Bản án số 560/2026/DS-PT ngày 08/06/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 560/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 560/2026/DS-PT ngày 08/06/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 560/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 08/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Sửa một phần bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 560/2026/DS-PT Bản án số 560/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 560/2026/DS-PT Bản án số 560/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ CẦN THƠ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 560/2026/DS-PT
Ngày: 08/6/2026
V/v “Tranh chấp hợp đồng cầm cố,
chuyển nhượng QSDĐ, vay tài sản
và nợ hụi”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Quốc.
Các Thẩm phán: 1/- Ông Bùi Thanh Quốc.
2/- Bà Nguyễn Thị Trang Thư.
- Thư phiên tòa: Ông Kim Mộc Nam - Thư Tòa án nhân dân thành
phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễn Văn Phi - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 05 08 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số:
398/2026/TLPT-DS ngày 01/4/2026 v“Tranh chấp hp đồng cầm cố, chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, vay tài sản và nợ hụi”.
Do bản án dân sự thẩm số: 69/2025/DSST ngày 17/9/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử phúc thẩm số: 699/2026/QĐXXPT ngày 04/5/2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Hồng V, sinh năm: 1974.
Ông Nguyễn Văn K, sinh năm: 1977; ủy quyền tham gia
tố tụng cho bà Trần Thị Hồng V (văn bản ủy quyền ngày 02/4/2025).
2. Bị đơn: Ông Võ Minh T, sinh năm: 1969.
Thị T1, sinh năm: 1970; ủy quyền tham gia tố tụng cho
ông Võ Minh T (văn bản ủy quyền ngày 31/3/2025).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật Bạch Sỹ C, Văn phòng L
thuộc Đoàn Luật sư thành phố C.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Võ Chí T2, sinh năm: 1990.
- Chị Võ Thị Thu T3, sinh năm: 1993.
Tất cả đương sự cùng cư trú tại: ấp T, xã N, thành phố Cần Thơ.
4. Người kháng cáo: Bị đơn ông Võ Minh T, bà Lê Thị T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
* Nguyên đơn bà Trần Thị Hồng V, ông Nguyễn Văn K trình bày:
Năm 2018 vợ chồng ông Võ Minh T, bà Lê Thị T1 có tham gia hụi của ông
bà. Sau khi hốt hụi, bị đơn đóng hụi chết một thời gian. Đến năm 2019, do
không khả năng đóng nữa n bị đơn cầm cố đất cho ông bà. Ngày
12/4/2019, ông cùng với bị đơn Tờ cam kết cố đất để thỏa thuận về
việc bị đơn cầm cố cho ông phần đất diện tích 10.305,3m
2
tại thửa số 87, tờ
bản đồ số 32; tọa lạc tại ấp T, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng với giá 100 triệu.
Bị đơn đã giao đất cho ông bà canh tác từ ngày 04/12/2023 và ông bà đã giao đủ
số tiền cầm cố đất cho bị đơn.
Ngoài ra, ngày 10/12/2019 bị đơn có vay của ông bà số tiền 50.000.000đ và
ngày 29/11/2022 bị đơn có vay thêm số tiền 50.000.000đ.
Ngày 04/12/2023 bị đơn Hợp đồng chuyển nhượng cho ông 03
công tầm lớn đất vườn, cũng tại thửa số 87, tờ bản đồ số 32 nói trên với giá 390
triệu. Bị đơn cam kết đến tháng 8/2024 sẽ trả lại đủ số tiền 390 triệu; ông đã
giao đủ tiền cho bị đơn bị đơn cũng đã giao đất cho ông bà canh tác tngày
04/12/2023.
Tổng cộng bị đơn đã nhận của ông 590 triệu, nhiều lần hứa hẹn sẽ trả
nhưng cho đến nay vẫn chưa trả. Nay ông khởi kiện yêu cầu: Tuyên hiệu
hợp đồng cầm cố đất theo Tờ cam kết ngày 12/4/2019, buộc bị đơn trả cho ông
bà số tiền cầm cố đất 100 triệu, số tiền vay 02 lần 100 triệu và lãi suất 10%/năm
từ ngày vay đến ngày xét xử thẩm; Tuyên hiệu hợp đồng chuyển nhượng
QSDĐ ngày 04/12/2023, buộc bị đơn trả cho ông số tiền chuyển nhượng đất
390 triệu, xử hậu quả hợp đồng hiệu (bồi thường số tiền 8.800.000đ
gồm: tiền thuê bồi đất 1.800.000đ, tiền thuốc thuê người xịt thuốc xoài
2.000.000đ, tiền phân thuê người rải phân 3.000.000đ, tiền mua C1, Chuối
giống thuê người trồng 2.000.000đ); Ông sẽ trả lại bị đơn các phần đất
cầm cố và chuyển nhượng.
Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn rút lại yêu cầu bồi thường
thiệt hại số tiền 8.800.000đ xác định yêu cầu bị đơn trả số tiền đã chốt nợ tại
Biên bản hòa giải cơ sở ngày 19/10/2023 là 418 triệu, có tính lãi của số tiền 100
triệu từ ngày 19/10/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm theo mức 10%/năm.
* Bị đơn ông Võ Minh T, bà Lê Thị T1 trình bày:
Việc vợ chồng ông vào các giấy tờ do nguyên đơn cung cấp là do
nguyên đơn ép buộc từ việc ông bà thiếu nguyên đơn tiền hụi 49.270.000đ,
ông C2 người làm chứng biết. Đối với Biên bản hòa giải ngày 19/10/2023 của
Tổ hòa giải ấp T, lúc hòa giải ấp V đưa ra các số tiền gồm: Tiền cố đất
200 triệu, tiền hụi 186.200.000đ, tiền ớn đất 32.000.000đ. Ông trình bày
với Tổ hòa giải là ông không đồng ý số tiền đó chứ không phải không đồng ý
với thời gian chuyển nhượng đất như V đưa ra 03 tháng. Tổ hòa giải có
thông qua cho ông nghe cả trang 01 trang 02 của biên bản nhưng ông không
xem lại, không kiểm tra lại tên vào. Tổ hòa giải ghi nội dung ý kiến
của ông không đồng ý thời gian quá ngắnchưa đầy đủ ý kiến của ông, ý
kiến của ông lúc đó không đồng ý với tất cả các khoản nợ bên V đưa ra.
Nay ông bà chỉ đồng ý trả khoản nợ hụi 49.270.000đ và tính lãi từ năm 2019 cho
3
nguyên đơn, còn các khoản nợ khác không nên không đồng ý trả. Nguyên
đơn chỉ quản thửa đất 87 được 08 tháng ktừ ngày lập Hợp đồng chuyển
nhượng 04/12/2023. Hiện nay, ông bà đang quản lý thửa đất này.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Chí T2 chị Võ Thị Thu
T3: thống nhất với ý kiến của cha mẹ là ông T và bà T1.
Vụ việc hòa giải không thành nên Tòa án nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ
đưa ra xét xử; tại Bản án sơ thẩm số: 69/2025/DS-ST ngày 17/9/2025 đã tuyên:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị
đơn bồi thường thiệt hại số tiền 8.800.00(gồm: Tiền thuê bồi đất 1.800.000đ;
Tiền thuốc và thuê người xịt thuốc xoài 2.000.000đ; Tiền phân và thuê người rải
phân 3.000.000đ; Tiền mua cây giống (cau, chuối) tiền thuê người trồng cây
2.000.000đ).
2. Tuyên bố hợp đồng cầm cố QSDĐ Tờ cam kết cố đất ngày 12/4/2019
hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 04/12/2023giữa ông Võ Minh T,
Thị T1 với ông Nguyễn Văn K, bà Trần Thị Hồng V là vô hiệu.
3. Buộc bị đơn ông Minh T, Thị T1 liên đới trả cho nguyên đơn
ông Nguyễn Văn K, Trần Thị Hồng V số tiền còn nợ 418.000.000đ tiền
lãi là 29.111.111đ. Tổng cộng là 437.111.111đ.
Ngoài ra bản án còn tuyên về lãi suất chậm trả tiền, án phí, chi phí tố tụng
khác và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 01/10/2025 bị đơn ông Minh T, Thị T1 kháng cáo yêu cầu
phúc thẩm xem xét bác khởi kiện của nguyên đơn về khoản tiền cố đất 200 triệu,
tiền hụi 186 triệu tiền ớn đất 32.000.000đ; chỉ thừa nhận và đồng ý trả số
tiền nợ hụi là 49.270.000đ
Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo xác định vẫn giữ nguyên yêu
cầu kháng cáo; nguyên đơn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày tại cấp sơ thẩm.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn phân tích, chứng minh
yêu cầu của nguyên đơn đòi bị đơn trả số nợ gốc 418 triệu không căn cứ.
Bị đơn chứng minh được chỉ nợ nguyên đơn số tiền hụi 49.270.000đ nên đề nghị
cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa án thẩm theo hướng
buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền hụi gốc 49.270.000đ tiền lãi từ ngày
10/12/2019 đến nay là 28.750.000đ; tổng cộng là 78.020.000đ.
Kim sát viên phát biu ý kiến: đương sự Tòa án đã thực hiện đúng quy
định pháp lut t tng dân s; V nội dung: căn cứ vào Biên bản đối cht ngày
27/3/2025 ti Tòa án cấp sơ thmT cam kết c đất ngày 12/4/2019 th hin:
s tin hi b đơn nợ nguyên đơn đã đưc cng chung trong T c đất. Do đó,
thc cht b đơn chỉ n nguyên đơn tổng s tin 200 triu. Cấp thẩm buc
b đơn trả cho nguyên đơn số n gc 418 triệu chưa đủ căn cứ. Đề ngh chp
nhn mt phn kháng cáo ca b đơn, sa mt phn bản án thẩm theo hướng
buc b đơn trả cho nguyên đơn số tin 200 triu lãi sut do chm thc hin
nghĩa vụ k t ngày cam kết 13/10/2023 đến ngày xét x thẩm theo quy đnh
tại Điều 357 B lut dân s.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên tòa.
4
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
* Về thủ tục tố tụng:
[1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu tuyên bố hiệu việc cầm cố chuyển
nhượng quyền sử dụng đất đã kết với bị đơn vì thực chất đđảm bảo cho
việc bị đơn vay, mượn tiền cũng như số tiền hụi còn nchưa trả chứ bản chất
không có việc cầm cố hay chuyển nhượng thực sự; yêu cầu bị đơn trả lại tổng số
tiền còn nợ 418.000.000đ. Đây Tranh chấp hợp đồng cầm cố, chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, vay tài sản và nợ hụitheo khoản 3 Điều 26 Bộ luật
tố tụng dân sự. Cấp thẩm không xác định quan hệ pháp luật tranh chấp
thiếu sót, cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.
[2] Người liên quan Thị Thu T3 vắng mặt, xét không ảnh hưởng đến
việc giải quyết kháng cáo. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân
sự, phiên tòa phúc thẩm vẫn tiến hành theo quy định.
* Về nội dung:
[3] Xét rằng, trong suốt quá trình tố tụng tại cấp thẩm, cũng như diễn
biến tại phiên a phúc thẩm cả hai bên đều xác định thừa nhận bản chất
không phải phải bị đơn cầm cố hay chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho
nguyên đơn; nguyên đơn chỉ giữ đất của bị đơn khoảng 08 tháng thì bị đơn đã
nhận lại đất canh tác đến nay. Thực chất đó chỉ là hình thức mà theo nguyên đơn
để đảm bảo cho việc bị đơn vay mượn tiền nợ tiền hụi bị đơn chưa trả cho
nguyên đơn; còn bị đơn cho rằng là do nguyên đơn bắt ép phải ký vì còn nợ tiền
hụi chưa trả. Đối chiếu với Biên bản đối cht ngày 27/3/2025 (BL 10, 11) là
hoàn toàn php. Như vậy căn cứ xác định việc cầm cố đất giữa hai bên
theo Tờ cam kết cố đất ngày 12/4/2019Hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất ngày 04/12/2023giao dịch giả tạo, cấp sơ thẩm tuyên hiệu là
có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
[4] Bị đơn kháng cáo cho rằng chỉ còn nợ số tiền hụi 49.270.000đ, không
thừa nhận tổng số tiền nợ như nguyên đơn yêu cầu 418 triệu. Nguyên đơn khẳng
định bị đơn còn nợ số tiền 418 triệu đã thừa nhận tại buổi hòa giải sở. Đánh
giá luận điểm này, xét thấy: căn cứ Biên bản hòa giải cơ sở ngày 19/10/2023 của
Tổ hòa giải ấp T (BL 32, 33) ghi nhận: Bên B (bị đơn) giao đất 3 công tầm
lớn cho bên A (nguyên đơn). Sau 3 tháng bên B sang đất được sẽ hoàn trả tiền
cho bên A: tiền cố đất 200 triệu, tiền hụi 186.200.000đ, tiền mướn đất
32.000.000đ….. Ý kiến bên B không đồng ý thời gian quá ngắn…”. Theo biên
bản này bị đơn chỉ phản đối v thời gian hoàn trả tiền cho nguyên đơn, chứ
không phản đối về tổng số tiền hoặc một khoản tiền nào đó trong 03 khoản tiền
đã nêu. Do đó lập luận bị nguyên đơn ép buộc các giấy cố đất hoặc chuyển
nhượng đất, cũng như chỉ còn nợ số tiền hụi 49.270.000đ hay Tổ hòa giải sở
ghi biên bản không đúng với ý chí của bị đơn là không có cơ sở.
[5] Tuy nhiên, xét số tiền bị đơn thực nợ của nguyên đơn, thấy rằng: mặc
trong Biên bản hòa giải sở ngày 19/10/2023 liệt các khoản bị đơn
nợ, nhưng cũng ghi nhận “… Các khoản tiền giấy tờ liên quan kèm
theo…”. Đối chiếu với các tài liện chứng cứ đã thu thập thì hồ sơ chỉ có “Tờ cam
kết cố đất ngày 12/4/2019(BL 03, 04), theo đó tại trang 1 2 thể hiện bị đơn
5
nợ nguyên đơn số tiền 100 triệu; trang 3 thể hiện ngày 10/12/2019 (âl) bị đơn
lấy thêm của nguyên đơn số tiền 50 triệu; trang 4 thể hiện ngày 16/4/2022 bị
đơn mượn của nguyên đơn stiền 50 triệu, tổng hai đợt 100 triệu, hứa ngày
29/11/2022 trả. tại Tờ cam kết ngày 03/9/2023” (BL 01, 02) tại trang 4 thể
hiện bị đơn còn nợ nguyên đơn tiền hụi 49.270.000đ. Như vậy tổng cộng bị đơn
nợ nguyên đơn số tiền 249.270.000đ, không chứng cứ thể hiện bị đơn nợ
nguyên đơn stiền 418 triệu như đã ghi nhận tại Biên bản hòa giải sở ngày
19/10/2023 việc bị đơn cho rằng chỉ nợ nguyên đơn số tiền hụi 49.270.000đ,
không thừa nhận các khoản nợ khác cũng không chứng cứ chứng minh nên
không sở. Tại Tờ cam kết ngày 03/9/2023 bị đơn cam kết đến ngày
13/10/2023 strả đủ số tiền cố đất tiền hụi cho nguyên đơn nhưng sau
không thực hiện, nên theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự bị đơn phải chịu
lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ ktừ ngày 13/10/2023 đến ngày xét xử
thẩm 17/9/2025 (là 23 tháng 04 ngày) nđề nghị của đại diện Viện kiểm sát
căn cứ; cụ thể: 249.270.000đ x 0,83% x 23 tháng 04 ngày = 47.861.502đ;
tổng cộng là 297.131.502đ.
[5] Cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào Biên bản hòa giải cơ sở ngày 19/10/2023 để
buộc b đơn trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc 418.000.000đ và tiền lãi
29.111.111đ; tổng cộng 437.111.111đ không chính xác, không xem xét một
cách toàn diện cũng chưa đủ căn cứ. Do đó, cần chấp nhận một phần kháng
cáo của bị đơn, sửa một phần bản án thẩm về stiền nợ bị đơn phải trả như
đề nghị của đại diện Viện kiểm sát căn cứ. Các nội dung khác không
kháng cáo, kháng nghị nên không xem xét.
[6] Về án phí: Do sửa án sơ thẩm về số tiền nợ bị đơn phải trả nên án phí sơ
thẩm sẽ được điều chỉnh lại, kể cả nguyên đơn cũng phải chịu án phí sơ thẩm
trên số tiền không được chấp nhận 120.868.498đ. Kháng cáo được chấp nhận
một phần, nên bị đơn không phải chịu án pphúc thẩm. Lưu ý rút kinh nghiệm
đối với cấp thẩm trong việc bị đơn là vợ chồng cùng ký tên trong Đơn kháng
cáo về phán quyết của án thẩm quyền và nghĩa vụ chung của họ, thì họ chỉ
phải nộp tạm ứng án phí chung là 300.000đ, cấp thẩm buộc họ phải nộp tạm
ứng án phí riêng mỗi người 300.000đ là sai, cần chấn chỉnh lại cách hiểu này.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 29 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Minh T,
Lê Thị T1; Sửa một phần bản án sơ thẩm.
1/- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn
K, Trần Thị Hồng V về yêu cầu bị đơn ông Minh T, Thị T1 bồi
thường thiệt hại số tiền 8.800.000đ.
2/- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
+ Tuyên bố Hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất ngày 12/4/2019 giữa ông
Võ Minh T, bà Lê Thị T1 với ông Nguyễn Văn K, bà Trần Thị Hồng V theo “Tờ
cam kết cố đất ngày 12/4/2019” và Hợp đồng chuyển nhượng đất vườn ngày
6
04/12/2023” giữa ông Minh T, Thị T1 với ông Nguyễn Văn K,
Trần Thị Hồng V vô hiệu.
+ Buộc bị đơn ông Minh T, Thị T1 nghĩa vụ trả cho nguyên
đơn ông Nguyễn Văn K, Trần Thị Hồng V số tiền 297.131.502đ (trong đó:
gốc 249.270.000đ + lãi 47.861.502đ). Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án,
nếu người nghĩa vụ chậm trả tiền thì phải chịu lãi suất chậm trả theo mức lãi
suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với số tiền và thời
gian chậm thi hành án.
3/- Chi phí tố tụng khác:
+ Chi phí thẩm định, định giá tài sản 21.450.000đ mỗi bên chịu ½; nguyên
đơn đã nộp tạm ứng nên bị đơn ông T, bà T1 phải nộp trả lại cho nguyên đơn số
tiền 10.725.000đ.
+ Chi phí giám định chữ ký, chữ viết 11.656.000đ bị đơn chịu; đã nộp
xong.
4/- Về án phí sơ thẩm:
+ Bị đơn ông T, T1 phải chịu án phí không có giá ngạch 600.000đ và án
phí trả nợ có giá ngạch 14.856.575đ.
+ Nguyên đơn ông K, V phải chịu 6.043.425đ; khấu trừ vào tiền tạm
ứng án phí đã nộp 14.700.000đ theo các Biên lai số 0009098 ngày 03/12/2024
và số 0009130 ngày 09/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách,
tỉnh Sóc Trăng (nay Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ); nên được nhận
lại 8.656.575đ.
5/- Về án phí phúc thẩm: Bị đơn không phải chịu, nên được nhận lại số tiền
600.000đ đã nộp tạm ứng án phí kháng cáo theo Biên lai số 0004051 số
0004053 cùng ngày 02/10/2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hp bn án, quyết định được thi hành theo quy đnh tại Điều 2 ca
Lut Thi hành án dân s thì người được thi hành án dân sự, người phi thi hành
án dân s có quyn tha thun thi hành án, quyn yêu cu thi hành án, t nguyn
thi hành án hoc b ng chế thi hành án theo qui đnh tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
và 9 ca Lut Thi hành án dân s; thi hiệu thi hành án được thc hin theo quy
định tại Điều 30 ca Lut Thi hành án dân s.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Nơi nhận : Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa
- Các đương sự
- VKSND.TPCT (Đã ký)
- TAND KV10.
- THADS. TPCT
- Lưu (HS - 2b).
Trần Tuấn Quốc
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 560/2026/DS-PT Bản án số 560/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 560/2026/DS-PT Bản án số 560/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất