Bản án số 809/2026/DS-PT ngày 18/06/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 809/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 809/2026/DS-PT ngày 18/06/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 809/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị G - Lê Văn H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 809/2026/DS-PT Bản án số 809/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 809/2026/DS-PT Bản án số 809/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 809/2026/DS-PT
Ngày: 18-6-2026
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
Các Thẩm phán: bà Lê Thị Kim Nga
ông Đinh Tiền Phương
- Thư phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mỹ Linh Thẩm tra viên Tòa án nhân
dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông
Lê Ngọc Hiền - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 12 18 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh xét xphúc thẩm công khai vụ án thụ số 220/2026/TLPT-DS ngày
10 tháng 4 năm 2026 về việc: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 07/2026/DS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 3-Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 386/2026/QĐ-PT ngày14 tháng 5
năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1967
2. Ông Trương Tấn P, sinh năm 1966
Cùng địa chỉ: số A khu C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (nay Đ,
tỉnh Tây Ninh).
- Bị đơn:
1. Ông Lê Văn H, sinh năm 1967
2. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1970
Cùng địa chỉ: ấp T, xã H, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông H và bà T:
2
1. Ông Mai Thanh N, sinh năm 1989; địa chỉ liên hệ: số A, Ô ấp K, H,
tỉnh Tây Ninh (theo Văn bản ủy quyền ngày 11/9/2026).
2. Ông Phùng Minh P1, sinh năm 2000; địa chỉ liên hệ: số A, Ô ấp K, xã H,
tỉnh Tây Ninh (theo Văn bản ủy quyền ngày 11/9/2026).
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Văn phòng C1 (trước đây Văn
phòng C2); địa chỉ trụ sở: 9B Đường H, xã Đ, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: bà Nguyễn Mộng T1 (Trưởng Văn phòng).
- Người kháng cáo: bị đơn ông Lê Văn H, bà Nguyễn Thị T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ghi ngày 01/4/2024 trong quá trình giải quyết vụ án
tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn ông Trương Tấn P và bà Nguyễn Thị G trình bày:
Ngày 08/11/2022, ông Trương Tấn P Nguyễn Thị G nhận chuyển
nhượng quyền sdụng đất diện tích 2.724m
2
thuộc thửa số 777, tờ bản đồ số 1,
tại ấp A, H, huyện Đ, tỉnh Long An của vợ chồng ông Lê Văn HNguyễn
Thị T. Hợp đồng do Nguyễn Thị G kết với vợ chồng ông Văn H bà
Nguyễn Thị T, giá ghi trong hợp đồng 400.000.000đ (bốn trăm triệu đồng),
nhưng giá thực tế 8.500.000.000đ (tám tỷ năm trăm triệu đồng). Hợp đồng được
Văn phòng C2 chứng nhận, số công chứng 9683 (sau đây viết tắt là Hợp đồng số
9683). Bà G đã giao đủ số tiền 8.500.000.000đ (tám tỷ năm trăm triệu đồng) cho
vợ chồng ông H, bà T. Ông H hứa sẽ lo thủ tục sang tên cho G và hẹn 04 tháng
sẽ có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ).
Đến khi đã quá thời hạn, ông P bà G nhiều lần nhắn tin cho vợ chồng ông
H đề nghị thực hiện thủ tục sang tên, nhưng vợ chồng ông H nhiều lần hứa hẹn
vẫn chưa thực hiện. Ngày 30/3/2024, ông H, T lập “Giấy cam kết” xác nhận
giá mua bán thực tế 8.500.000.00(tám tỷ năm trăm triệu đồng) đã nhận
đủ tiền; do gặp sự cố nên chưa sang tên cho bà G được. Sau đó, ông P, bà G biết
được thửa đất số 777 có nguồn gốc là nhập bởi thửa 380 và thửa 379 và được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất số phát hành BD 540000, số vào sổ CS 10258 do Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh L cấp ngày 16/02/2022 cho ông Văn H. Tại điểm b khoản 1 Điều
7 của Hợp đồng số 9683, bên chuyển nhượng cam đoan “thửa đất không có tranh
chấp”, nhưng, theo Thông báo thụ số 379/2020/TLST-DS ngày 08/12/2020 của
Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An thì thửa 380 tờ bản đồ số 1 đang
tranh chấp. Như vậy, việc ông H, T biết đất tranh chấp vào năm 2020 nhưng
đến năm 2022 vẫn cố tình chuyển nhượng cho ông P, bà G hành vi lừa dối, vi
phạm điều cấm trong giao dịch dân sự, theo Điều 188 Luật Đất đai năm 2013. Số
tiền 8,5 tỷ đồng do ông P, bà G vay vớii suất 1%/tháng để trả tiền nhận chuyển
nhượng đất cho ông H, bà T.
Ông Trương Tấn P, bà Nguyễn Thị G khởi kiện yêu cầu Tòa án xét xử tuyên
hiệu Hợp đồng số 9683; buộc ông Văn H Nguyễn Thị T trả lại ông
3
Trương Tấn P, Nguyễn Thị G số tiền đã nhận 8.500.000.000đ (tám tỷ năm
trăm triệu đồng) và bồi thường thiệt hại cho ông Trương Tấn P, bà Nguyễn Thị G
lãi suất 1% tháng trên stiền đã nhận tính từ ngày 08/11/2022 cho đến khi trả
(tạm tính từ ngày 08/11/2022 đến ngày 12/8/2025 33 tháng 6 ngày
2.821.451.610 đồng). Tổng số tiền phải trả 11.321.451.610 đồng (=
8.500.000.000đ + 2.821.451.610đ).
Tại phiên tòa thẩm, nguyên đơn thay đổi rút một phần yêu cầu khởi
kiện, cụ thể: nguyên đơn yêu cầu Tòa án hủy Hợp đồng số 9683; buộc ông Lê Văn
H và Nguyễn Thị T hoàn trả số tiền chuyển nhượng đã nhận là 8.500.000.000
đồng và rút yêu cầu khởi kiện về bồi thường thiệt hại.
Theo đơn phản tố ghi ngày 11/9/2025 trong quá trình giải quyết vụ án tại
cấp sơ thẩm, bị đơn bà Nguyễn Thị T và ông Lê Văn H trình bày:
Ông H và bà T chủ sử dụng quyền sử dụng đất diện tích 2.724m
2
tại thửa
đất số 777 tờ bản đồ 1 xã H, huyện Đ, tỉnh Long An, nay là ấp A, xã Đ, tỉnh Tây
Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành DD 540000 do Sở
Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 16/02/2022 cho ông Lê Văn H.
Ngày 08/11/2022, ông H và bà T có thỏa thuận chuyển nhượng thửa đất trên
cho bà G với giá chuyển nhượng là 2.500.000.000đ (hai tỷ năm trăm triệu đồng),
hợp đồng được Văn phòng C2 chứng nhận, số công chứng 9683. Theo thỏa thuận,
thủ tục giấy tờ do bên G làm. Ngay khi hợp đồng, ông H đã bàn giao đất
cho G. Do đó, ông H T đã hoàn tất xong nghĩa vụ của mình trong việc
chuyển nhượng thửa đất này đối với bà G.
Đến ngày 30/3/2024, theo yêu cầu của nguyên đơn, ông Văn H và
Nguyễn Thị T tên vào “Giấy cam kết” xác nhận giá thực tế 8,5 tỷ đồng
và đã nhận đủ tiền. Thực chất, số tiền này có cấn trừ nghĩa vụ của việc bà T và
G cùng hùn hạp mua bán nhiều mảnh đất khác, còn thực tế giá chuyển nhượng
thửa đất 777 chỉ là 2,5 tỷ đồng (hai tỷ năm trăm triệu đồng).
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông H T yêu cầu phản
tố như sau: yêu cầu công nhận Hợp đồng số 9683.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C2, nay Văn phòng C1
có ý kiến tại Công văn số 66/CV-VPCCNMT ngày 28/6/2025 như sau:
Ngày 08/11/2022, Công chứng viên Trần Hữu T2 chứng nhận Hợp
đồng số 9683, quyển số 11/2022TP/CC-SCC/HĐGD giữa ông Văn H,
Nguyễn Thị T với bà Nguyễn Thị G, đối với thửa đất số 777, tờ bản đồ số 1, đất
tọa lạc tại ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An. Từ lúc tiếp nhận, xử lý hồ cho
đến khi ký vào hợp đồng, công chứng viên đã thực hiện đúng quy định của pháp
luật. Đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án.
Tại Bản án dân sự thẩm số 07/2026/DS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 3-Tây Ninh đã xử:
“Căn cứ khoản 3, 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 và các Điều
147, 157, 165, 217, 227, 228, 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 288, 425,
4
427, 503 của Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013; Điều 6, Điều
26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban thường
vụ Quốc hi quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án, quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Tấn P, bà Nguyễn Thị G về
việc “Tranh chấp chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đối với ông Văn H,
Nguyễn Thị T.
1.1. Tuyên hy bỏ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công
chứng: 9683 do Văn phòng C2 chứng nhận ngày 08/11/2022 giữa bà Nguyễn Thị
G ông Văn H, Nguyễn Thị T, đối với thửa đất 777, tờ bản đồ số 1, tọa
lạc tại Ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh).
1.2. Buộc ông Văn H Nguyễn Thị T phải trách nhiệm liên đới
trả lại cho Nguyễn Thị G ông Trương Tấn P số tiền 8.500.000.000 đồng
(tám tỷ năm trăm triệu đồng). Thời hạn trả: Ngay khi bản án hiệu lực pháp
luật.
Khi án hiệu lực pháp luật, kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của
người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên
nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả
theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời
gian chưa thi hành án, trtrường hợp các bên thỏa thuận khác hoặc pháp luật
có quy định khác.
1.3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị G và ông Trương Tấn P
về việc yêu cầu ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị T bồi thường thiệt hại với số tiền
tạm tính từ ngày 08/11/2022 đến ngày 12/8/2025 là 2.821.451.610 đồng.
1.4. Hậu quả của việc đình chỉ: Đương sự được quyền khởi kiện bằng vụ án
khác khi có tranh chấp.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị T
về việc yêu cầu công nhận hiệu lực của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất số công chứng: 9683 do Văn phòng C2 chứng nhận ngày 08/11/2022 giữa
Nguyễn Thị G Văn H, Nguyễn Thị T đối với thửa đất số 777, tờ bản đồ số
1, tọa lạc tại ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh).
3. Ông Trương Tấn P và bà Nguyễn Thị G có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông
Văn H Nguyễn Thị T bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
777, tờ bản đồ số 1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất số DD 540000 do Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh L cấp cho ông Văn H vào ngày 16/02/2022, ngay khi bản án hiệu lực
pháp luật.”
Ngoài ra, bản ánthẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền và thời
hạn kháng cáo, việc thi hành án theo quy định của pháp luật.
Ngày 26/01/2026, bị đơn ông Lê Văn H và Nguyễn Thị T kháng cáo toàn
bộ bản án dân sự sơ thẩm.
5
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Ông Mai Thanh N trình bày: giá thực tế của hợp đồng chuyển nhượng
2.500.000.000đ (hai tỷ năm trăm triệu đồng). Thời điểm giao nhận tiền không có
biên nhận gì. Đối với số tiền 8.500.000.000đ (tám tỷ năm tm triệu đồng) ghi
trên “Giấy cam kết” ngày 30/3/2024 ông H T tên cộng của
những khoản tiền hùn làm ăn mua bán đất ở Đ giữa G ông H, T viết
vào thời gian rất lâu sau khi hai bên công chứng hợp đồng chuyển nhượng thửa
777, thể hiện thiện chí của bên bán, để đảm bảo lòng tin cho G lúc đó ông
Trần Hoàng A tranh chấp đất với ông Võ Văn G1. Mặc dù nội dung trong “Giấy
cam kết” không nêu rõ việc hùn hạp làm ăn, nhưng ông H và bà T đã tên nên
nay ông không ý kiến về số tiền các bên đã giao dịch đối với thửa 777, coi như
bà G đã trả tiền xong. Ông H, bà T chỉ kháng cáo yêu cầung nhận hiệu lực của
hợp đồng, bởi trước khi mua đất thì G đã đi xem đất, sau khi hợp đồng
thì G đã nhận đất; ông H, T đã giao đất bản chính giấy tđất cho G
xong; việc chậm làm thủ tục giấy tờ do nguyên nhân khách quan, thửa 380 của
ông H thửa 380 ông Hoàng A mua của ông G1 không liên quan với nhau
và Tòa án nhân dân khu vực 3-Tây Ninh đã xử bác yêu cầu của ông Trần Hoàng
A tranh chấp thửa 380, nên hiện nay thủ tục chuyển nhượng đất cho G hoàn
toàn không có trở ngại gì.
Nguyễn Thị G trình bày: do quen biết với bà Nguyễn Thị T khi cùng tập
yoga chung, nên bà có nhận chuyển nhượng của bà T thửa đất số 777. Trước khi
mua đất, bà T đưa đi xem thực tế đất. đã trả đủ số tiền 8.500.000.000
đồng cho T ông H, T đã giao đất cho bà. tin tưởng nên không làm biên
nhận tiền ngay lúc giao nhận tiền và bà cũng không đọc nội dung hợp đồng trước
khi tên lúc công chứng, cũng không nhận bản chính của Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất thửa 777 mà bên ông H, bà T vẫn giữ để làm thủ tục sang tên,
nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện xong. Trường hợp thửa 380 không còn tranh
chấp thì cũng không đồng ý tiếp tục hợp đồng chuyển nhượng thửa 777 với
ông H, bà T yêu cầu hủy hợp đồng nhận lại tiền, yêu cầu T ông H
phải trả tiền lãi trên số tiền đã nhận.
Ông Trương Tấn P trình bày: thời điểm thỏa thuận chuyển nhượng thửa 777
giữa vợ ông Nguyễn Thị G với vợ chồng ông Lê Văn H, Nguyễn Thị T
thì ông không biết. Lúc bán đất, ông H và bà T hứa bao thủ tục sang tên làm giấy
tờ. Bà G vay tiền để mua đất, lúc giao tiền cho ông H, bà T không làm biên nhận
gì. Đến 1-2 năm sau, khi không làm thủ tục sang tên được phải trả nợ Ngân
hàng thì bà G mới thông báo cho ông, khi đọc hợp đồng ông phát hiện chỉ ghi giá
400.000.000đ (bốn trăm triệu đồng) nên mới yêu cầu ông H, T “Giấy cam
kết” ghi giá thật 8,5 tỷ. Ngày 03/9/2020, ông Hoàng A kiện ông H để tranh chấp
thửa 380, sao đến ngày 16/02/2022 ông H lại được cấp đổi GCNQSDĐ thửa
777, đề nghị Hội đồng xét xử làm rõ việc ông H cố tình gộp thửa đất 379 và 380
thành thửa 777 để lừa dối bà G. Ngày 08/11/2022 ông H bán thửa 777 cho bà G,
nhưng ngày 11/3/2022, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đã áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với thửa 380. Đất đang tranh chấp, nhưng
6
ông H vẫn thỏa thuận bán cho vợ ông là vi phạm điểm b khoản 1 Điều 7 của Hợp
đồng số 9683; Điều 503 của Bộ luật Dân sự Điều 188 của Luật Đất đai. Về
việc giao nhận tiền, ông H T chỉ thừa nhận bán đất giá 2,5 tỷ đồng, nhưng
“Giấy cam kết” ghi bên ông H nhận đủ 8,5 tỷ đồng. Bên ông H chỉ đất
cho G xem trên thực tế, nhưng chưa giao đất không có biên bản của quan
đo đạc cắm mốc. Việc mua bán dựa trên lòng tin của G đối với T, T
hứa hẹn sau khi bà G mua đất thì bà T sẽ tìm người mua lại đất của G với giá
cao hơn để G kiếm lời. Mục đích của bên nhận chuyển nhượng không đạt được,
cho đến nay đất đủ điều kiện chuyển nhượng tG cũng không đồng ý
tiếp tục thực hiện hợp đồng. Hiện nay, G chưa được cập nhật đăng biến
động nên hợp đồng chưa hiệu lực theo Điều 503 của Bộ luật Dân sự. Do đó,
ông yêu cầu hủy hợp đồng theo Điều 425 của Bộ luật Dân sự giải quyết hậu
quả của việc hủy hợp đồng theo Điều 427 của Bộ luật Dân sự các bên trả cho
nhau những gì đã nhận.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm các đương sự chấp hành đúng quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn H, bà Nguyễn Thị
T đủ điu kiện để xem xét theo trình t phúc thm.
Về nội dung kháng cáo: ngày 08/11/2022, bà G và ông H, bà T ký hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 777. Tại thời điểm chuyển nhượng, ông
H đang đứng tên GCNQSDĐ, hợp đồng được công chứng hợp pháp, các bên
không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép khi ký. Theo Công văn số 6293/STNMT-
VPĐKĐĐ ngày 26/8/2024, Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh L xác định thửa đất
số 777 được hình thành từ việc hợp 02 thửa 379 và 380. Đến nay, không cơ quan
nào thu hồi GCNQSDĐ đã cấp cho ông H đối với thửa 777. Trước khi chuyển
nhượng cho G, thì ông H đã làm đơn xin xác nhận vị trí đất. Tại Công văn số
30/BC-UBND ngày 20/5/2022, Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Long An đã
xác định thửa 380 của ông Lê Văn H và thửa 380 của ông Trần Hoàng A khác vị
trí. Theo Điều 7 của Hợp đồng, bà G xác định đã xem xét kỹ, biết rõ về thửa đất
nêu trêncác giấy tờ về quyền sử dụng đất. “Giấy cam kết” ghi ngày 30/3/2024
xác định ông H, bà T tiếp tục hợp đồng, không từ chối chuyển nhượng cho bà G.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật
Tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của ông H, T, sửa toàn bộ bản án sơ thẩm,
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P, bà G; chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của ông H, bà T.
Đối với yêu cầu của G đòi tính lãi trên số tiền ông H, bà T đã nhận không
thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đơn kháng cáo của bị đơn ông Văn H, Nguyễn Thị T thực hiện
đúng theo quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 và Điều 276 của Bộ luật Tố
tụng dân sự. Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn giữ nguyên yêu
7
cầu phản tố. Người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không
tự thỏa thuận được về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Vụ án được xét xử theo thủ
tục phúc thm.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tòa án không triệu tập Văn phòng C1
tham gia phiên tòa phúc thẩm. Ông Văn H Nguyễn Thị T vắng mặt,
nhưng có người đại diện theo ủy quyền có mặt. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố
tụng dân sự, Tòa án vẫn xét xử phúc thẩm vụ án.
[3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự
thẩm. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm
xem xét lại toàn bộ vụ án.
[4] Về việc áp dụng pháp luật về nội dung: giao dịch đang tranh chấp
được xác lập vào năm 2022. Do đó, cần căn cứ pháp luật về đất đai dân sự đang
hiệu lực trong quá trình xác lập giao dịch để giải quyết tranh chấp, cụ thể: áp
dụng Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật Đất đai năm 2013 các văn bản hướng dẫn
thi hành luật có liên quan.
Xét kháng cáo của ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị T,
[5] Căn cứ cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: ông P, bà G cho rằng,
trong hợp đồng ông H và bà T cam đoan đất không có tranh chấp, nhưng thực tế
ông H bà T biết đất đã có tranh chấp và Tòa án đang thụ lý giải quyết, nhưng vẫn
cố tình ký chuyển nhượng, là vi phạm điều cấm của luật tại Điều 503 của B luật
Dân sự Điều 188 của Luật Đất đai, nên yêu cầu hủy hợp đồng theo Điều 425
của Bộ luật Dân sự.
[6] Căn cứ chou cầu phản tố và kháng cáo của bị đơn: ông H và bà T cho
rằng, trước khi nhận chuyển nhượng, G đã xem đất trên thực tế trong hợp
đồng ghi G đã xem xét kỹ, biết về thửa đất các giấy tờ về quyền sử
dụng đất. Bà G đã trả đủ tiềnđã nhận đất xong, bên ông H đã giao bản chính
giấy chứng nhận quyền sdụng đất cho G, hiện nay thửa đất đã không n
tranh chấp, nên yêu cầu công nhận hợp đồng.
[7] Xét các căn cứ, lý lẽ các bên đương sự nại ra, Hội đồng xét xử phúc
thẩm nhận thấy rằng:
[8] Ngày 08/11/2022, ông Lê Văn H, bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị G
ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất thửa đất s777, tờ bản đồ số 01,
diện tích 2.724m
2
, tọa lạc tại ấp A, H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là Đ,
tỉnh Tây Ninh). Tại thời điểm ký kết hợp đồng, ông Lê Văn H người đứng tên
trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất số phát hành DD 540000 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp
ngày 16/02/2022. Hợp đồng được lập bằng văn bản được Văn phòng C2 chứng
nhận số 9683, quyển số 11/2022TP/CC-SCC/HĐGD theo đúng quy định pháp
luật; trong hợp đồng thể hiện các bên giao kết hoàn toàn tự nguyện, không bị
đe dọa hoặc cưỡng ép.
8
[9] Thực hiện hợp đồng, bà G xác định đã giao đủ tiền cho ông H, bà T. Tại
phiên tòa phúc thẩm, G trình bày việc giao nhận số tiền 8.500.000.000đ (tám
tỷ năm trăm triệu đồng) không lập biên bản giao nhận tiền tại thời điểm thanh toán
cũng không nhận bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng
trước khi ký hợp đồng thì bà có xem thực tế đất và sau khi trả tiền thì bà đã nhận
đất. G cho rằng bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bên ông H
T vẫn giữ để làm thủ tục sang tên, vì theo thỏa thuận “miệng” thì bên bán lo
thủ tục giấy tờ. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, trình bày của bà G về nghĩa
vụ làm thủ tục không phù hợp với thỏa thuận tại khoản 1 Điều 4 của Hợp đồng số
9683, quy định về đăng quyền sử dụng đất, các bên trong hợp đồng đã thỏa
thuận: “1. Bên nhận chuyển nhượng có nghĩa vụ thực hiện thủ tục đăng ký quyền
sử dụng đất tại cơ quan có thẩm quyền; bên chuyển nhượng đất cũng có nghĩa v
với bên nhận chuyển nhượng hoàn thành c thủ tục đăng đó.” Hơn nữa, ti
mục 3 phần Quyết định của Bản án thẩm cũng đã buộc ông Trương Tấn P
Nguyễn Thị G nghĩa vụ hoàn trả cho ông Văn H Nguyễn Thị T
bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 540000 do Sở Tài nguyên
Môi trường tỉnh L cấp cho ông Văn H vào ngày 16/02/2022. Do đó, lời trình
bày của G cho rằng không gibản chính của GCNQSDĐ, không đúng sự
thật khách quan của quá trình thực hiện hợp đồng giữa bà Gông H, bà T.
[10] Tại điểm b khoản 2 Điều 7 của Hợp đồng số 9683, phía nhận chuyển
nhượng là bà G cam đoan “đã xem xét kỹ, biết rõ về thửa đất nêu trên và các giấy
tờ về quyền sử dụng đất”. Điều khoản thỏa thuận này cũng phù hợp với trình bày
của G tại cấp phúc thẩm, G đã xác định trước khi hợp đồng công
chứng thì đã đi xem đất, biết về vị trí phần đất mình nhận chuyển nhượng;
hồ vụ án thể hiện G đã giữ bản chính giấy tờ đất, nên việc G cho rằng
hoàn toàn không biết gì về việc đất có tranh chấp, là không đủ căn cứ vững chắc.
[11] Tại Công văn số 6293/STNMT-VPĐKĐĐ ngày 26/8/2024, Sở Tài
nguyên Môi trường tỉnh L xác định thửa đất số 777 được hình thành từ việc
hợp 02 thửa 379 380, nguồn gốc ban đầu của bà Hồ Thị L được cấp
GCNQSDĐ đo đạc thực tế; còn thửa 389 (đổi thành thửa 380) của ông Võ Văn
G1 được cấp GCNQSDĐ đại trà theo khai, đăng của người sdụng đất,
không đo đạc thực tế (các bút lục số 69, 70).
[12] Theo tài liệu do Tòa án cấp phúc thẩm thu thập được từ hồ sơ vụ án
“tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất, hủy quyết định hành
chính biệt tranh chấp quyền sử dụng đất”, giữa nguyên đơn ông Trần
Hoàng A, bị đơn ông Văn G1, đã được Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa,
tỉnh Long An thụ số 379/2020/TLST-DS ngày 08/12/2020 được Tòa án nhân
dân khu vực 3-Tây Ninh xét xử thẩm tại Bản án dân sthẩm số 87/2025/DS-
ST ngày 08 tháng 8 năm 2025, thể hiện:
[12.1] Năm 2008, ông Trần Hoàng A nhận chuyển nhượng quyền sử dụng
đất thửa 388 và thửa 389 tờ bản đồ số 1 xã H, huyện Đ, tỉnh Long An của ông
Văn G1. Tuy nhiên, khi làm thủ tục sang tên, thì thửa 389 lại được cấp đổi thành
thửa 380. Sau khi nhận chuyển nhượng thì ông Hoàng A cho ông G1 tiếp tục thuê
9
đất canh tác. Đến năm 2019, khi Ủy ban nhân dân xã H thông báo cho ông Hoàng
A thực hiện cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì ông Hoàng A phát
hiện trên tờ bản đồ ông Lê Văn H cũng đứngn chủ sử dụng thửa 380.
[12.2] Do đó, ông Hoàng A khởi kiện ông Văn G1 yêu cầu công nhận
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 389 (được UBND huyện Đ
chỉnh lại thành thửa 380) giữa bên chuyển nhượng ông Văn G1 bên
nhận chuyển nhượng là ông Trần Hoàng A hợp pháp; hủy GCNQSDĐ cấp cho
ông Văn H vào ngày 25/11/2016 đối với thửa đất số 380; hủy bỏ Quyết định
nhập thửa 379 và 380 thành thửa 777 tờ bản đồ số 01 H cho ông Văn H.
Trong vụ án này, ông Văn H, Nguyễn Thị G ông Trương Tấn P đều tham
gia ttụng với cách người quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Ông H đơn
yêu cầu độc lập, yêu cầu hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa ông Trần Hoàng A với ông Văn G1 ngày 23/8/2008 do UBND H
chứng thực đối với thửa đất 380 (389) và hủy GCNQSDĐ do ông Trần Hoàng A
đứng tên thửa 380 (các bút lục số 452, 453 trong Hồ vụ án thụ số
379/2020/TLST-DS). Ông P G đã trình bày tại bảng tường trình ghi ngày
14/10/2024, nội dung: trường hợp hợp đồng chuyển nhượng giữa G với ông
Văn H, bà Nguyễn Thị T ngày 08/11/2022 bị vô hiệu thì ông P, T không
yêu cầu giải quyết hậu quả trong cùng vụ án (các bút lục số 1190, 1191 có trong
Hồ sơ vụ án thụ lý số 379/2020/TLST-DS).
[12.3] Tại Bản án dân sự thẩm số 87/2025/DS-ST ngày 08 tháng 8 năm
2025, Tòa án nhân dân khu vực 3-Tây Ninh đã xét xử: vô hiệu hợp đồng chuyển
nhượng thửa 380 (389) giữa ông G1 và ông Hoàng A do có đối tượng không thể
thực hiện được; chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của ông H. Sau khi xét xử sơ
thẩm, ông Hoàng A và ông G1 chỉ kháng cáo 1 phần Bản án dân sự thẩm số
87/2025/DS-ST về phần giải quyết hậu quả pháp của hợp đồng hiệu. Như
vậy, phần Bản án dân sự thẩm số 87/2025/DS-ST ngày 08 tháng 8 năm 2025
về việc chấp nhận yêu cầu độc lập của ông H không bị kháng cáo, kháng nghị
theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 08 tháng 9 năm 2025
ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại Điều 273, Điều
280 và khoản 2 Điều 282 ca Bộ luật Tố tụng dân sự.
[12.4] Cũng trong Hồ vụ án thụ số 379/2020/TLST-DS, tại Công văn
số 30/BC-UBND ngày 20/5/2022 vviệc trả lời Đơn yêu cầu xác định vtrí
quyền sdụng đất ghi ngày 15/5/2022 của ông Lê Văn H, Ủy ban nhân dân xã H,
huyện Đ, tỉnh Long An đã xác định, “Trên thực tế hiện nay thửa đất số 777 do
ông Lê Văn H đang trực tiếp quản lý sử dụng có vị trí liền kề giáp ranh với thửa
389 do ông Trần Hoàng A nhận chuyển nhượng từ ông Văn G1, hai thửa
đất riêng biệt không trùng vị trí.” Như vậy, trước thời điểm ngày 08/11/2022, khi
thỏa thuận chuyển nhượng thửa 777 cho G, thì ông H cũng đã có đơn đề nghị
cơ quan quản lý đất đai xác định vị trí đất của ông (thửa 777) và vị trí đấtông
Hoàng A tranh chấp với ông G1 (thửa 380) đã được xác định 2 thửa đất riêng
biệt (các bút lục số 1041, 1148 trong Hồ sơ vụ án thụ lý số 379/2020/TLST-DS).
10
[12.5] Đối với trình bày của ông P về việc theo Hồ vụ án thụ số
379/2020/TLST-DS, Tòa án cấp thẩm Quyết định số 11/2022/QĐ-BPKCTT
ngày 11/3/2022 áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời: Cấm thực hiện hành vi
chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê, thế chấp, thừa kế, ủy quyền và tặng cho về
quyền sử dụng đất; C thay đổi hiện trạng tài sản tranh chấp theo quy định tại
Điều 121, Điều 122 của Bộ luật Tố tụng dân sự đối với thửa đất số 380 tờ bản đ
số 1 H, diện tích 1.889m
2
do ông Văn H đứng tên trên Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số CE 796355 ngày 25/11/2016 (bút lục 1058). Hội đồng xét
xử phúc thẩm nhận thấy, trước khi Tòa án cấp thẩm ban hành Quyết định số
11/2022/QĐ-BPKCTT, thửa 380 này đã được nhập với thửa 379, thành 1 thửa
mới là 777 và ông Lê Văn H đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
DD540000 vào ngày 16/02/2022. Như vậy, tại thời điểm ngày 11/3/2022 khi Tòa
án cấp thẩm ban hành Quyết định số 11/2022/QĐ-BPKCTT, thì thửa 380 đã
không còn tồn tại về mặt pháp lý.
[13] Trong Giấy cam kết ngày 30/3/2024, ông H, T cam kết phần đất thửa
777 là thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình; ngoài bán cho bà G thì ông H, bà
T không bán, cho tặng bất kỳ nào khác. Điều này hoàn toàn phù hợp với tài liệu
trong hồ ván đã thể hiện, tại Công văn số 1044/CN.VPĐKĐĐ-HCTH ngày
03/9/2025, Chi nhánh Văn phòng Đ xác nhận, từ tháng 5 năm 2022 đến nay thì
GCNQSDĐ số DD 540000 không có đăng ký giao dịch bảo đảm (bút lục số 78).
[14] Tòa án cấp thẩm căn cứ Điều 425 Bộ luật Dân sự năm 2015 để hủy
bỏ hợp đồng với nhận định rằng hợp đồng không còn khả năng thực hiện, là chưa
phù hợp với nội dung thỏa thuận giữa G ông H, T. Bởi lẽ, trong Hợp
đồng số 9683, các bên không thỏa thuận về thời hạn để thực hiện quyền và nghĩa
vụ của mỗi bên. Trong Giấy cam kết ngày 30/3/2024, hai bên cũng không xác
định vthời hạn để thực hiện hợp đồng mà chỉ nêu rõ do gặp scố về giấy tờ nên
chưa sang tên cho phía G được. Việc chưa hoàn thành thủ tục đăng ký sang tên
xuất phát từ lý do khách quan; đây không phải là trường hợp bên bán từ chối thực
hiện nghĩa vụ hoặc không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ chuyển quyền sử dụng
đất. Trở ngại khách quan này chưa làm mất đi khả năng tiếp tục thực hiện hợp
đồng khi vụ việc liên quan được giải quyết theo quy định pháp luật. Đến thời điểm
xét xử thẩm vụ án này vào ngày 23 tháng 01 năm 2026, thì thửa đất số 777
cũng đã không còn bị tranh chấp vì đã được giải quyết tại Bản án dân sự sơ thẩm
số 87/2025/DS-ST ngày 08 tháng 8 năm 2025 đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày
08 tháng 9 năm 2025 về phần liên quan đến thửa 380 do ông Văn H đứng
tên trên GCNQSDĐ. Mặt khác, trong Hợp đồng số 9683, các bên cũng không thỏa
thuận về điều kiện hủy bỏ theo điểm a khoản 1 Điều 422 của Bộ luật Dân sự năm
2015; đồng thời, theo thỏa thuận tại khoản 1 Điều 4 của Hợp đồng số 9683, thì
G là bên có nghĩa vụ thực hiện thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất, bên ông H, bà
T có nghĩa vphối hợp – nên khi thủ tc sang tên bị chậm tkhông hoàn toàn do
lỗi của bên ông H, bà T và không thể là căn cứ để hủy bỏ hợp đồng.
[15] Hợp đồng số 9683 được công chứng hợp pháp; G đã trả đủ tiền
thừa nhận đã nhận đất; bà G đang giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng
11
đất thửa 777 và là bên có nghĩa vụ thực hiện thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất;
phía ông H, bà T đã nhận đủ tiền, đã giao đất và giấy tvề quyền sử dụng đất cho
G. Trong hợp đồng, các bên hoàn toàn không thỏa thuận về thời hạn hoàn tất
thủ tc chuyển nhượng. Đến thời điểm ngày 8/9/2025 thì thửa 777 không bị tranh
chấp, nên việc G yêu cầu hủy bỏ hợp đồng, không thuộc một trong các trường
hợp về hủy bỏ hợp đồng được quy định tại Điều 423, Điều 424 Điều 425 của
Bộ luật Dân sự năm 2015; cũng không thuộc trường hợp hợp đồng bị hiệu theo
quy định tại các Điều 122, Điều 123, Điều 127 Điều 129 của Bộ luật Dân s
năm 2015. Hợp đồng số 9683 đáp ứng các điều kiện được quy định tại Điều 500,
Điều 501 và Điều 502 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nên các bên trong hợp đồng
phải tiếp tục thực hiện thủ tục chuyển quyền đăng theo quy định của Luật
Đất đai.
[16] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được tại cấp phúc thẩm, Hội
đồng xét xử phúc thẩm xét thấy căn cứ chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông
Văn H Nguyễn Thị T, sửa toàn bộ bản án thẩm theo hướng không
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Tấn P, Nguyễn Thị G; chấp nhận
yêu cầu phản tố của ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị T.
[17] Ngoài ra, Tòa án cấpthẩm không xem xét yếu tố lỗi của các bên để
giải quyết hậu quả khi hợp đồng bị hủy bỏ, cụ thể chưa đánh giá đầy đủ, toàn
diện về quá trình thỏa thuận của các bên trước khi hợp đồng, các quyền
nghĩa vụ của các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng, bởi lẽ, bà G đã xem kỹ, biết
về thửa đất các giấy tờ về quyền sử dụng đất nghĩa vụ thực hiện thủ
tục đăng ký, nên không thể cho rằng G hoàn toàn không biết về việc đất
đang bị tranh chấp. Theo Chứng thư thẩm định giá số 020/2025/536-HD/TĐG
LA-BĐS ngày 03/12/2025 của Công ty cổ phần T3, giá trị quyền sử dụng đất thửa
777 6.402.735.000 đồng, giảm 2.097.265.000 đồng so với giá chuyển nhượng
các bên thỏa thuận (8,5 tỷ đồng), chính là thiệt hại nếu hợp đồng bị hủy bỏ
hoặc hiệu. Như vậy, khi giải quyết hậu quả pháp của hợp đồng bhủy bỏ
hay hiệu, nếu cả hai bên cùng lỗi, thì nguyên tắc bồi thường thiệt hại phải
được xác định theo hướng: nếu giá đất tăng tbên bán phải bồi thường giá trị
chênh lệch tăng cho bên mua; ngược lại, nếu giá đất giảm, thì bên mua cũng phải
bồi thường giá trị chênh lệch giảm cho bên bán và mức bồi thường tùy thuộc vào
mức độ lỗi của các bên làm cho hợp đồng bị hủy bỏ hoặc vô hiệu. Tuy nhiên, do
bác yêu cầu khởi kiện của bà G đòi hủy bỏ hợp đồng và buộc ông H, T hoàn
trả toàn bộ số tiền đã thanh toán khi nhận chuyển nhượng thửa 777, nên Hội đồng
xét xử phúc thẩm không xem xét về vấn đề bồi thường thiệt hại.
[18] Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn rút 1 phần yêu cầu khởi kiện về tính
lãi. Tòa án cấp sơ thẩm không viện dẫn khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
là thiếu sót, cũng cần sửa phần này ca bản án sơ thẩm.
[19] Sau khi xét xử thẩm, G không kháng cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm,
bà G lại đặt ra yêu cầu đòi ông H, bà T bồi thường thiệt hại, trả lãi trên s tiền đã
nhận, không thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm theo quy định tại Điều 293 của
Bộ luật Tố tụng dân sự.
12
[20] Về chi phí tố tụng tổng cộng 28.000.000 đồng: do yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn không được chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn được chấp nhận,
nên nguyên đơn phải liên đới chu toàn bộ. Ông Văn H và bà Nguyễn Thị T đã
tạm nộp chi xong, nên ông Trương Tấn P và Nguyễn Thị G nghĩa vụ liên
đới hoàn trả cho ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị T số tiền 28.000.000 đồng.
[21] Về án phí dân sự thẩm: do sửa toàn bộ bản án sơ thẩm, nên án phí
được xác định lại. Ông Trương Tấn P, Nguyễn Thị G phải liên đới chịu 300.000
đồng án phí không giá ngạch do yêu cầu hủy bỏ hợp đồng không được chấp
nhận 116.500.000 đồng án phí giá ngạch trên số tiền yêu cầu hoàn trả không
được chấp nhận, tổng cộng án phí ông P G phải liên đới chịu 116.800.000
đồng, mỗi người ½ là 58.400.000 đồng. Ông Trương Tấn P người cao tuổi, có
đơn xin miễn án phí nên được miễn phần án phí lẽ ra ông P phải chịu. Ông
Văn H Nguyễn Thị T không phải chịu án pdo được chấp nhận yêu cầu
khởi kiện và được trả tạm ứng.
[22] Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo của ông Văn H
Nguyễn Thị T được chấp nhận nên không phải chịu án phí và được trả tạm ứng.
[23] Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với quy định của pháp luật và nhận
định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 309, khoản 3, 9 Điều 26, khoản
1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 148, Điều 157, Điều 165, khoản 2
Điều 244, Điều 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 119, Điều 122,
Điều 385, Điều 398, Điều 500, Điều 502 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1,
điểm a khoản 3 Điều 167, khoản 1 Điều 168, khoản 1 Điều 188 của Luật Đất đai
2013; Điều 12, Điều 26, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn H và Nguyễn Thị
T.
3. Sửa toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2026/DS-ST ngày 23 tháng 01
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3-Tây Ninh.
4. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trương Tấn P và bà
Nguyễn Thị G về việc:
- Hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Văn H,
Nguyễn Thị T vớiNguyễn Thị G đối với thửa đất số 777 tờ bản đồ số 01, diện
tích 2.724m², tọa lạc tại ấp A, H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây
Ninh), do Văn phòng C2 chứng nhận số công chứng 9683, quyển số
11/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/11/2022.
13
- Buộc ông Văn H Nguyễn Thị T hoàn trả số tiền chuyển nhượng
quyền sử dụng đất là 8.500.000.000đ (tám tỷ năm trăm triệu đồng).
5. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Văn H và bà Nguyễn Thị
T:
Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Văn
H, Nguyễn Thị T với Nguyễn Thị G đối với thửa đất số 777 tờ bản đồ số
01, diện tích 2.724m², tọa lạc tại ấp A, H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ,
tỉnh Tây Ninh), do Văn phòng C2 chứng nhận số công chứng 9683, quyển số
11/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/11/2022 có hiệu lực pháp luật.
6. Các đương sự quyền nghĩa vụ liên hệ các quan thẩm quyền
cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất, các quan liên quan để thực hiện
việc đăng ký chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai
quyết định của bản án.
7. Văn phòng đăng ký đất đai, Cơ quan Tài nguyên và Môi trường, Cơ quan
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án
để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho đương sự phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
8. Đình chỉ giải quyết vụ án đối với phần yêu cầu khởi kiện của ông Trương
Tấn P Nguyễn Thị G về việc yêu cầu ông Văn H Nguyễn Thị T
bồi thường thiệt hại số tiền 2.821.451.610đ (hai tỷ tám trăm hai mươi mốt triệu
bốn trăm năm mươi mốt ngàn sáu trăm mười đồng).
9. Về chi phí tố tụng tổng cộng 28.000.000đ (hai mươi tám triệu đồng): buộc
ông Trương Tấn P Nguyễn Thị G phải liên đới chịu toàn bộ phải nộp
28.000.000đ (hai mươi tám triệu đng) để hoàn trả tạm ứng cho ông Lê Văn H
Nguyễn Thị T.
10. Về nghĩa vụ nếu chậm thi hành án: kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành
án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền,
hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự
năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
11. Về án phí dân sự sơ thẩm:
11.1. Ông Trương Tấn P được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
11.2. Nguyễn Thị G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tổng cộng
58.400.000, nhưng khấu trừ vào số tiền 59.300.000đ (năm mươi chín triệu ba trăm
ngàn đồng) tạm ứng án phí Nguyễn Thị G ông Trương Tấn P đã nộp theo
biên lai thu số 0004022 và 0004023 cùng ngày 09/12/2024 của Chi cục Thi hành
án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (nay Phòng Thi hành án dân sự khu
vực 3 Tây Ninh). Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị G và ông Trương Tấn P số tiền
900.000đ (chín trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí còn thừa.
14
11.3. Ông Lê Văn H Nguyễn Thị T không phải chịu án phí dân sự
thẩm. Hoàn trả cho ông Văn H và Nguyễn Thị T mỗi người số tiền 300.000đ
(ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp, theo các Biên lai thu số 0004372 và
0004374 cùng ngày 16/9/2025 ca Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
12. Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Văn H và bà Nguyễn Thị T không
phải chu án phí phúc thẩm. Hoàn trả cho ông Lê Văn Hbà Nguyễn Thị T mỗi
người số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đng) tạm ứng án phí đã nộp theo các Biên
lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001920 0001921 cùng ngày 26/01/2026 của Thi
hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
13. Về hướng dẫn thi hành án: trường hợp bản án, quyết định được thi hành
theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân stngười được thi hành án,
người phải thi hành án quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành
án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các
Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo
quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
14. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm này hiệu lực pháp luật kể
từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 3-Tây Ninh;
- Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3-
Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, án văn./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 809/2026/DS-PT Bản án số 809/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 809/2026/DS-PT Bản án số 809/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất