Bản án số 112/2024/DS-ST ngày 12/09/2024 của TAND TP. Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 112/2024/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 112/2024/DS-ST ngày 12/09/2024 của TAND TP. Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Bạc Liêu (TAND tỉnh Bạc Liêu)
Số hiệu: 112/2024/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/09/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP N yêu cầu anh Trần Anh D trả nợ vay
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ BẠC LIÊU Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH BẠC LIÊU
Bản án số: 112/2024/DS-ST
Ngày: 12 9 2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU – TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Nguyễn Thị Yến Ly
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Dư Thị Út
2. Ông Võ Minh Sơn
- Thư ký phiên tòa:Đặng Phương Thảo Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham
gia phiên tòa:Trần Mỹ Linh Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu
xét xử thẩm công khai vụ án thsố: 160/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 4
năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số: 140/2024/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP N.
Địa chỉ: Số A, T, phường L, quận H, Thành Phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quang D. Chức vụ: Chủ tịch Hội
đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đậu Tuấn C. Chức vụ: Giám đốc chi
nhánh B1.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Đậu Tuấn C: Anh Nguyễn Văn B.
Chức vụ: Trưởng phòng PGD phường 3 Ngân hàng TMCP N, chi nhánh B1. Địa
chỉ: Số B H, phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)
2. Bị đơn: Anh Trần Hoàng D1, sinh năm 1985 chị Trần Thị A, sinh
năm 1985. Cùng địa chỉ: Số C T, khóm C, phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
(Vắng mặt)
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, lời khai trong hvụ án người đại diện theo ủy
quyền của nguyên đơn anh Nguyễn Văn B trình bày:
Ngày 29/6/2018, Ngân hàng TMCP N, chi nhánh B1, phòng G với anh Trần
Hoàng D1 chị Trần Thị A đã hợp đồng cho số 104/BĐS/VCB.BLI.18 để
vay số tiền gốc 210.000.000 đồng, mục đích đắp tiền mua đất với lãi suất
trong hạn là 8,6%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, thời hạn vay
là 180 tháng, tiền gốc và tiền lãi được trả định kỳ vào ngày 26, kỳ trả nợ đầu tiên là
ngày 26/7/2018. Anh D2 chị A đã nhận đủ tiền vay theo giấy nhận nợ số 81
ngày 02/7/2018.
Ngày 28/5/2019, Ngân hàng TMCP N, chi nhánh B1, phòng G với anh Trần
Hoàng D1 chị Trần Thị A đã hợp đồng cho số 158/BĐS/VCB.BLI.19 để
vay số tiền gốc 550.000.000 đồng, mục đích xây nhà với lãi suất trong hạn
8,9%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, thời hạn vay 180
tháng, tiền gốc tiền lãi được trả định kỳ vào ngày 26, kỳ trả nợ đầu tiên ngày
26/6/2019. Anh D2 chị Tú A đã nhận đủ tiền vay theo giấy nhận nợ số 61 ngày
13/6/2019, số 77 ngày 30/7/2019, số 84 ngày 23/8/2019 số 114 ngày
12/11/2019.
Ngày 26/7/2022, Ngân hàng TMCP N, chi nhánh B1, phòng giao dịch
Phường C với anh Trần Hoàng D1, chTrần Thị A đã hợp đồng cho số
244/TIEUDUNG.P3.22 đvay số tiền gốc 400.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng
mua sắm vật dụng gia đình với lãi suất trong hạn 11,5%/năm, lãi suất quá hạn
bằng 150% lãi suất trong hạn, thời hạn vay 120 tháng, tiền gốc và tiền lãi được
trả định kỳ vào ngày 26, kỳ trả nợ đầu tiên là ngày 26/8/2022. Anh D2 và chị Tú A
đã nhận đủ tiền vay theo giấy nhận nợ số 01 ngày 27/7/2022.
Để bảo đảm cho khoản vay thì vào ngày 24/10/2019, anh Trần Hoàng D1
chị Trần Thị Tú A đã Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất nhà số
241/BĐS/VCB.BLI.19 với Ngân hàng TMCP N, chi nhánh B1, phòng giao dịch
phường C để thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn
liền với đất tại thửa đất số 1503, tờ bản đồ số 16-6, diện tích 58,0m
2
đất tại đô
thị, nhà gắn liền với đất loại nhà riêng lẻ cấp 3, diện tích xây dựng 54m
2
, diện
tích sàn 110m
2
, hình thức sở hữu riêng tọa lạc DA khu dân phường B, phường
B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh B cấp ngày
14/10/2019 cho anh Trần Hoàng D1 chị Trần Thị A đứng tên trên giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 161409.
Trong quá trình thực hiện các hợp đồng tín dụng, anh D1 chị A đã
thanh toán được cho Ngân hàng tổng cộng 544.144.158 đồng (trong đó nợ gốc
202.399.773 đồng, nợ lãi 341.744.385 đồng). Từ ngày 27/10/2023, anh D1 chị
A đã chậm thanh toán phát sinh nợ quá hạn, Ngân hàng đã nhiều lần làm
việc với anh D1 chị A để yêu cầu trả nợ nhưng anh D1 chị A vẫn
không thanh toán nợ cho Ngân hàng.
3
Nay Ngân hàng TMCP N yêu cầu anh Trần Hoàng D1 chị Trần Thị A
phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP N toàn bộ số tiền tạm tính đến ngày
11/9/2024 là 1.045.887.539 đồng (trong đó nợ gốc là 957.600.227 đồng, nợ lãi quá
hạn 86.806.904 đồng, nợ lãi chậm trả là 1.480.408 đồng) tiền lãi phát sinh từ
ngày 12/9/2024 theo thỏa thuận trong hợp đồng đã ký kết cho đến khi hoàn thành
nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
Trường hợp anh Trần Hoàng D1 chị Trần Thị Tú A không thực hiện nghĩa
vụ trả nợ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP N
quyền yêu cầu quan thi hành án thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất nhà số 241/BĐS/VCB.BLI.19 ngày
24/10/2019 quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với
đất tại thửa đất số 1503, tờ bản đồ số 16-6, diện tích 58,0m
2
đất tại đô thị, nhà
gắn liền với đất loại nriêng lẻ cấp 3, diện tích xây dựng 54m
2
, diện tích sàn
110m
2
, hình thức sở hữu riêng, tọa lạc DA khu dân cư phường B, phường B, thành
phố B, tỉnh Bạc Liêu do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 14/10/2019
cho anh Trần Hoàng D1 chị Trần Thị A đứng tên trên giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số CT 161409. Căn nhà cấp 3 trên đất kết cấu khung cột bê
tông cốt thép, tường xây gạch bao quanh, đỗ sàn bê tông cốt thép tầng lầu 1 và ban
công (lan can sắt), mái lợp tol, nền gạch men, mặt tiền trước dán gạch, khung
cửa nhôm cao cấp, mức độ sử dụng tiện nghi đầy đủ, stầng: 02 tầng (01 tầng trệt
và 01 tầng lầu). Ngoài ra Ngân hàng TMCP N không còn yêu cầu gì khác.
* Bị đơn anh Trần Hoàng D1 chị Trần Thị A đã được Tòa án triệu tập
hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên không lấy được lời khai.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán Hội
đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; Đối với nguyên đơn đã
thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vtố tụng đơn xin xét xử vắng mặt; Đối với
bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp llần thứ hai nhưng vắng mặt không do
nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung vụ án:
+ Đnghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N. Buộc anh
D1 chị Tú A nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP N số tiền tạm tính đến ngày
11/9/2024 là 1.045.887.539 đồng (trong đó nợ gốc là 957.600.227 đồng, nợ lãi quá
hạn 86.806.904 đồng, nợ lãi chậm trả là 1.480.408 đồng) tiền lãi phát sinh từ
ngày 12/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng đã
ký kết cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng.
+ Trong trường hợp anh D1 chị A không thực hiện nghĩa vụ trả nợ,
Ngân hàng TMCP N quyền yêu cầu cơ quan thi hành án thẩm quyền phát
mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền s dụng đất nhà số
241/BĐS/VCB.BLI.19 ngày 24/10/2019 là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 1503, tờ bản đồ số 16-6, diện tích
4
58,0m
2
đất tại đô thị, nhà gắn liền với đất loại nriêng lẻ cấp 3, diện tích
xây dựng 54m
2
, diện tích sàn 110m
2
, hình thức sở hữu riêng, tọa lạc DA khu dân
phường B, phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu do Sở Tài nguyên Môi
trường tỉnh B cấp ngày 14/10/2019 cho anh Trần Hoàng D1 chị Trần Thị A
đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 161409.
+ Về chi phí tố tụng và án phí: Anh Dũng và chị Tú A phải chịu theo quy định
pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được
thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại
diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[2] Về thẩm quyền thủ tục tố tụng: Ngân hàng TMCP N khởi kiện tranh
chấp hợp đồng tín dụng đối với anh D1 chị A, anh D1 chA đang
trú trên địa bàn thành phố B nên căn cứ vào khoản 1 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ
luật ttụng dân sự Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu thụ giải quyết
đúng thẩm quyền. Anh D2 chị A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai
nhưng vắng mặt, anh B đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt nên Hội đồng
xét xử giải quyết vắng mặt các đương sự này đúng theo quy định tại khoản 2
Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ theo các tài liệu, chứng cứ
trong hồ vụ án thì Ngân hàng TMCP N, chi nhánh B1, phòng giao dịch
Phường C với anh D2 và chị A đã kết các hợp đồng tín dụng, cụ thể như
sau:
[3.1] Vào ngày 29/6/2018, Ngân ng TMCP N, chi nhánh B1, phòng giao
dịch Phường C với anh D2 chị A đã hợp đồng cho số
104/BĐS/VCB.BLI.18 để vay số tiền gốc 210.000.000 đồng, mục đích đắp tiền
mua đất với lãi suất trong hạn 8,6%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất
trong hạn, thời hạn vay là 180 tháng, tiền gốc và tiền lãi được trả định kỳ vào ngày
26, kỳ trả nợ đầu tiên ngày 26/7/2018. Anh D2 chị A đã nhận đủ tiền vay
theo giấy nhận nợ số 81 ngày 02/7/2018. Đối với khoản vay y, tính đến ngày
11/9/2024 anh D2 chị A còn nợ 150.146.930 đồng (trong đó nợ gốc
137.559.227 đồng, nợ lãi quá hạn 12.321.287 đồng, nợ lãi chậm trả 266.416
đồng).
[3.2] Vào ngày 28/5/2019, Ngân ng TMCP N, chi nhánh B1, phòng giao
dịch Phường C với anh Trần Hoàng D1, chị Trần Thị A đã hợp đồng cho số
158/BĐS/VCB.BLI.19 để vay số tiền gốc 550.000.000 đồng, mục đích xây nhà
với lãi suất trong hạn là 8,9%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn,
thời hạn vay 180 tháng, tiền gốc tiền lãi được trả định kỳ vào ngày 26, kỳ trả
nợ đầu tiên ngày 26/6/2019. Anh D2 chị A đã nhận đủ tiền vay theo giấy
nhận nợ s61 ngày 13/6/2019, số 77 ngày 30/7/2019, số 84 ngày 23/8/2019 số
5
114 ngày 12/11/2019. Đối với khoản vay này, tính đến ngày 11/9/2024 anh D2
chị A còn nợ 508.908.302 đồng (trong đó nợ gốc 466.717.000 đồng, nợ lãi
quá hạn 41.785.239 đồng, nợ lãi chậm trả là 406.063 đồng).
[3.3] Vào ngày 26/7/2022, Ngân ng TMCP N, chi nhánh B1, phòng giao
dịch Phường C với anh D2 chị A đã hợp đồng cho số
244/TIEUDUNG.P3.22 đvay số tiền gốc 400.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng
mua sắm vật dụng gia đình với lãi suất trong hạn 11,5%/năm, lãi suất quá hạn
bằng 150% lãi suất trong hạn, thời hạn vay 120 tháng, tiền gốc và tiền lãi được
trả định kỳ vào ngày 26, kỳ trả nợ đầu tiên là ngày 26/8/2022. Anh D2 và chị Tú A
đã nhận đủ tiền vay theo giấy nhận nợ số 01 ngày 27/7/2022. Đối với khoản vay
này, tính đến ngày 11/9/2024 anh D2 chị A còn nợ 386.832.307 đồng
(trong đó nợ gốc 353.324.000 đồng, nlãi quá hạn 32.700.378 đồng, nợ lãi chậm
trả là 807.929 đồng).
[3.4] Ngân hàng TMCP N xác định do anh D2 chị A không thực hiện
nghĩa vụ trả nợ như đã thỏa thuận nên Ngân hàng TMCP N khởi kiện yêu cầu anh
D2 chị Tú A phải thanh toán số tiền gốc và lãi còn nợ. Sau khi Tòa án thụ lý vụ
án, Tòa án đã tiến hành tống đạt văn bản tố tụng cho anh D2 và chị Tú A nhiều lần
nhưng anh D2 chị A không đến Tòa án cũng không ý kiến phản đối
với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N. Từ đó cho thấy, việc anh D2
chị Tú A có vay tiền và hiện vẫn còn nợ tiền Ngân hàng TMCP N là thực tế có xảy
ra. Do đó, Ngân hàng TMCP N khởi kiện yêu cầu anh D2 chị A trả nợ
căn cứ. Quá trình thực hiện hợp đồng anh D2 chị A chỉ thanh toán được số
tiền gốc 202.399.773 đồng, tiền lãi 341.744.385 đồng. Từ ngày 27/10/2023 đến
nay anh D2 chị A không thanh toán số tiền gốc và lãi cho Ngân hàng theo
như thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng hai bên đã kết. vậy, anh D2
chị Tú A đã vi phạm nghĩa vụ của bên vay nên việc Ngân hàng TMCP N khởi kiện
yêu cầu anh D2 chị A phải thanh toán nợ phù hợp với quy định tại Điều
466 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 100, 103 của Luật Các tổ chức tín dụng
năm 2024.
[4] Xét yêu cầu trả tiền gốc: Căn cứ theo các hợp đồng tín dụng đã kết thì
anh D2 chị A vay của Ngân hàng TMCP N số tiền gốc 1.160.000.000
đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, anh D2 chị A đã thanh toán cho Ngân
hàng được stiền gốc 202.399.773 đồng, còn nợ lại số tiền gốc là 957.600.227
đồng. Anh Dũng chị A không ý kiến phản đối đối với số tiền Ngân
hàng TMCP N xác định anh D2 chị A đã trả nợ nên Hội đồng xét xử đ
căn cứ xác định anh D2 chị A còn nợ Ngân hàng TMCP N số tiền gốc là
957.600.227 đồng nên Ngân hàng yêu cầu anh D2 và chị A trả căn cứ
chấp nhận.
[5] Xét yêu cầu trả tiền lãi: Theo các hợp đồng tín dụng hai bên đã kết
thỏa thuận lãi suất trong hạn lần lượt là 8,6%/năm, 8,9%/năm 11,5%/năm trong
trong suốt thời gian vay, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, thỏa thuận
hoàn toàn tự nguyện và phù hợp quy định pháp luật. Do anh D2 và chị Tú A không
6
thực hiện nghĩa vụ trả nợ như hợp đồng nên Ngân hàng yêu cầu anh D2 chị
A phải trả tiền lãi quá hạn 86.806.904 đồng, tiền lãi chậm trả là 1.480.408 đồng
theo thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng là phù hợp nên được chấp nhận.
[6] Xét yêu cầu xử tài sản thế chấp: Để bảo đảm cho khoản vay thì ngày
24/10/2019, anh D2 chị A Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
nhà số 241/BĐS/VCB.BLI.19 với Ngân hàng TMCP N để thế chấp quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 1503,
tờ bản đồ số 16-6, diện tích 58,0m
2
đất tại đô thị, nhà gắn liền với đất loại nhà
riêng lẻ cấp 3, diện tích xây dựng 54m
2
, diện tích sàn 110m
2
, hình thức sở hữu
riêng, tọa lạc DA khu dân phường B, phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu do
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 14/10/2019 cho anh Trần Hoàng D1
chị Trần Thị A đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sCT
161409. Căn nhà cấp 3 trên đất kết cấu khung cột bê tông cốt thép, tường y
gạch bao quanh, đỗ sàn tông cốt thép tầng lầu 1 ban công (lan can sắt), mái
lợp tol, nền gạch men, mặt tiền trước dán gạch, khung cửa nhôm cao cấp, mức
độ sử dụng tiện nghi đầy đủ, số tầng: 02 tầng (01 tầng trệt và 01 tầng lầu). Việc thế
chấp này chứng thực đăng thế chấp hợp pháp theo quy định tại điểm a,
khoản 1 Điều 12 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ
về giao dịch bảo đảm nên hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành.
Nay Ngân hàng TMCP N yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ trong trường
hợp anh D1 chị A không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ là phù hợp với
quy định tại Điều 299 của Bluật n sự năm 2015 nên được Hội đồng xét xử
chấp nhận.
[7] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử căn cứ chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N, buộc anh D1 và chị Tú A cùng có nghĩa v
trả cho Ngân hàng TMCP N số tiền gốc 957.600.227 đồng tiền lãi tính đến
ngày 11/9/2024 nợ lãi quá hạn 86.806.904 đồng nợ lãi chậm trả 1.480.408
đồng, tổng cộng 1.045.887.539 đồng. Đồng thời kể từ ngày 12/9/2024, anh D1
chị A còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc với mức lãi
suất các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã kết cho đến khi thanh toán
xong nợ cho Ngân hàng TMCP N. Trường hợp anh D1 chị Tú A không thực
hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP N quyền yêu cầu cơ quan thi hành án
thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng
đất và nhà ở số 241/BĐS/VCB.BLI.19 ngày 24/10/2019 đã ký kết để thu hồi nợ.
[8] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Anh D2 chị A phải chịu
750.000 đồng. Ngân hàng TMCP N đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng số tiền
2.000.000 đồng tại Phiếu thu số 98 ngày 02 tháng 5 năm 2024, đã chi hết số tiền
750.000 đồng. Ngân hàng TMCP N đã được nhận lại số tiền 1.250.000 đồng tại
Tòa án nhân dân thành phBạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. Buộc anh D2 chị A
cùng có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng TMCP N số tiền 750.000 đồng.
[9] Từ những nhận định trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn
cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
7
[10] Về án phí: Anh Dũng và chị Tú A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá
ngạch trên yêu cầu của Ngân hàng TMCP N được chấp nhận 43.376.000 đồng.
Ngân hàng TMCP N không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 217, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố
tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào các Điều 299, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 100, 103 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024.
Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần N đối
với anh Trần Hoàng D1 và chị Trần Thị Tú A.
1.1. Buộc anh Trần Hoàng D1 chị Trần Thị A cùng nghĩa vụ trả
cho Ngân hàng thương mại cổ phần N số tiền gốc 957.600.227 đồng tiền lãi
tính đến ngày 11/9/2024 lãi quá hạn 86.806.904 đồng, lãi chậm trả 1.480.408
đồng, tổng cộng 1.045.887.539 đồng (Một tỷ không trăm bốn mươi lăm triệu tám
trăm tám mươi bảy nghìn năm trăm ba mươi chín đồng).
Kể từ ngày 12/9/2024 anh Trần Hoàng D1 chị Trần Thị Tú A còn phải
chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền ngốc với mức lãi suất các bên thỏa
thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong nợ cho Ngân
hàng thương mại cổ phần N.
1.2. Trong trường hợp anh Trần Hoàng D1 và chị Trần Thị Tú A không thực
hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân ng
thương mại cổ phần N quyền yêu cầu quan thi hành án thẩm quyền phát
mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền s dụng đất nhà số
241/BĐS/VCB.BLI.19 ngày 24/10/2019 là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 1503, tờ bản đồ số 16-6, diện tích
58,0m
2
đất tại đô thị, nhà gắn liền với đất loại nriêng lẻ cấp 3, diện tích
xây dựng 54m
2
, diện tích sàn 110m
2
, hình thức sở hữu riêng, tọa lạc DA khu dân
phường B, phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu do Sở Tài nguyên Môi
trường tỉnh B cấp ngày 14/10/2019 cho anh Trần Hoàng D1 chị Trần Thị A
đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 161409. Căn nhà cấp 3
trên đất kết cấu khung cột tông cốt thép, tường xây gạch bao quanh, đỗ sàn
tông cốt thép tầng lầu 1 ban công (lan can sắt), mái lợp tol, nền gạch men,
mặt tiền trước dán gạch, khung cửa nhôm cao cấp, mức độ sdụng tiện nghi
đầy đủ, số tầng: 02 tầng (01 tầng trệt và 01 tầng lầu).
8
2. Về chi phí tố tụng: Buộc anh Trần Hoàng D1 chị Trần Thị A phải
chịu 750.000 đồng. Ngân hàng thương mại cổ phần N đã nộp tạm ứng chi phí tố
tụng số tiền 2.000.000 đồng tại Phiếu thu số 98 ngày 02 tháng 5 năm 2024, đã chi
hết số tiền 750.000 đồng. Ngân hàng thương mại cổ phần N đã được nhận lại số
tiền 1.250.000 đồng tại Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. Buộc
anh Trần Hoàng D1 và chị Trần Thị A cùng nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng
thương mại cổ phần N số tiền 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
3. Về án phí: Anh Trần Hoàng D1 chị Trần Thị A phải chịu án phí dân
sự thẩm là 43.376.000 đồng. Ngân hàng thương mại cổ phần N không phải chịu
án phí. Ngân hàng thương mại cổ phần N đã dự nộp tạm ứng án phí thẩm
20.723.336 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lphí Tòa án số 0002585 ngày
12 tháng 4 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu nên được
nhận lại.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan quyền thỏa thuận thi hành án,
quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án
theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án
được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15
ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không mặt tại phiên tòa thì thời
hạn kháng cáo là 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được
niêm yết./.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND thành phố Bạc Liêu;
- Chi cục THADS thành phố Bạc Liêu;
- TAND tỉnh Bạc Liêu;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị Yến Ly
Tải về
Bản án số 112/2024/DS-ST Bản án số 112/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 112/2024/DS-ST Bản án số 112/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất