Bản án số 22/2025/HNGĐ-PT ngày 12/03/2025 của TAND tỉnh Bến Tre về tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 22/2025/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 22/2025/HNGĐ-PT ngày 12/03/2025 của TAND tỉnh Bến Tre về tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bến Tre
Số hiệu: 22/2025/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/03/2025
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim Y, ông La Hoài H; Giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Thế Hồng;
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Hữu Lương;
Ông Lê Minh Đạt.
- Thư phiên tòa: Nguyễn Minh Phương Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa:
Lê Thị Hồng Vân – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sTòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số 59/2024/TLPT-HNGĐ ngày 29 tháng 11
năm 2024 về việc “Ly hôn, chia tài sản khi ly hôn”
Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 82/2024/HNGĐ-ST ngày 06 tháng
8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 5137/2024/QĐPT-
HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:Nguyễn Thị Kim Y, sinh năm 1976;
Địa chỉ: Ấp G, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre; có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Huỳnh
Minh T, luật của Công ty L thuộc Đoàn luật tỉnh B; địa chỉ: C, đường Đ,
khu phố C, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre; có mặt.
- Bị đơn: Ông La Hoài H, sinh năm 1977;
Địa chỉ: Ấp G, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ngân hàng Thương mại cổ phần N1;
Trụ sở chính: 201-203, đường C, phường D, quận C, Thành phố H.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 22/2025/HNGĐ-PT;
Ngày: 12/3/2025;
V/v Ly hôn, chia tài sản khi ly hôn”;
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
2
Người đại diện hợp pháp: Phan Như P, Giám đốc Ngân hàng Thương
mại cổ phần N1 - Chi nhánh B1 - Phòng G1; địa chỉ: Số C A, khu phố A, thị trấn
B, huyện B, tỉnh Bến Tre; văn bản yêu cầu không tham gia tố tụng ngày
17/4/2024.
2. Bà Nguyễn Thị Kim U, sinh năm 1972;
Địa chỉ: Ấp G, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre; có mặt.
3. Ông Trần Minh T1, sinh năm 1990;
Địa chỉ: Ấp V, T, huyện B, tỉnh Bến Tre; đơn yêu cầu xét xử vắng
mặt ngày 03/5/2024.
4. Bà Mai Thị Ả, sinh năm 1946;
Địa chỉ: Ấp G, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre; có mặt.
5. Ông Trần Minh Đ, sinh năm 1976;
Địa chỉ: Ấp G, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre; vắng mặt.
- Người làm chứng do bị đơn tự triệu tập: Ông La Hoài H1, sinh năm:
1986;
Địa chỉ: ấp P, xã M, huyện T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; có mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn - Nguyễn Thị Kim Y, bđơn - ông La
Hoài H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung bản án sơ thẩm:
Nguyên đơn Nguyễn Thị Kim Y trình bày như sau:
Nguyễn Thị Kim Y với ông La Hoài H tự nguyện chung sống với nhau
vào năm 2000, hai bên đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân P, huyện B,
tỉnh Bến Tre vào năm 2010. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc.
Đến năm 2019, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng
quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cự cải nhau, ông H chỉ lo ăn
chơi, không lo xây dựng gia đình, đem đồ đạc trong nhà đi bán bạo hành gia
đình, đập phá đồ đạc trong nhà. Y cố gắng hàn gắn, thuyết phục ông H để
xây dựng lại hạnh phúc gia đình, nhưng không kết quả, từ đó tình cảm vợ
chồng không n, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Vợ chồng Y, ông H đã
sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay.
Do không còn tình cảm vợ chồng với ông H nữa nên Y yêu cầu ly hôn
với ông H.
Về nuôi con chung: 02 con chung tên là Nguyễn Thị Tuyết N, sinh ngày
30/9/2002; La Xuân P1, sinh ngày 23/01/2009. Sau khi ly hôn, Nguyễn Thị
Kim Y yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu La Xuân P1, không yêu cầu ông
H cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu Nguyễn Thị Tuyết N đã trưởng thành không
3
yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng bà Y, ông H nợ Ngân
hàng TMCP N1-Chi nhánh B1-Phòng G2 Đại số tiền 16.650.000 đồng (Mười
sáu triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Y tự nguyện tiếp tục trả cho ngân
hàng đến khi hết nợ. Riêng số tiền bà Y trả nợ thay cho ông H, bà Y sẽ khởi kiện
yêu cầu ông H hoàn trả trong vụ kiện khác.
Nguyên đơn Nguyễn Thị Kim Y rút lại yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu
ông La Hoài H phải hoàn trả tiền vay, tiền bán xe và tiền cấp dưỡng nuôi con.
Bị đơn La Hoài H trình bày:
Ông H thống nhất với Nguyễn Thị Kim Y vquá trình chung, sống,
đăng ký kết hôn con chung. Hiện tại, mâu thuẫn vợ, chồng trầm trọng, không
thể hàn gắn được. Do đó, nay Y yêu cầu ly hôn, ông Hiệp đồng Ý.
Về nuôi con chung: 02 con chung tên là Nguyễn Thị Tuyết N, sinh ngày
30/9/2002; La Xuân P1, sinh ngày 23/01/2009. Sau khi ly hôn, ông Hiệp đồng Ý
để Y trực tiếp nuôi dưỡng cháu La Xuân P1, ông H không phải cấp dưỡng
nuôi con. Riêng cháu Nguyễn Thị Tuyết N đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa
án giải quyết.
Về tài sản chung: Trong thời kỳ hôn nhân, ông H với Y tạo lập được các
tài sản chung gồm: Thửa đất số 131, tờ bản đồ số 13, tọa lạc tại P, huyện B,
tỉnh Bến Tre do bà Nguyễn Thị Kim Y đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất; Thửa đất số 379, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại P, huyện B, tỉnh Bến Tre do
Nguyễn Thị Kim U đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trên thửa
đất số 379, tờ bản đồ s5 02 căn nhà (01 căn nhà bà Y đang ở, căn còn lại
chia thành 02 căn nhỏ cho thuê).
Ông H yêu cầu chia đôi tất cả tài sản chung nói trên, đồng thời ông H yêu
cầu nhận giá trị.
Về nợ chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng bà Y, ông H còn nợ Ngân
hàng TMCP N1-Chi nhánh B1, phòng G2 Đại số tiền là 16.650.000 đồng (Mười
sáu triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Bà Y tự nguyện trả tiếp số tiền nợ còn
lại, ông H không có ý kiến hay yêu cầu gì.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng Thương mại cổ phần
N1 do người đại diện hợp pháp Giám đốc Ngân hàng Thương mại cphần
N1 - Chi nhánh B1 - Phòng G1 có văn bản gửi cho Toà án trình bày:
Do Y đã cam kết đơn phương thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng
số tiền còn lại nên Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 - Chi nhánh B1 - Phòng
G1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Kim U trình bày:
U không đồng ý theo yêu cầu chia tài sản chung của ông La Hoài H đối
với thửa đất số 379, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre bởi vì
thửa đất số 379, tờ bản đồ số 5 do U đứng tên, tài sản trên đất nhà gạch
G1 (Nhà gạch G1, tách ra thành 02 căn nhỏ để cho thuê) do Nguyễn Thị Kim
U xây dựng, không phải là tài sản chung của vợ chồng bà Y, ông H. Do đó, bà U
đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của ông H về việc chia thửa
đất số 379, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre nhà gạch
G1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Minh T1 trình bày:
Ông T1 đang thuê 01 căn nhà của Nguyễn Thị Kim U được xây dựng
trên thửa đất s379, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre t
ngày 27/3/2024. Thời hạn hai bên thỏa thuận thuê là 01 năm. Sau khi Tòa án xét
xử xong vụ việc, nếu căn nhà của Nguyễn Thị Kim U thì ông T1 tiếp tục
thuê, trong trường hợp căn nhà của người khác thì ông T1 chấm dứt hợp đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Mai Thị Ả trình bày:
Phần đất ruộng thuộc thửa đất s131, tờ bản đồ s13, tọa lạc tại P,
huyện B, tỉnh Bến Tre do chuyển nhượng của Thị Bạch Y1, bà
người trực tiếp trả tiền. Đồng thời, thửa đất số 131, tờ bản đồ số 13, Ảnh
cho riêng con gái là Nguyễn Thị Kim Y. Ông La Hoài H không lo làm ăn, chỉ lo
ăn nhậu, do đó bà không cho. Riêng phần đất thuộc thửa số 379, tờ bản đồ số
5, tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre của Nguyễn Thị Kim U. Nhà
gạch G2 mà Y đang ở khi ông H về đã có nhà rồi.
Sau khi hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Bình Đại đưa vụ án
ra xét xử.
Tại Bản án hôn nhân gia đình thẩm số 82/2024/HNGĐ-ST ngày 06
tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Bình Đại đã quyết định (tóm tắt):
1. Chấp nhận một phần đơn khởi kiện về việc yêu cầu ly hôn của
Nguyễn Thị Kim Y đối với ông La Hoài H.
Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa Nguyễn Thị Kim Y với ông La
Hoài H.
Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Kim Y với ông La Hoài H chấm dứt
kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về nuôi con chung:
Y được trực tiếp nuôi dưỡng cháu La Xuân P1, sinh ngày 23/01/2009.
Riêng cháu Nguyễn Thị Tuyết N, sinh ngày 30/9/2002 đã trưởng thành, hai bên
không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
Ông H không trực tiếp nuôi con quyền, nghĩa vụ thăm nom con
5
không ai được cản trở.
Y trc tiếp nuôi con cng các thành viên gia đình không được cn tr
ông H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc nhân, tổ chức được
quy định tại khoản 5 Điều 84, Điều 116 Điều 119 của Luật Hôn nhân gia
đình năm 2014, Tòa án thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con
và quyết định thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung.
Nguyễn Thị Kim Y được chia, nhận bằng hiện vật toàn quyền sử
dụng thửa đất số 131, tờ bản đồ số 13, tọa lạc tại P, huyện B tỉnh Bến Tre.
Ngoài ra, Y được quyền sở hữu các tài sản trên đất gồm: 22 cây dừa; 01 căn
chòi kết cấu mái lợp tole fiproximăng, vách tole thiếc, cột xi măng, nền xi
măng
+ Thửa đất số 131, tờ bản đồ số 13, có tứ cận như sau:
- Hướng Đông giáp kênh.
- Hướng Tây giáp thửa 103, tờ bản đồ số 13 (Đất ông Nguyễn Thành B).
- Hướng Nam giáp thửa 130, tờ bản đồ 13 (Đất của bà Nguyễn Thị Kim U).
- Hướng Bắc giáp thửa 132, tờ bản đồ số 13 (Đất ông Nguyễn Thành B).
(Kèm theo họa đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 06/9/2023 của Chi nhánh
Văn phòng đăng ký đất đai huyện B, tỉnh Bến Tre).
Nguyễn Thị Kim Y phải nghĩa vụ bồi hoàn lại cho ông La Hoài H
phân nửa giá trị thửa đất 131, tờ bản đồ số 13 các tài sản trên đất với số tiền
183.083.000 đồng (Một trăm tám mươi ba triệu không trăm tám mươi ba
nghìn đồng).
Nguyễn Thị Kim Y được chia, nhận bằng hiện vật và toàn quyền sở hữu
nhà gạch G2 được y dựng trên thửa đất số 379, tờ bản đồ số 5, do Nguyễn
Thị Kim U đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngạch G2 kết
cấu: Phần nhà phía trước mống cột tông cốt thép, tường bao che, không ngăn
phòng, xây gạch 10 cm, dán gạch sơn nước, trần nhựa, nền lát gạch Ceramic,
mái tole, tráng kẻm; Phần nhà phía sau nền lát gạch Ceramic, mái tole
fiproximăng, mống cột tông cốt thép, ờng bao che, ngăn phòng, xây gạch
10 cm, sơn nước, dán tường, trần nhựa. Ngoài ra, Y được toàn quyền shữu
mái Che 2, máy che 3, nhà vệ sinh và hồ nước.
(Kèm theo họa đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 25/7/2023 của Chi nhánh
Văn phòng đăng ký đất đai huyện B, tỉnh Bến Tre).
Nguyễn Thị Kim Y phải nghĩa vụ bồi hoàn lại cho ông La Hoài H
một phần tư giá trị ngôi nhà gạch G2 với số tiền 28.751.000 đồng (Hai mươi
tám triệu bảy trăm năm mươi mốt nghìn đồng).
Như vậy, tổng số tiền Nguyễn Thị Kim Y phải có nghĩa vụ bồi hoàn lại
6
cho ông La Hoài H 211.834.000 đồng (Hai trăm mười một triệu tám trăm ba
mươi bốn nghìn đồng).
4. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị Kim Y đối với ông La
Hoài H về việc yêu cầu ông H hoàn trả số tiền vay, tiền bán xe tiền cấp
dưỡng nuôi con.
5. Về quyền lưu cư của bị đơn La Hoài H:
Ông La Hoài H không yêu cầu lưu cư nên không xem xét, giải quyết.
6. Về nợ chung:
Nguyễn Thị Kim Y với ông La Hoài H có nợ Ngân hàng TMCP N1-Chi
nhánh B1-Phòng G2 Đại số tiền 16.650.000 đồng (Mười sáu triệu sáu trăm
năm mươi nghìn đồng). Ngân hàng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không
xem xét, giải quyết.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về lãi chậm trả, chi phí tố tụng, án phí
sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 07/8/2024, nguyên đơn - Nguyễn Thị Kim
Y đơn kháng cáo bản án thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án
thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà. Ngày
16/8/2024, bị đơn - ông La Hoài H có đơn kháng cáo bản án thẩm, yêu cầu
Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu
cầu phản tố của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc
thẩm sửa bản án sơ thẩm về tài sản chung.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị Hội đồng
xét xkhông chấp nhận kháng cáo của ông H, chấp nhận kháng cáo của Y,
điều chỉnh lại phần quyết định án phí cho ph hợp quy định pháp luật.
Bị đơn không đồng ý yêu cầu kháng cáo của Y, vẫn giữ nguyên yêu cầu
kháng cáo của ông, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án thẩm, yêu
cầu được chia hai tất cả tài sản chung theo hướng ông được nhận hiện vật.
trình bày nhà G là do bà xây cho bà Kim Y về ở.
Người làm chứng do bị đơn tự triệu tập trình bày ông không biết về nguồn
gốc tài sản tranh chấp của ông H bà Y, ông chỉ biết ông H về tại huyện
B và nuôi tôm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre phát biểu:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định
của Bộ luật tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng đã thực hiện quyền và
nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.
7
Về nội dung: Đề nghị Toà án áp dụng khoản 1 Điều 308 Bluật Tố tụng
dân sự 2015, không chấp nhận kháng cáo của cả bà Y ông H. Giữ nguyên
Bản án hôn nhân gia đình thẩm số 82/2024/HNGĐ-ST ngày 06 tháng 8
năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ trong hồ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng. Xét kháng cáo của nguyên đơn,
bị đơn đnghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre. Hội đồng
xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về ttụng: Nguyên đơn - Nguyễn Thị Kim Y, bị đơn - ông La Hoài
H kháng cáo và thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định
nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Đối với nội dung vquan hệ hôn nhân, về con chung của bản án
thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nên đã phát sinh hiệu lực pháp luật, Hội
đồng xét xử phúc thẩm không xem xét. Hội đồng xét xphúc thẩm xem xét
kháng cáo của bà Y, ông H đối với tài sản chung.
[2.2] Về chia tài sản chung:
[2.2.1] Đối với thửa đất số 131, tờ bản đồ số 13, toạ lạc xã P, huyện B, tỉnh
Bến Tre:
Nguyên đơn bà Y khai không tài sản chung. Ông H đơn yêu cầu chia
tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, yêu cầu chia thửa đất số 131, tờ bản đồ số
13, diện tích 2.770,3 m
2
; thửa đất số 379, tờ bản đồ số 5, diện tích 1.201,2 m
2
,
cùng
tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Xét thấy thửa đất số 131, tờ bản đs13 do Nguyễn Thị Kim Y đứng
tên thông qua hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 16/4/2022 từ
Thị Bạch Y1 sang tên cho bà Nguyễn Thị Kim Y. Do ông H và bà Y đăng
kết hôn với ông La Hoài H vào ngày 14/9/2010 nên đây tài sản phát sinh
trong thời kỳ hôn nhân.
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Y không cung cấp
được tài liệu, chứng cứ chứng minh thửa đất 131, tờ bản đồ số 13 do bà Mai Thị
tặng cho riêng Y. Do đó, Tòa án cấp thẩm xác định thửa đất số 131, tờ
bản đồ số 13 do bà Y đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tọa lạc tại
P, huyện B, tỉnh Bến Tre là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của bà Y với
ông H ph hợp. vậy, việc ông H yêu cầu chia đôi thửa đất số 131, tbản
đồ số 13 là có cơ sở nên được chấp nhận.
Tuy nhiên, nếu chia cho Y với ông H bằng hiện vật sẽ không thuận lợi
8
trong quá trình canh tác, do đó chia cho Y nhận hiện vật thửa đất nêu trên và
bồi hoàn lại cho ông H một phần hai giá trị thửa đất là ph hợp.
[2.2.2] Đối với thửa đất số 379, tờ bản đồ số 5, diện tích 1.201,2 m
2
, tọa lạc
tại xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre:
Theo hồ quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thửa đất
trên do bà Nguyễn Thị Kim U đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
đồng thời thửa đất trên nguồn gốc của Mai Thị tặng cho quyền sdụng
đất cho Nguyễn Thị Kim U (BL số 100). Do đó, ông La Hoài H cho rằng đây
tài sản chung giữa ông H với Y, đồng thời yêu cầu chia đôi không
sở nên không được chấp nhận. Tuy nhiên, trên thửa đất ngôi nhà gạch G2,
ông H khai khi ông H về chung sống với bà Y ngôi nhà đã có rồi, đồng thời, ông
H có bỏ công sức tu bổ, làm tăng giá trị ngôi nhà, xây thêm phần nhà phía trước,
lời khai của ông H ph hợp với biên bản lấy lời khai ngày 20/5/2024 của Tòa án
nhân dân huyện Bình Đại đối với lời khai của người làm chứng, do đó ông La
Hoài H được chia một phần giá trị ngôi ngạch G2ph hợp với quy định
của pháp luật.
Mặt khác, tại phiên toà phúc thẩm, bà cho rằng nhà gạch G2 do bà xây
cho con gái là bà Y về ở. U có lời khai (BL:83) đây nhà của Y. vậy,
việc Toà án cấp thẩm đã xem xét nguồn gốc tài sản, công sức đóng góp của
bà Y để chia cho bà Y nhiều hơn là ph hợp.
Y được chia, nhận toàn quyền quản , sử dụng nhà gạch G2 các
tài sản trên đất gồm: mái che 2, mái che 3, nhà vệ sinh hồ nước được xây
dựng trên thửa đất số 379, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại P, huyện B, tỉnh Bến Tre
do bà Nguyễn Thị Kim U đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Y phải nghĩa vụ bồi hoàn lại cho ông H số tiền cụ thể là:
[183.083.000 đồng (1/2 giá trị đất tài sản trên đất của thửa đất 131, tờ bản đồ
số 13) + 28.751.000 đồng (1/4 giá trị ngôi nhà gạch G2)] = 211.834.000 đồng
(Hai trăm mười một triệu tám trăm ba mươi bốn nghìn đồng).
Bà Y tự thỏa thuận với Nguyễn Thị Kim U để tiếp tục sử dụng ngà gạch
G2 các công trình kiến trúc khác trên đất gồm: Máy che 2, mái che 3, h
nước, nhà vệ sinh. Trường hợp hai bên tranh chấp sẽ được giải quyết trong vụ án
khác.
Đối với nG1 trên thửa 379 các đương sự không chứng minh được tài
sản chung của ông H, bà Y nên không sở để Toà án xem xét chia nên Toà
án cấp sơ thẩm không xem xét là ph hợp.
[3] Đối với các nội dung khác (khoản vay Ngân hàng, tiền bán xe) các
đương sự không kháng cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy Toà án cấp thẩm
9
đã xem xét giải quyết toàn diện các yêu cầu của đương sự; việc chia tài sản của
ông H, Y khi ly hôn ph hợp nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi
ly hôn được quy định tại Điều 59 và Điều 62 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[5] Y, ông H kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ
chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình căn cứ nên Hội đồng xét xử
không chấp nhận.
[6] Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn
phần ph hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một
phần.
[6] Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre ph hợp
với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên Y,
ông H phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim Y, ông La Hoài H;
Giữ nguyên Bản án hôn nhân gia đình thẩm số: 82/2024/HNGĐ-ST
ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
Cụ thể tuyên:
Căn cứ các điều 51, 55, 57, 59, 60, 62, 81, 82, 83, 84, 107, 116, 119 Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2014; Các điều 147, 227, 228; 244 của Bộ luật Tố
tụng dân sự.
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần đơn khởi kiện về việc yêu cầu ly hôn của
Nguyễn Thị Kim Y đối với ông La Hoài H.
Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa Nguyễn Thị Kim Y với ông La
Hoài H.
Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Kim Y với ông La Hoài H chấm dứt
kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về nuôi con chung:
Y được trực tiếp nuôi dưỡng cháu La Xuân P1, sinh ngày 23/01/2009.
Riêng cháu Nguyễn Thị Tuyết N, sinh ngày 30/9/2002, người thành niên, hai
bên không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
10
Ông H không trực tiếp nuôi con quyền, nghĩa vụ thăm nom con
không ai được cản trở.
Y trc tiếp nuôi con cng các thành viên gia đình không được cn tr
ông H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc nhân, tổ chức được
quy định tại khoản 5 Điều 84, Điều 116 Điều 119 của Luật Hôn nhân gia
đình năm 2014, Tòa án thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con
và quyết định thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung.
Nguyễn Thị Kim Y được chia, nhận bằng hiện vật toàn quyền sử
dụng thửa đất số 131, tờ bản đồ số 13, tọa lạc tại P, huyện B tỉnh Bến Tre.
Ngoài ra, Y được quyền sở hữu các tài sản trên đất gồm: 22 cây dừa; 01 căn
chòi kết cấu mái lợp tole fiproximăng, vách tole thiếc, cột xi măng, nền xi
măng
+ Thửa đất số 131, tờ bản đồ số 13, có tứ cận như sau:
- Hướng Đông giáp kênh.
- Hướng Tây giáp thửa 103, tờ bản đồ số 13 (Đất ông Nguyễn Thành B).
- Hướng Nam giáp thửa 130, tờ bản đồ 13 (Đất của bà Nguyễn Thị Kim U).
- Hướng Bắc giáp thửa 132, tờ bản đồ số 13 (Đất ông Nguyễn Thành B).
(Kèm theo họa đồ hiện trạng sdụng đất ngày 06/9/2023 của Chi nhánh
Văn phòng đăng ký đất đai huyện B, tỉnh Bến Tre).
Nguyễn Thị Kim Y phải nghĩa vụ bồi hoàn lại cho ông La Hoài H
phân nửa giá trị thửa đất 131, tờ bản đồ số 13 các tài sản trên đất với số tiền
183.083.000 đồng (Một trăm tám mươi ba triệu không trăm tám mươi ba
nghìn đồng).
Nguyễn Thị Kim Y được chia, nhận bằng hiện vật và toàn quyền sở hữu
nhà gạch G2 được y dựng trên thửa đất số 379, tờ bản đồ số 5, do Nguyễn
Thị Kim U đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngạch G2 kết
cấu: Phần nhà phía trước mống cột tông cốt thép, tường bao che, không ngăn
phòng, xây gạch 10 cm, dán gạch sơn nước, trần nhựa, nền lát gạch Ceramic,
mái tole, tráng kẻm; Phần nhà phía sau nền lát gạch Ceramic, mái tole
fiproximăng, mống cột tông cốt thép, ờng bao che, ngăn phòng, xây gạch
10 cm, sơn nước, dán tường, trần nhựa. Ngoài ra, Y được toàn quyền shữu
mái Che 2, máy che 3, nhà vệ sinh và hồ nước.
(Kèm theo họa đồ hiện trạng sdụng đất ngày 25/7/2023 của Chi nhánh
Văn phòng đăng ký đất đai huyện B, tỉnh Bến Tre).
Nguyễn Thị Kim Y phải nghĩa vụ bồi hoàn lại cho ông La Hoài H
một phần tư giá trị ngôi nhà gạch G2 với số tiền 28.751.000 đồng (Hai mươi
11
tám triệu bảy trăm năm mươi mốt nghìn đồng).
Như vậy, tổng số tiền Nguyễn Thị Kim Y phải có nghĩa vụ bồi hoàn lại
cho ông La Hoài H 211.834.000 đồng (Hai trăm mười một triệu tám trăm ba
mươi bốn nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi
hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc ktừ ngày đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án ối với các khoản tiền phải tr
cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị Kim Y đối với ông La
Hoài H về việc yêu cầu ông H hoàn trả số tiền vay, tiền bán xe tiền cấp
dưỡng nuôi con.
5. Về quyền lưu cư của bị đơn La Hoài H.
Ông La Hoài H không yêu cầu lưu cư nên không xem xét, giải quyết.
6. Về nợ chung:
Nguyễn Thị Kim Y với ông La Hoài H nợ Ngân hàng TMCP N1-Chi
nhánh B1-Phòng G2 Đại số tiền 16.650.000 đồng (Mười sáu triệu sáu trăm
năm mươi nghìn đồng). Ngân hàng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không
xem xét, giải quyết.
7. Về án phí
7.1. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Nguyễn Thị Kim Y phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng)
nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí Y đã nộp (Ba trăm
nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006449 ngày 23 tháng 6
năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
7.2. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
- Bà Nguyễn Thị Kim Y phải chịu 15.020.000 đồng (Mười lăm triệu không trăm
hai mươi nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí Y
đã nộp là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án
phí số 0000674 ngày 11/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình
Đại, tỉnh Bến Tre. Như vậy, Nguyễn Thị Kim Y còn phải nộp tiếp số tiền
14.520.000 đồng (Mười bốn triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng).
- Ông La Hoài H phải chịu 10.591.000 đồng (Mười triệu năm trăm chín
mươi mốt nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông
H đã nộp 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) theo biên lai thu tiền tạm
ứng án phí số 0006107 ngày 18/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện
12
Bình Đại, tỉnh Bến Tre. H2 lại cho ông La Hoài H số tiền tạm ứng án phí còn lại
là 4.409.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm lẻ chín nghìn đồng).
8. Về chi phí tố tụng.
Nguyễn Thị Kim Y với ông La Hoài H mỗi người phải chịu: 7.355.500
đồng (Bảy triệu ba trăm năm mươi lăm nghìn năm trăm đồng).
Nguyễn Thị Kim Y phải nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông La Hoài H số
tiền 7.355.500 đồng (Bảy triệu ba trăm năm mươi lăm nghìn năm trăm đồng).
Tổng số tiền chi phí tố tụng 14.711.000 đồng, tuy nhiên ông H đã nộp
tạm ứng chi phí tố tụng với số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng)
theo biên lai thu tiền ngày 07/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh
Bến Tre.
Như vậy, hoàn lại cho ông La Hoài H số tiền chênh lệch còn lại 289.000
đồng (Hai trăm tám mươi chín nghìn đồng).
9. Về án phí hôn nhân phúc thẩm:
Nguyễn Thị Kim Y phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng
được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn
đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003913 ngày 07/8/2024 của Chi cục
Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
Ông La Hoài H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được
khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng)
theo biên lai thu số 0003928 ngày 20/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự
huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và
Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND tỉnh Bến Tre;
- TAND huyện Bình Đại;
- Chi cục THADS huyện Bình Đại;
- Các đương sự;
- Phòng KTNV&THAHS tỉnh
Bến Tre;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Thế Hồng
Tải về
Bản án số 22/2025/HNGĐ-PT Bản án số 22/2025/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 22/2025/HNGĐ-PT Bản án số 22/2025/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất