Bản án số 762/2026/DS-PT ngày 09/06/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 762/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 762/2026/DS-PT ngày 09/06/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 762/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 762/2026/DS-PT Bản án số 762/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 762/2026/DS-PT Bản án số 762/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 762/2026/DS-PT
Ngày: 09-06-2026
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng
đất”
CỘNG A HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Tiền Phương
Các Thẩm phán: Thị Hồng Mai
Ông Nguyễn Quốc Tuấn
- Thư phiên tòa: Nguyễn Ngọc Thư Thảo Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Tho - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số 258/2026/TLPT-DS ngày 10 tháng 4 năm
2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 117/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 2 - Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 258/2026/QĐ-PT ngày 21/4/2026
Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 462/2026/QĐ-PT ngày 18/5/2026, giữa
các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Thị T, sinh năm 1971;
2. Ông Thành Công L, sinh năm 1995;
3. Ông Thành Công N, sinh năm 1997;
4. Thành Thị Thanh T1, sinh năm 2000;
Cùng địa chỉ: Ấp A, M, tỉnh Tây Ninh.
2
(Địa chỉ cũ: Ấp A, M, huyện Đ, tỉnh Long An).
Người đại diện theo uỷ quyền của Thị T, ông Thành Công L, ông
Thành ng N, Thành Thị Thanh T1 ông Đặng Văn S, sinh năm 1990; Địa
chỉ: Ấp A, A, tỉnh Tây Ninh (Địa chỉ cũ: ấp A, A, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ liên hệ: Số C L, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh. (Văn bản uỷ quyền
ngày 02-11-2022) (Có mặt)
5. Phạm Thị T2, sinh năm 1939; Địa chỉ: Ấp A, M, tỉnh Tây Ninh (Địa
chỉ cũ: Ấp A, M, huyện Đ, tỉnh Long An).
Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của Phạm Thị T2:
+ Thành Thị L1, sinh năm 1963; Địa chỉ: Số D, p A, M, tỉnh Tây Ninh.
(Địa chỉ cũ: Ấp A, M, huyện Đ, tỉnh Long An). (Có mặt)
+ Thành Thị H, sinh năm 1966; Địa chỉ: Số D, ấp A, M, tỉnh Tây Ninh.
(Địa chỉ cũ: Số D, ấp A, M, huyện Đ, tỉnh Long An). (Có mặt)
+ Ông Thành Văn T3; Địa chỉ: Ấp A, M, tỉnh Tây Ninh (Địa chỉ cũ: Ấp A,
M, huyện Đ, tỉnh Long An) (Vắng mặt)
- Bị đơn:
1. Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1966; (Vắng mặt)
2. Thành Thị H, sinh năm 1966; (Có mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp A, M, tỉnh Tây Ninh (Địa chỉ cũ: Ấp A, M, huyện Đ,
tỉnh Long An).
- Người kháng cáo: Nguyên đơn Thị T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 22-9-2022, 01-11-2022, đơn yêu cầu ngày 05-5-
2025, các văn bản tiếp theo, trong quá trình tố tụng, nguyên đơn Thị T,
ông Thành Công L, ông Thành Công N, Thành Thị Thanh T1 do ông Đặng Văn
S đại diện hợp pháp trình bày yêu cầu:
Ngày 15-3-2010, ông Thành Công D (chồng T) thỏa thuận nhận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất của vợ chồng ông Nguyễn Văn T4, Thành Thị H
diện tích ngang 10m x dài 57m với giá 70.000.000 đồng. Đối tượng giao dịch
quyền sử dụng đất thuộc các thửa 1961, 1963 tờ bản đồ số 3 M, huyện Đ, tỉnh
Long An nay M, tỉnh Tây Ninh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AN
165983 số vào sổ H 03580 do UBND huyện Đ cấp ngày 21-11-2008 giấy chứng
3
nhận quyền sử dụng đất AN 165986 số vào sổ H 03583 do UBND huyện Đ cấp
ngày 21-11-2008. Hiện đo đạc thực tế 593,3m
2
thuộc một phần các thửa 1964
(21,9m
2
, loại đất ONT), thửa 1963 (303,4m
2
, loại đất HNK), thửa 1961 (268m
2
,
loại đất CLN). Ông D ông T4, H lập giấy bán đất ngày 15-3-2010. Ông D đã
giao cho H 60.000.000 đồng khi giấy bán đất ngày 15-3-2010. Ông T4, H
đã giao bản chính 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông D giữ. Ngày 27-
4-2012, ông D đã giao đủ số tiền còn lại cho ông T4. Ngày 17-4-2022, ông D chết.
T các con liên hệ với ông T4, H để làm thủ tục chuyển quyền theo quy
định pháp luật nhưng ông T4, H không hợp tác sự việc tranh chấp kéo dài
đến nay. T, ông L, ông N, T1, T2 khởi kiện yêu cầu:
- Công nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất thể hiện “Giấy
mua bán đất” ngày 15-3-2010 giữa ông D ông T4, H.
- Buộc ông T4, H thực hiện nghĩa vụ của bên chuyển nhượng, cung cấp hồ
sơ, thực hiện các thủ tục hành chính để hoàn tất thủ tục chuyển nhượng cho T,
ông D.
- Trường hợp Tòa án tuyên hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa ông D với ông T4, H t yêu cầu giải quyết hậu quả pháp của hợp
đồng hiệu theo quy định pháp luật.
Trong q trình tố tụng Phạm Thị T2 chết, Tòa án đã đưa những người kế
thừa quyền nghĩa vụ của T2 vào tham gia tố tụng nhưng Thành Thị L1,
ông Thành Văn T3 cho rằng không liên quan đến vụ việc.
Bị đơn ông ông Nguyễn Văn T4, Thành Thị H: vắng mặt trong suốt q
trình tố tụng, không cung cấp lời khai v nội dung vụ án từ chối khai khi Tòa án
tiến hành lấy lời khai.
Tại Bản án dân sự thẩm số 117/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Tây Ninh đã xử (tóm tắt):
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39,
Điều 147, Điều 217, 228 Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều
109, 128, 137, 146, khoản 2 Điều 305 của Bộ luật Dân s năm 2005; Điều 27 Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp quản sử dụng án phí lệ p Tòa án.
Tuyên xử:
4
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Phạm Thị T2 đối với ông
Nguyễn Văn T4, Thành Thị H về việc “tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất”.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Thị T, ông Thành Công L,
ông Thành Công N, Thành Thị Thanh T1 đối với ông Nguyễn Văn T4,
Thành Thị H về việc “tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất" đối
với diện tích đất đo đạc thực tế 593,3m
2
thuộc một phần các thửa 1964 (21,9m
2
,
loại đất ONT), thửa 1963 (303,4m
2
, loại đất HNK), thửa 1961 (268m
2
, loại đất
CLN) t bản đồ số 3, đất toạ lạc tại ấp A, M, huyện Đ, tỉnh Long An, nay thuộc
ấp A, M, tỉnh Tây Ninh.
- Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền s dụng đất giữa ông Thành Công
D với ông Nguyễn Văn T4, Thành Thị H thể hiện “Giấy mua bán đất” ngày
15-3-2010.
- Buộc ông Nguyễn Văn T4 Thành Thị H phải trả cho Thị T, ông
Thành Công L, ông Thành Công N, Thành Thị Thanh T1 tổng cộng
208.351.367 đồng (hai trăm lẻ tám triệu, ba trăm năm mươi mốt nghìn, ba trăm sáu
mươi bảy đồng) gồm tiền chuyển nhượng đất 60.000.00 đồng bồi thường thiệt
hại 148.351.367 đồng.
- Buộc Thị T trả cho Thành Thị H 02 bản chính giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất AN 165983 số vào sổ H 03580, AN 165986 số vào sổ H 03583
do UBND huyện Đ cấp cùng ngày 21-11-2008 cho Thành Thị H.
3. Về chi phí tố tụng:
- Thị T, ông Thành Công L, ông Thành Công N, Thành Thị Thanh
T1 phải chịu 14.688.000 đồng. Thị T chịu 1.000.000 đồng chi phí xác minh,
thu thập chứng cứ. Toàn bộ số tiền này T đã nộp tạm ứng chi phí xong.
- Ông Nguyễn Văn T4 Thành Thị H phải chịu 14.688.000 đồng. T đã
nộp tạm ứng chi p xong nên buộc ông T4 H phải trả lại cho T
14.688.000 đồng.
4. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể t ngày đơn yêu cầu thi hành án của
người được thi hành án đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng,
người phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại
Điều 305 Bộ luật Dân sự năm 2005.
5
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về án phí; quyền kháng cáo của các
đương sự theo luật định. Quyền nghĩa vụ thi hành án của đương sự theo quy
định của pháp luật.
Ngày 03/10/2025, nguyên đơn Thị T nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án
thẩm.
Tại phiên Tòa phúc thẩm,
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn T (có kháng cáo) đồng thời
người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn còn lại ông L, ông N, T1
trình bày: Ông D nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông T4, H đúng
quy định pháp luật, ngay tình, hợp đồng theo giấy bán đất ngày 15/3/2010 không vi
phạm điều cấm, không trái đạo đức hội. Ông D đã trả đủ tiền cho ông T4, H.
Ông T4, H tự nguyện minh mẫn khi chuyển nhượng đất cho ông D. Sau khi
giấy tay, phía bên H, ông T4 không hỗ trợ để nguyên đơn thực hiện việc
sang tên đối với phần đất chuyển nhượng. Dẫn đến vụ việc kéo dài t năm 2010
đến m 2021 làm cho không đủ điều kiện tách thửa, T không thực hiện được
quyền đăng sang tên cho T. Đồng thời, T, ông D thời gian canh tác trên
diện tích đất nhận chuyển nhượng từ ông T4, H, chỉ không canh tác được t khi
ông D chết đến nay phát sinh tranh chấp. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều
117, điểm b khoản 1 Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015, án lệ số 55/2022/AL
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao để chấp nhận kháng cáo của
T, cải sửa bản án thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn. Mặt khác quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa thẩm, nguyên
đơn đề nghị triệu tập người làm chứng những người chứng kiến việc mua bán
đất gồm ông Hồ Văn L2, ông Huỳnh Văn Q theo giấy bán đất ngày 15/3/2010.
Đồng thời, tại phiên tòa thẩm, nguyên đơn có yêu cầu triệu tập ông Trương Văn
T5 người bán đất sang lấp phần đất mua từ ông T4 H khoảng 70 xe đất với
giá 500.000 đồng/01xe thành tiền 35.000.000 đồng (trước đây phần đất mua
trũng thấp). Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nếu căn cứ thì
hủy bản án thẩm không triệu tập người làm chứng ảnh hưởng đến quyền lợi
của nguyên đơn.
- Bị đơn Thành Thị H trình bày: thừa nhận bà và ông T4 bán đất cho
ông D theo giấy bán đất ngày 15/3/2010. Sau khi giấy, đã đưa T 02 bản
chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc mua bán không đo đạc thực tế.
Hiện tại, ông T4 vẫn đang quản sử dụng phần đất đang tranh chấp để
nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của T giữ nguyên bản án
thẩm. thừa nhận nguyên đơn có đổ đất nhưng chỉ đổ khoảng 55 xe đất, thống
6
nhất giá như đại diện nguyên đơn trình bày và không đồng ý trả lại giá trị
35.000.000 đồng như yêu cầu của đại diện nguyên đơn tại phiên tòa phúc thẩm.
- Thành Thị L1 trình bày: Trong vụ án này, không liên quan gì,
không ý kiến nên đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định của
pháp luật.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong q trình giải quyết vụ án
của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của những
người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử phúc thẩm kể từ khi thụ lý vụ án cho
đến trước thời điểm nghị án đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng
cáo của nguyên đơn Thị T đủ điều kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung kháng cáo: Căn cứ vào c tài liệu chứng cứ trong hồ vụ án
lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm. Thấy rằng: Thị T
kháng cáo yêu cầu hủy án thẩm để thu thập thêm lời khai người làm chứng
áp dụng Án lệ số 55/2022/AL nhằm công nhận "Giấy mua bán đất" ngày
15/3/2010. Tuy nhiên, kết quả xác minh cho thấy đất tranh chấp hiện do bị đơn
quản diện tích đo đạc thực tế không đủ điều kiện tách thửa theo Luật Đất đai
năm 2024, khiến giao dịch b hiệu do vi phạm điều cấm. Tòa án cấp thẩm đã
giải quyết đúng quy định khi đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn đã chết (bà T2) do
người thừa kế từ chối tham gia, đồng thời buộc phía bị đơn trả lại 60 triệu đồng
tiền gốc bồi thường 148.351.367 đồng (tương đương 50% thiệt hại chênh lệch
giá trị đất). Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm bác đơn kháng cáo của T, giữ nguyên
các nội dung cốt lõi của bản án thẩm, nhưng sửa lại cách tuyên án bằng việc bổ
sung điều khoản cho phép H được liên hệ quan thẩm quyền cấp lại 02 Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất nếu bà T cố tình không hoàn trả cho H 02 bản
chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trên sở phân tích đánh g yêu cầu
kháng cáo của Thị T thì Kiểm sát viên đề nghị không chấp nhận yêu cầu
kháng cáo của T. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào khoản 2 Điều
308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án thẩm về cách tuyên án.
NHẬN ĐỊNH CỦA A ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Kháng cáo của nguyên đơn Thị T thực hiện đúng theo quy định tại
Điều 271, Điều 272, Điều 273 Điều 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người
khởi kiện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Người kháng cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu
7
kháng cáo. Các đương sự không tự thỏa thuận được về việc giải quyết toàn bộ vụ
án. Vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] V sự vắng mặt của đương sự: Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố
tụng của Phạm Thị T2 ông Thành Văn T3; bị đơn ông Nguyễn Văn T4 đã
được triệu tập lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không tham gia phiên tòa
phúc thẩm thuộc trường hợp được quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng
dân sự nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án theo quy định.
[3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: nguyên đơn Thị T kháng cáo toàn bộ
bản án sơ thẩm. Căn cứ theo Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp
phúc thẩm xem xét lại nội dung của bản án thẩm theo trình tự phúc thẩm. Tại
phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không cung cấp thêm chứng cứ, tài liệu mới.
[4] Về quan hệ pháp luật tranh chấp thẩm quyền giải quyết vụ án: T,
ông L, ông N, bà T1, T2 khởi kiện ông T4 H yêu cầu công nhận giao dịch
chuyển nhượng quyền sử dụng đất thể hiện “Giấy mua bán đất” ngày 15-3-2010
giữa ông D ông T4, H đối với diện tích đất 593,3m
2
thuộc một phần các thửa
1964 (21,9m
2
), thửa 1963 (303,4m
2
), thửa 1961 (268m
2
) tờ bản đồ số 3, đất toạ lạc
tại ấp A, M, huyện Đ, tỉnh Long An (Nay thuộc ấp A, M, tỉnh Tây Ninh).
Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Tây Ninh xác định quan hệ pháp luật tranh chấp
“Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” thụ giải quyết
theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều
39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày
27 tháng 6 năm 2025 của y ban Thường vụ Quốc hội về thành lập Tòa án nhân
dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh
thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực đúng quy định của
pháp luật.
Về nội dung vụ án yêu cầu kháng cáo của T:
[5] Các nguyên đơn gồm: T, ông L, ông N, T1 khởi kiện yêu cầu Tòa
án công nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất thể hiện “Giấy mua
bán đất” ngày 15-3-2010 giữa ông D ông T4, H; Buộc ông T4, H thực
hiện nghĩa vụ của bên chuyển nhượng, cung cấp hồ sơ, thực hiện các thủ tục hành
chính để hoàn tất thủ tục chuyển nhượng cho T, ông D. Trường hợp Tòa án
tuyên hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông D với ông T4,
H thì yêu cầu giải quyết hậu quả pháp của hợp đồng hiệu theo quy định
pháp luật. Quá trình tố tụng tại Tòa án cấp thẩm, b đơn ông Nguyễn Văn T4,
Thành Thị H luôn vắng mặt, không cung cấp lời khai về nội dung vụ án từ
8
chối khai khi Tòa án cấp thẩm tiến hành lấy lời khai. Tại phiên tòa phúc thẩm,
H mặt không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn. Đại diện
theo ủy quyền của T xác định T đang giữ 02 bản chính giấy chứng nhận
quyền sử dụng đấ đối với thửa đất 1961 1963. Các đương sự thống nhất dùng
Mảnh trích đo địa chính số 4 -2025 ngày 10-01-2025 của Công ty TNHH K được
Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 16-01-2025, kết quả
xem xét thẩm định tại chỗ ngày 16-4-2023, kết quả thẩm định giá theo chứng thư
thẩm định giá ngày 05-6-2025 của Công ty cổ phần T6.
[6] Xét yêu cầu kháng cáo của T đối với bản án thẩm, Hội đồng xét xử
nhận thấy:
[6.1] Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo "Giấy mua bán
đất" ngày 15-3-2010 giữa ông D vợ chồng ông T4, H, Hội đồng xét x nhận
thấy.
[6.1.1] Về hình thức hợp đồng: "Giấy mua bán đất" ngày 15-3-2010 giữa ông
D vợ chồng ông T4, H hoàn toàn lập bằng giấy tay, không được công chứng,
chứng thực quy định tại Điều 122, Điều 124 Điều 689 Bộ luật Dân sự năm 2005
(pháp luật nội dung thời điểm xác lập giao dịch). Các bên vi phạm về mặt hình
thức khi xác lập giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
[6.1.2] Về nội dung đối tượng hợp đồng: Trong "Giấy mua bán đất" ngày
15-3-2010, các bên chỉ ghi diện ch ngang 10m x dài 57m chung chung, không ghi
thửa đất s bao nhiêu, tờ bản đồ nào, ranh giới tứ cận cụ thể. Qua đo đạc thực
tế của quan chuyên môn, diện tích đất tranh chấp thực tế 593,3m
2
, nằm phân
tán thuộc một phần của 03 thửa đất độc lập khác nhau mục đích sử dụng khác
biệt: Thửa 1964 (21,9m
2
, đất nông thôn - ONT), Thửa 1963 (303,4m
2
, đất trồng
cây hàng năm khác - HNK) Thửa 1961 (268m
2
, đất trồng cây lâu năm - CLN) tờ
bản đồ s 3. Do đó, đối tượng của giao dịch chuyển nhượng không xác định
ràng ranh giới mục đích ngay từ khi giao kết, vi phạm điều kiện hiệu lực về nội
dung giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 122 của Bộ luật Dân sự năm 2005.
[6.1.3] Về điều kiện thực hiện giao dịch dân sự chuyển nhượng quyền sử
dụng đất yêu cầu áp dụng Án lệ số 55/2022/AL của nguyên đơn: Nguyên đơn
yêu cầu áp dụng Án l số 55/2022/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao để công nhận hiệu lực hợp đồng. Tuy nhiên, Án lệ số 55/2022/AL chỉ được
áp dụng khi phần đất thỏa thuận chuyển nhượng hoàn toàn hợp pháp đủ điều
kiện thực hiện nghĩa vụ đăng bộ sang tên theo quy định pháp luật đất đai. Trong vụ
án này, phần diện tích đất thực tế đo đạc 593,3m
2
cắt ngang qua một phần của 03
9
thửa đất mục đích s dụng khác nhau, gồm: một phần Thửa 1964 (21,9m
2
, đất
nông thôn - ONT), Thửa 1963 (303,4m
2
, đất trồng cây hàng năm khác - HNK)
Thửa 1961 (268m
2
, đất trồng cây lâu năm - CLN) tờ bản đồ số 3, đất toạ lạc tại ấp
A, M, huyện Đ, tỉnh Long An (Nay thuộc ấp A, M, tỉnh Tây Ninh). Đối
chiếu quy định tại điểm c khoản 2 Điều 220 Luật Đất đai năm 2024 Quyết định
số 49/2024/QĐ-UBND ngày 25-10-2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh L về diện tích
tối thiểu được phép tách thửa, thì phần đất này hoàn toàn không đáp ứng được điều
kiện kích thước diện tích tối thiểu để tách thành thửa độc lập. Do vậy, Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo "Giấy mua bán đất" ngày 15-3-2010 giữa
các bên không tính khả thi đ thực hiện trên thực tế, vi phạm điều cấm của pháp
luật. Mặt khác, về hiện trạng quản sử dụng, từ năm 2010 đến nay, diện tích đất
tranh chấp này vẫn do phía bị đơn (ông T4, H) trực tiếp quản lý, sử dụng, canh
tác. Gia đình Thị T chưa từng nhận bàn giao đất trên thực địa, chỉ giữ 02
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính. Do giao dịch mới dừng lại việc
giao nhận giấy tờ gốc, chưa bàn giao tài sản trên thực tế nên Tòa án cấp thẩm
tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất "Giấy mua bán đất" ngày
15-3-2010 giữa các bên hiệu hoàn toàn đúng pháp luật quy định tại Điều 128
của Bộ luật Dân s 2005. Kháng o yêu cầu công nhận hợp đồng của T
không sở để chấp nhận.
[7] Về giải quyết hậu quả pháp lý: Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy
quyền của nguyên đơn trình bày tại phiên tòa thẩm đã ý kiến đề nghị Tòa án
cấp thẩm triệu tập ông Trương Văn T5 người đã bán đổ 70 xe đất để sang
lấp phần đất mua của bị đơn, với tổng giá trị 35.000.000 đồng để m quyền
lợi của bên nguyên đơn. Tuy nhiên, theo biên bản phiên tòa thẩm đều không thể
hiện yêu cầu này n đại diện của nguyên đơn trình bày. Đồng thời, tại phiên tòa
phúc thẩm, bị đơn H cũng thừa nhận việc nguyên đơn đổ đất sang lấp một
phần đất tranh chấp nhưng chỉ thừa nhận chỉ đổ 55 xe. Hội đồng xét xử nhận
thấy: sự việc nguyên đơn sang lấp một phần đất tranh chấp đều này làm tăng giá
trị phần đất đang tranh chấp, nhưng phần đất đang tranh chấp đã được thẩm định
theo giá thị trường tại thời điểm xét xử (tại cấp thẩm) theo kết quả thẩm định g
theo chứng thư thẩm định giá ngày 05-6-2025 của Công ty cổ phần T6 để làm căn
cứ bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn cũng đảm bảo quyền lợi cho nguyên đơn.
vậy, không cần thiết phải hủy bản án thẩm để đưa ông Trương Văn T5 vào
tham gia tố tụng để làm g trị phần đất sang lấp nhưng yêu cầu của đại diện của
nguyên đơn. Do hợp đồng hiệu, các bên hoàn trả cho nhau những đã nhận
theo Điều 137 Bộ luật Dân s 2005. Việc Tòa án thẩm buộc bị đơn hoàn trả
60.000.000 đồng tiền gốc (chỉ căn cứ giao 60.000.000 đồng, không căn cứ
10
giao tiếp 10.000.000 đồng theo giấy bán đất ngày 13/5/2010) bồi thường thiệt
hại chênh lệch giá trị tài sản dựa trên mức độ lỗi bằng nhau của hai bên
148.351.367 đồng (theo đúng hướng dẫn của Nghị quyết số 02/2024/NQ-HĐTP).
Đồng thời, Tòa án cấp sơ thẩm buộc T trả lại 02 bản chính GCNQSDĐ cho bị
đơn hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, để đảm bảo cho
việc thi hành án cần phải bổ sung cách tuyên án như sau: Trường hợp bên phải thi
hành án không giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất t bên
được thi hành án quyền yêu cầu quan nhà nước thẩm quyền điều chỉnh,
thu hồi hoặc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp để Thành Thị H
được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết
của Tòa án. Do đó, cần sửa một phần bản án thẩm về cách tuyên án n đề nghị
của đại diện Viện kiểm sát căn cứ nên được chấp nhận.
[8] Từ những phân tích nêu trên, nguyên đơn (bà T) kháng cáo nhưng không
cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình
căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên
đơn. Sửa một phần bản án thẩm về cách tuyên án để đảm bảo thi hành án.
[9] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát căn cứ nên được chấp
nhận.
[10] Về chi phí t tụng án phí dân sự thẩm: Tòa án cấp thẩm đã giải
quyết theo đúng quy định của pháp luật
[11] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn
không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo
quy định của pháp luật.
[12] Các phần khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo
thủ tục phúc thẩm t hiệu lực pháp luật kể t ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 148, khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 309 của Bộ luật Tố tụng
dân sự; Điều 12, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Thị T.
11
Sửa một phần Bản án dân sự thẩm số 117/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Tây Ninh về cách tuyên án.
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39,
Điều 147, Điều 217, 228 Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều
109, 128, 137, 146, khoản 2 Điều 305 của Bộ luật Dân s năm 2005; Điều 27 Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp quản sử dụng án phí lệ p Tòa án.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Phạm Thị T2 đối với ông
Nguyễn Văn T4, Thành Thị H về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất”.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Thị T, ông Thành Công L,
ông Thành Công N, Thành Thị Thanh T1 đối với ông Nguyễn Văn T4,
Thành Thị H về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất"
đối với diện tích đất đo đạc thực tế 593,3m
2
thuộc một phần các thửa 1964
(21,9m
2
, loại đất ONT), thửa 1963 (303,4m
2
, loại đất HNK), thửa 1961 (268m
2
,
loại đất CLN) tờ bản đồ số 3, đất toạ lạc tại ấp A, M, huyện Đ, tỉnh Long An,
nay thuộc ấp A, M, tỉnh Tây Ninh.
- Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền s dụng đất giữa ông Thành Công
D với ông Nguyễn Văn T4, Thành Thị H thể hiện “Giấy mua bán đất” ngày
15-3-2010.
- Buộc ông Nguyễn Văn T4 Thành Thị H phải trả cho Thị T, ông
Thành Công L, ông Thành Công N, Thành Thị Thanh T1 tổng cộng
208.351.367 đồng (hai trăm lẻ tám triệu, ba trăm năm mươi mốt nghìn, ba trăm sáu
mươi bảy đồng) gồm tiền chuyển nhượng đất 60.000.00 đồng bồi thường thiệt
hại 148.351.367 đồng.
- Buộc Thị T trả cho Thành Thị H 02 bản chính giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất AN 165983 số vào sổ H 03580, AN 165986 số vào sổ H 03583
do UBND huyện Đ cấp cùng ngày 21-11-2008 cho Thành Thị H. Trường hợp
bên phải thi hành án không giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
thì bên được thi hành án quyền yêu cầu quan nhà nước thẩm quyền điều
chỉnh, thu hồi hoặc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp để bà Thành
Thị H được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải
quyết của Tòa án
3. Về chi phí tố tụng:
12
3.1 Thị T, ông Thành Công L, ông Thành Công N, Thành Thị
Thanh T1 phải chịu 14.688.000 đồng. Thị T chịu 1.000.000 đồng chi phí
xác minh, thu thập chứng cứ. Toàn bộ s tiền này T đã nộp tạm ứng chi phí
xong.
3.2 Ông Nguyễn Văn T4 Thành Thị H phải chịu 14.688.000 đồng. T
đã nộp tạm ứng chi phí xong nên buộc ông T4 H phải trả lại cho T
14.688.000 đồng.
4. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể t ngày đơn yêu cầu thi hành án của
người được thi hành án đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng,
người phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại
Điều 305 Bộ luật Dân sự năm 2005.
5. Về án phí dân sự thẩm:
5.1 Thị T, ông Thành Công L, ông Thành Công N, Thành Thị
Thanh T1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự thẩm. Khấu trừ với 300.000
đồng tiền tạm ứng án phí dân sự thẩm T đã nộp theo biên lai số 0005404
ngày 04-11-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ (trước khi sáp
nhập). Trả lại cho Thị T, ông Thành Công L, ông Thành Công N, Thành
Thị Thanh T1 tổng cộng 900.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự thẩm đã nộp
theo các biên lai thu số 0005403, 0005405, 0005406 cùng ngày 04-11-2022 của
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ (trước khi sáp nhập).
5.2 Ông Nguyễn Văn T4 Thành Thị H phải chịu 10.417.568 đồng (mười
triệu, bốn trăm mười bảy nghìn, năm trăm sáu mươi tám đồng) án phí dân sự sơ
thẩm.
5.3 Phạm Thị T2 (có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng Thành
Thị L1, ông Thành Văn T3, Thành Thị H) được miễn án phí dân sự thẩm.
6. Về phí dân sự phúc thẩm: Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án p
dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm
Thị T đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa
án số 0007794 ngày 16/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. Thị
T đã nộp đủ tiền án phí dân sự phúc thẩm.
7. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành
theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người
phải thi hành án quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,
13
7a, 7b 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
8. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm này hiệu lực pháp luật kể từ
ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 2 –Tây Ninh;
- Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu HS; AV.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đinh Tiền Phương
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 762/2026/DS-PT Bản án số 762/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 762/2026/DS-PT Bản án số 762/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất