên mỗi
ngày T1 góp hai khoản, giao cho V số tiền 45.500.000 đồng. T1 trả
trực tiếp cho bà V, những ngày không gặp được V thì T1 mới chuyển
khoản. Việc thanh toán khoản tiền góp nhận chuyển nhượng đất hoàn tất vào
ngày 30-4-2022.
12
* 

T1 xác định T1 07 lần chuyển khoản giải về số tiền chuyển
khoản, cụ thể như sau:
-Ngày 11-01-2022, theo yêu cầu của V, T1 chuyển vào tài khoản
của Thị Kim B (con của V) số tiền 41.000.000 đồng (so với số tiền
45.500.000 đồng góp cho hai khoản thì T1 đưa thêm tiền mặt cho V
4.500.000 đồng).
- Ngày 19-01-2022, T1 chuyển khoản cho V 50.000.000 đồng (bà V
trả lại tiền mặt cho bà T1 4.500.000 đồng).
- Ngày 26-01-2022, bà T1 chuyển khoản cho V 115.000.000 đồng (bao
gồm 45.500.000 đồng tiền góp cho hai khoản; 65.000.000 đồng còn lại khoản
tiền lãi từ khoản tiền 1.000.000.000 đồng khác V đưa thêm cho người khác
vay).
- Ngày 29-01-2022, theo yêu cầu của V thì T1 chuyển vào tài khoản
của con bà V ông Văn H1 số tiền 100.000.000 đồng (bao gồm 17.500.000
đồng tiền góp nhận chuyển nhượng đất và số tiền còn lại tiền thu góp từ
những người vay nợ của bà V).
- Ngày 12-4-2022, bà T1 chuyển khoản cho V số tiền 100.000.000 đồng
(bao gồm 17.500.000 đồng tiền góp nhận chuyển nhượng đất số tiền còn
lại là tiền thu góp từ những người vay nợ của bà V).
- Ngày 27-4-2022, T1 chuyển khoản cho V số tiền 91.000.000 đồng
(là 02 ngày tiền góp cho hai khoản).
- Ngày 29-4-2022, T1 chuyển khoản cho V số tiền 93.000.000 đồng
(trả 02 ngày tiền góp cho hai khoản). Số tiền 2.000.000 đồng còn lại khoản
tiền lời khác có từ việc bà V cho người khác vay thêm khoản tiền.
Như vậy các lần T1 chuyển khoản nêu trên đều diễn ra trước khi ông T
V ông T2 T1 chốt nợ, được giải quyết bằng Quyết định công nhận sự
thỏa thuận số 44/2022/QĐST- DS ngày 19-12-2022. Các lần chuyển khoản này
không ghi cụ thể nội dung chuyển khoản số tiền gì. T1 tự giải về từng số
tiền chuyển khoản bên trên nhưng không được phía ông T V thừa nhận và
T1 cũng không đưa ra được chứng cứ chứng minh. Căn cứ sao tài khoản của
V T1 từ ngày 27-12-2021 đến ngày 30-4-2022 thì tổng số tiền V
chuyển cho T1 1.518.000.000 đồng, bà T1 chuyển khoản cho V ông H1
bà B 591.000.000 đồng, các lần chuyển khoản đều không ghi nội dung
chuyển khoản , nên lời khai của bà T1 cho rằng 07 lần chuyển khoản nêu
trên số tiền T1 trả tiền góp nhận chuyển nhượng đất thay cho ông H S
là không có căn cứ để chấp nhận.
* 
V: T1 khai việc trả tiền góp nhận chuyển nhượng đất
được thực hiện chủ yếu giao tiền mặt cho V bà đã trả cho bà V đều đặn
hàng ngày, những ngày không gặp thì mới chuyển khoản như trên, tuy nhiên lời
khai này của T1 cũng không được ông T V thừa nhận và bà T1 không đưa
ra được chứng cứ chứng minh.
13
Tại cấp phúc thẩmT1 cung cấp cho Hội đồng xét xử Vi bằng số 73/2026/VB-
TPLBRVT ngày 23-5-2026 lập tại Văn phòng Thừa phát lại BRVT. Theo T1
thì Vi bằng này thể hiện việc liên lạc trao đổi giữa bà T1V về số nợ và số
tiền nhận chuyển nhượng lại nhà đất. T1 giải cụ thể về từng nội dung tin
nhắn giữa bà T1 và bà V như sau:
- V nhắn ngày 05-01-2022: 

được giải 1.200.000.000 đồng khoản tiền khác bà V cho người khác vay,
được tiền lời 96.000.000 đồng; 71.500.000 đồng tiền lời của số tiền
1.000.000.000 đồng khác V cho người khác vay; 45.500.000 đồng
khoản tiền bà T1 góp cho hai khoản.
- T1 nhắn ngày 05-01-2022:  được
giải là bà T1 thông báo 1.200.000.000 đồng đã trả (không liên quan vụ án này).
- Bà V nhắn ngày 19-01-2022: 
 được giải gồm 06 ngày góp tiền nhận chuyển nhượng đất
(17.500.000 đồng/ngày x 6), cộng với các khoản tiền khác không liên quan trong
vụ án, thành số tiền là 403.000.000 đồng.
- V nhắn ngày 22-01-2022: 
   T1 nhắn ngày 22-01-2022:    góp ngày

Hai tin nhắn này được giải V cho người khác vay số tiền
1.300.000.000 đồng để nhận tiền lời.
- V nhắn ngày 25-01-2022: 
được giải 65.000.000 đồng tiền lời từ khoản tiền khác V cho
người khác vay; 45.500.000 đồng tiền T1 góp cho hai khoản, cộng thành
110.500.000 đồng.
- V nhắn ngày 12-02-2022: ngân hàng A + 91200000 =
 được giải 10.530.000 đồng tiền lời Ngân hàng V T1
mỗi người phải trả ½ ; 91.200.000 đồng thực chất do V ghi nhầm, đúng
con số phải ghi 91.000.000 đồng (khoản tiền T1 trả góp 02 ngày cho hai
khoản), cộng là 101.530.000 đồng nhưng bà V ghi nhầm là 101.730.000 đồng.
- Bà V nhắn ngày 16-02-2022: 
 được giải
71.500.000 đồng là khoản tiền lời của số tiền 1.000.000.000 đồng khác bà V cho
người khác vay; 65.000.000 đồng khoản tiền lời của số tiền 1.000.000.000
đồng khác bà V cho người khác vay; 136.500.000 đồng là tiền bà T1 góp cho hai
khoản trong 03 ngày (3 x 45.500.000 đồng/ngày); 71.500.000 đồng
65.000.000 đồng khoản tiền lời khác tnhững người vay tiền phải trả cho
V.
- V nhắn ngày 10-3-2022: 
được lý giải là tiền lời của người vay tiền phải trả cho bà V.
- V nhắn ngày 15-3-2022: 
 được giải 65.000.000 đồng khoản tiền lời khác từ những người vay
phải trả cho V; 91.000.000 đồng tiền T1 góp cho hai khoản trong 02
ngày (2 x 45.500.000 đồng/ngày).
14
- V nhắn ngày 19-3-2022: 
được lý giải bà V xác nhận trước đóV có ứng 200.000.000 đồng, để sau được
trừ vào tiền T1 góp nhận chuyển nhượng đất thu từ những người bà V cho
vay.
- V nhắn ngày 26-3-2022:        
 được giải 11 ngày T1 góp cho hai
khoản (11 x 45.5000.000 đồng/ngày = 500.500.000 đồng), cộng 65.000.000
đồng là khoản tiền lời khác có từ việc bà V cho người khác vay, nhưng bà V ứng
trước đó là 320.000.000 đồng, còn lại 245.500.000 đồng.
- V nhắn ngày 21-3-2022:  T1 nhắn
lại  được giải bà V lấy 120.000.000 đồng, trước đó V
cũng ứng trước 200.000.000 đồng, tổng cộng 320.000.000 đồng.
- Bà V nhắn ngày 11-4-2022: 
. T1 nhắn lại: được giải 03 ngày x số
tiền góp cho hai khoản 45.500.000đồng/ngày = 136.500.000 đồng, nhưng V
lại ghi 208.000.000 đồng T1 trả lời lại 206.000.000 đồng. Còn cụ thể
sao ra con số 206.000.000 đồng thì bà T1 cũng không nhớ.
- V nhắn ngày 14-4-2022: ngân hàng A1 
được giải tiền lời ngân hàng 12.300.000 đồng, cộng 02 ngày góp cho hai
khoản (45.500.000/ngày x 2 = 91.000.000 đồng), nhưng V ghi nhầm thành
92.000.000 đồng.
- V nhắn ngày 15-4-2022:        
 được giải 65.000.000 đồng khoản tiền lời khác V cho
người khác vay thêm, cộng 46.000.000 đồng (bao gồm 01 ngày T1 góp cho
hai khoản 45.500.000 đồng, cộng với có người vay thêm một khoản tiền khác
từ bà V nên được thêm tiền lời 500.000 đồng).
- V nhắn ngày 16-4-2022: 
  được giải 111.000.000 đồng
khoản tiền lời khác từ những người vay, cộng 92.000.000 đồng (gồm 02 ngày bà
T1 góp cho hai khoản là 91.000.000 đồng, cộng thêm một khoản tiền lời
1.000.000 đồng khác bà V cho người khác vay).
- V nhắn ngày 25-4-2022:   
             được giải
184.000.000 đồng khoản tiền T1 góp cho hai khoản trong 04 ngày (4 x
45.500.000 đồng/ngày), cộng với 2.000.000 đồng tiền lời cho 04 ngày của khoản
vay khác V cho người khác vay, cộng với 65.000.000 đồng tiền lời từ khoản
vay khác bà V cho người khác vay.
- V nhắn ngày 15-5-2022:  được
giải 20.900.000 đồng là tiền lời Ngân hàng của cả V và bà T1 cùng phải chịu,
chia cho mỗi người bằng 10.450.000 đồng.
Như vậy các tin nhắn bên trên cũng diễn ra trước thời điểm V ông T
ông T2T1 chốt nợ, được giải quyết bằng Quyết định công nhận sự thỏa thuận
số 44/2022/QĐST- DS ngày 19-12-2022, các tin nhắn này có nội dung V
thông báo số tiền bà T1 phải giao cho bà V, nội dung tin nhắn cũng ghi không rõ
15
ràng, các khoản tiền các bên chốt qua tin nhắn zalo chỉ ghi tiền lời, không có nội
dung trả tiền góp nhận chuyển nhượng đất.
[2.5] Đối với việc trả tiền lãi Ngân hàng theo thỏa thuận tại Hợp đồng
chuyển nhượng đất ngày 27-12-2021: Tại phiên tòa phúc thẩm T1 xác định
hàng tháng bà V nhắn tin qua ứng dụng zalo báo cho bà T1 biết số tiền lãi Ngân
hàng trên số tiền 1.250.000.000 đồng bà T1 trách nhiệm phải trả cho ông
T V thay cho ông H S, theo thỏa thuận giữa các bên tại Hợp đồng chuyển
nhượng đất. Việc trả tiền lãi Ngân hàng cho V khi bằng tiền mặt, khi
bằng chuyển khoản nhưng trả bằng hình thức nào thì hàng tháng V đều
nhắn tin qua zalo báo cho bà T1 biết cụ thể số tiền. Theo bà T1 thì các tin nhắn
bà V nhắn cho bà qua zalo là chứng minh có việc bà thanh toán tiền cho bà V.
Hội đồng xét xử xét thấy: Như đã nêu tại mục [2.3] thì các tin nhắn V
nhắn cho T1 chỉ để V thông báo số tiền T1 phải giao cho bà V.
T1 cho rằng dù T1 trả tiền lãi Ngân hàng bằng hình thức chuyển khoản hay
tiền mặt cho V thì hàng tháng V đều nhắn tin qua zalo báo cho T1 biết
cụ thể số tiền. Tuy nhiên T1 chỉ cung cấp được cho Hội đồng xét xử Vi bằng
thể hiện ba tin nhắn V báo cho T1 biết số tiền lãi Ngân hàng vào các
ngày 12-02-2022; 14-4-2022 và 15-5-2022.
Mặt khác tại phiên tòa phúc thẩm ông T V cùng ông T2 T1 đều thừa
nhận rằng cùng ngày 08-11-2021, ông T V hai Hợp đồng tín dụng hạn
mức, vay của Ngân hàng số tiền 2.500.000.000 đồng (một hợp đồng vay số tiền
1.000.000.000 đồng một hợp đồng vay số tiền 1.500.000.000 đồng). Đối với
hợp đồng vay số tiền 1.000.000.000 đồng thì thời hạn vay từ ngày 08-11-2021
đến ngày 08-11-2022 đối với hợp đồng vay số tiền 1.500.000.000 đồng thì
thời hạn vay từ ngày 08-11-2021 đến ngày 08-11-2026. Các tài sản bảo đảm cho
các khoản vay đều đứng tên ông T V một trong những tài sản bảo đảm
thửa đất số 8. Tháng 6-2022 thì thửa đất số 8 đã được xóa nội dung đăng thế
chấp (BL 151- TA).
Theo ông T V và ông T2 bà T1 khai trong số tiền vay 2.500.000.000 thì
ông T bà V và ông T2 T1 mỗi bên vay 1.250.000.000 đồng và tự chịu lãi suất
Ngân hàng cho số tiền mình vay. Như vậy đối chiếu với ba tin nhắn V nhắn
tin cho T1 vào các ngày 12-02-2022, 14-4-2022 15-5-2022 đthông báo
số tiền lãi Ngân hàng thì không đủ sở để xác định đây các tin nhắn thông
báo số tiền lãi Ngân ng T1 trách nhiệm trả cho ông T V thay cho
ông H S, theo thỏa thuận về nghĩa vụ trả tiền lãi Ngân hàng tại Hợp đồng
chuyển nhượng đất ngày 27-12-2021. Ông T V khẳng định rằng do việc
vay chung tiền Ngân hàng như đã nêu trên nên việc thông báo qua tin nhắn về
tiền lãi Ngân hàng là thông báo cho số tiền cá nhân ông T2T1 vay.
Theo phân tích bên trên thì bà T1 không chứng minh được bà có trả tiền lãi
Ngân hàng theo thỏa thuận tại Hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 27-12-2021
bằng tiền mặt lẫn chuyển khoản.
[2.6] Như vậy ông H S không chứng minh được việc trả tiền góp nhận
chuyển nhượng đất trả tiền lãi Ngân hàng cho ông T V. Ông cho rằng
ủy quyền cho T1 trả tiền góp nhận chuyển nhượng đất tiền lãi Ngân
hàng, tuy nhiên theo phân tích trên, không căn cứ để xác định bà T1 người
16
được ông H bà S y quyền và bà T1 đã trả cho ông T bà V số tiền 1.750.000.000
đồng cùng tiền lãi Ngân hàng cho số tiền 1.250.000.000 đồng.
[3] Xét Hợp đồng chuyển nhượng đất viết tay ngày 27/12/2021 giữa ông
T ông H vi phạm điều kiện vhình thức của hợp đồng về quyền sử dụng đất
quy định tại Điều 119, Điều 502 Bộ luật Dân sự; Khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai
năm 2013, bên nhận chuyển nhượng đất chưa giao tiền cho bên chuyển nhượng.
Căn cứ Điều 122, Điều 123 Bộ luật Dân sự, Hợp đồng chuyển nhượng đất viết
tay ngày 27-12-2021 giữa ông T và ông H vô hiệu.
* Về hậu quả của hợp đồng hiệu: Căn cứ Điều 131 Bộ luật Dân sự, ông
H S cùng ông T2 bà T1 những người đang trên đất nghĩa vụ giao
trả thửa đất số 8 cùng tài sản trên đất cho ông T, bà V.
Tại phiên tòa phúc thẩm ông H S cùng T1 ông T2 xác định quá trình
trên đất các ông bỏ tiền ra làm mái che tôn nền lát vữa xi măng với số
tiền 58.700.000 đồng. Ông T2 bà T1 quan điểm trong trường hợp phải giao
trả đất tài sản trên đất cho ông T V thì ông T2 T1 đồng Ý1 cho ông H
S được nhận và toàn quyền sở hữu, sdụng mái che tôn nền lát vữa xi măng
với số tiền 58.700.000 đồng này. Về phía ông T V tự nguyện đồng ý trả lại
cho ông H S số tiền 58.700.000 đồng giá trị mái che tôn nền lát vữa xi
măng trong trường hợp ông T bà V được nhận lại đất và tài sản trên đất, nên Hội
đồng xét xử ghi nhận.
Từ phân tích, nhận định trên, Tòa án cấp thẩm chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn không
phù hợp. Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất chấp nhận kháng cáo của ông T
bà V, sửa bản án sơ thẩm theo hướng đã phân tích bên trên.
[4] Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông H S phải chịu án phí cho yêu cầu khởi kiện không được Tòa án
chấp nhận. Tuy nhiên ông H bà S là người cao tuổi nên được miễn án phí.
Ông T V không phải chịu án phí do yêu cầu phản tố được Tòa án chấp
nhận. Ông T bà V phải chịu án phí trên số tiền 58.700.000 đồng nghĩa vụ trả
cho ông H bà S.
-Án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của ông T bà V được chấp nhận nên
ông T bà V không phải chịu.
[5] Về chi phí tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm: Ông H bà S phải chịu.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận
yêu cầu kháng cáo của ông Võ Văn T và bà Trần Thị V, sửa Bản án sơ dân sự sơ
thẩm số 13/2026/DS - ST ngày 16-01-2026 của Tòa án nhân dân Khu vực X,
Thành phố Hồ Chí Minh, như sau:
17
Căn cứ Điều 26; Điều 38; Điều 39, Điều 296; Điều 313 Bộ luật Tố tụng
dân sự.
Căn cứ các Điều 116, 117, 119, 122, 123, 131, 502 Bộ luật Dân sự năm
2015; Điều 167 Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Đình chỉ phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Đông H
Trần Thị S đối với bị đơn ông Văn T Trần Thị V về việc yêu cầu ông
Văn TTrần Thị V thanh toán số tiền 90.000.000 (chín mươi triệu) đồng.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Đông
H bà Trần Thị S đối với ông Võ Văn TTrần Thị V.
3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Võ Văn T và bà Trần Thị V
Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 27-12-2021 được kết
giữa ông Hoàng Đông H và ông Võ Văn T là vô hiệu.
Buộc ông Hoàng Đông H Trần Thị S ông Trần Xuân T2 Hoàng
Thị Thủy T1 là những người trên đất phải giao trả cho ông Văn T Trần
Thị V quyền sử dụng diện tích đất 785m
2
(có 150m
2
đất ở) thuộc thửa đất số 08,
tờ bản đồ số 100A, tọa lạc tại thị trấn N, huyện C, tỉnh Rịa - Vũng Tàu (nay
xã N, Thành phố Hồ Chí Minh), theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số BG 603083 do Ủy ban
nhân dân huyện C, tỉnh Rịa Vũng Tàu cấp cho ông Hoàng Đông H ngày
06-12-2011, chuyển dịch quyền sử dụng đất sang tên cho ông Văn T Trần
Thị V ngày 24-3-2020, cùng tài sản gắn liền trên đất.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Văn T Trần Thị V về việc trả cho
ông Hoàng Đông H Trần Thị S số tiền 58.700.000 (năm mươi tám triệu bảy
trăm nghìn) đồng là giá trị mái che tôn, nền lát vữa xi măng.
4. Về chi phí tố tụng tại Tòa án cấp thẩm: Ông Hoàng Đông H Trần
Thị S phải nộp số tiền 2.211.000 (hai triệu hai trăm mười một nghìn) đồng. Do
ông Văn T Trần Thị V đã nộp nên ông Hoàng Đông H Trần Thị S
nghĩa vụ trả lại cho ông Võ Văn TTrần Thị V số tiền này.





5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Miễn án phí cho ông Hoàng Đông HTrần Thị S.
- Ông Võ Văn TTrần Thị V phải chịu 2.935.000 (hai triệu chín trăm ba
mươi lăm nghìn) đồng, khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm
18
ứng án phí ông Văn T Trần Thị V đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng
án phí, lệ phí Tòa án số 0000556 ngày 14-3-2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự
huyện C, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (nay là Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí
Minh), nên ông Văn T Trần Thị V phải nộp tiếp số tiền 2.635.000 (hai
triệu sáu trăm ba mươi lăm nghìn) đồng.
6. Án phí dân sự phúc thẩm: Hoàn trả cho ông Võ Văn TTrần Thị V số
tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền
số 0009198 ngày 29-01-2026 tại Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
n sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định
tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
7. Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 08-6-2026).

- VKSND TP. Hồ Chí Minh;
- TAND Khu vực X, TP. Hồ Chí Minh;
- Phòng THADS KV 14, TP. Hồ Chí Minh;
- THADS TP. Hồ Chí Minh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án (17).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Thị Thương
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1152/2026/DS-PT Bản án số 1152/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1152/2026/DS-PT Bản án số 1152/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất