Bản án số 351/2026/DS-PT ngày 23/03/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 351/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 351/2026/DS-PT ngày 23/03/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 351/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn U-Lê Thị Kim P "tranh chấp quyền sử dụng đất"
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 351/2026/DS-PT
Ngày: 23-3-2026
V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng
đất”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Chiến
Các Thẩm phán:
+ Ông Nguyễn Quốc Tuấn
+ Bà Võ Thị Hồng Mai.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Mạnh Hùng, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn
Khánh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc
thẩm công khai vụ án thụ số 985/2025/TLPT-DS ngày 29 tháng 12 năm 2025, về
việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 117/2025/DS-ST, ngày 30-9-2025 của Tòa án nhân
dân Khu vực 6 - Tây Ninh có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử s204/2026/QĐXX-PT, ngày 24 tháng 02
năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Ú, sinh năm: 1970 và bà Cao Thị T, sinh năm:
1974. Cùng trú tại: Số A, ấp C, xã T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn Ú: Cao Thị T, sinh năm
1974; rú tại: Số A, ấp C, xã T, tỉnh Tây Ninh, có mặt.
2. Bị đơn:
- Bà Lê Thị Kim P, sinh năm: 1984; trú tại: Ấp D, xã T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
- Lê Thị Kim D, sinh năm: 1992; trú tại: Ấp A, xã T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
2
- Ông Lê Thanh K, sinh năm: 1987; trú tại: Ấp A, xã T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của các bị đơn: Ông Huỳnh Văn T1, sinh năm:
1973, trú tại: Ấp H, C, tỉnh Tây Ninh. Địa chỉ liên hệ: ấp I, C, tỉnh Tây Ninh, có
mặt.
Người đại diện theo ủy quyền ca ông K: Dương Đoàn Mỹ H, sinh năm: 2001;
trú tại: Ấp G, T, tỉnh Đồng Tháp. Địa chỉ liên hệ: Số F, Quốc lộ E, ấp I, C, tỉnh
Tây Ninh, vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lê Thị Hồng T2, sinh năm: 1988;
trú tại: Ấp A, xã M, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
4. Người kháng cáo: ông Lê Thanh K là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 09/4/2019, 03/5/219; các lời khai trong quá trình
giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Văn Ú, bà Cao Thị T đồng
thời bà T là người đại diện theo ủy quyền của ông Ú trình bày như sau:
Về nguồn gốc đất: Thửa đất cũ số 1875 (thửa đất mới số 36), tờ bản đồ cũ số 5 (tờ
bản đồ mới số 2), diện tích 4.428m
2
, loại đất trồng lúa theo giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất (Viết tắt GCNQSDĐ), số AH 451509, số vào sổ cấp GCNQSD đất: H 01444,
tọa lạc tại xã P, huyện C, tỉnh Long An (nay là xã T, tỉnh Tây Ninh) do Ủy ban nhân dân
huyện C cấp cho ông Nguyễn Văn Ú vào ngày 21/12/2006 nguồn gốc của ba mẹ
chồng bà để lại.
Về quá trình sử dụng đất: Khi tặng cho đất ông Nguyễn Văn Ú thì thửa đất số
1875 được cấp trọn thửa, không đo đạc thực tế, thửa đất này được gia đình sử dụng để
trồng lúa. Giáp ranh thửa đất số 1875 của ông Ú là thửa đất số 4088 của bà Nguyễn Thị
Thu X (đã chết), gia đình bà X hoàn toàn không sử dụng phần đất tranh chấp này. Cách
nay khoảng 5-6 năm ông Thanh K con ruột của X xây hàng rào lấn ranh qua
thửa đất số 1875, khi phát hiện bà có ngăn cản và báo chính quyền địa phương yêu cầu
tháo dở hàng rào nhưng ông K vẫn cố tình xây nên các bên phát sinh tranh chấp.
Về ranh gii đất: Từ trước đến nay ranh đất giữa hai bên được xác định bằng bờ
ruộng, hiện bờ ruộng đã bị ông K phá bỏ và làm hàng rào. Ngoài ra, không có cây trồng
hay cọc gì để xác định ranh giới.
Về hiện trạng đất: Trên đất tranh chấp tại khu B hàng rào kết cấu công trình
xây dựng: hàng rào móng cột gạch gồm 08 trụ xi măng cốt thép cao khoảng 02m, tường
3
xây gạch cao khoảng 01m, dài khoảng 16.6m (móng không gia cố cừ tràm) do ông
Thanh K đang trực tiếp quản lý, sử dụng.
Trước đây, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu buộc những người thuộc hàng thừa kế
của Nguyễn Thị Thu X ông Nguyễn Văn H1, Thị Kim P, ông Thanh K
và bà Lê Thị Kim D phải tháo dỡ hàng rào trả lại cho ông Ú, bà T phần đất lấn chiếm
chiều ngang 0.5m, chiều dài 16m, tổng diện tích khoảng 8m
2
thuộc một phần thửa đất
số 1875, tờ bản đồ số 5 do ông Nguyễn Văn Ú đứng tên trên giấy chứng nhận QSD đất.
Sau khi nhận được Mảnh trích đo địa chính số 58-2024 của Công ty TNHH Đ lập
được Chi nhánh Văn phòng Đăng Đất đai tại huyện C duyệt ngày 24/12/2024 (viết
tắt Mảnh trích đo địa chính ngày 24/12/2024) nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện
như sau: ông Nguyễn Văn Ú, Cao Thị T buộc các con của Nguyễn Thị Thu X
Thị Kim P, ông Thanh K, Thị Kim D Thị Hồng T2 phải tháo
dỡ hàng rào trả lại cho ông Ú, T phần đất lấn chiếm thuộc vị tkhu B diện tích 10.9m
2
thuộc một phần thửa đất số 36, tờ bản đồ số 2, loại đất lúa do ông Nguyễn Văn Ú đứng
tên trên giấy chứng nhận QSD đất. Nguyên đơn sẽ không bồi thường hỗ trợ chi phí
di dời tài sản có trên đất tranh chấp cho bị đơn.
Hiện giấy chứng nhận QSD thửa đất số 36 nêu trên đang do ông Nguyễn Văn Ú
trực tiếp giữ bản chính, không cầm cố, thế chấp hay chuyển quyền cho bất cứ ai.
Bị đơn bà Lê Thị Kim P và bà Lê Thị Kim D do người đại diện theo ủy quyền ông
Huỳnh Văn T1 trình bày; ông Thanh K do người đại diện theo ủy quyền ông Huỳnh
Văn T1Dương Đoàn Mỹ H trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên
tòa như sau:
Về nguồn gốc đất: Thửa đất cũ số 4088 (thửa đất mới số 86), tờ bản đồ cũ số 5 (tờ
bản đồ mới số 1), diện tích 278.4m
2
, loại đất trồng lúa, số AM 419237, tọa lạc tại T,
tỉnh Tây Ninh do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho Nguyễn Thị Thu X vào ngày
28/02/2008 có nguồn gốc cha mẹ để lại.
Về quá trình sử dụng đất: Vào năm 2008 X đã lập giấy tay tặng cho thửa đất
số 86 cho ông K nhưng hiện chưa làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất, khi cấp giấy
chứng nhận thửa đất số 86 được cấp trọn thửa, không đo đạc thực tế, thửa đất này khi
còn sống được X (chết vào năm 2018) là mẹ ruột ông K trực tiếp sử dụng để xây nhà
ở và làm hàng rào phía trước sân nhà. Đến năm 2019 ông K xây tường rào kiên cố, khi
xây gia đình ông Ú T hoàn toàn không ngăn cản cũng không có ý kiến phản đối
gì. X sử dụng nhưng không đi đăng ký cấp giấy chứng nhận QSD đất vì không biết
đất này được cấp cho ông Ú mà nghĩ là đã được cấp cho bà X.
4
Về ranh giới đất: từ trước đến nay ranh giới giữa hai bên xác định bằng hàng rào
cây cũ, sau đó cây bị mục nên vợ chồng ông K xây dựng lại hàng rào có hiện trạng như
hiện nay. Ngoài ra, ranh giới còn được xác định bằng việc X trồng 03 cây khuynh
diệp từ năm 1990, hiện vẫn còn 01 gốc cây bị mục sở để xác định ranh giới giữa
các bên.
Về hiện trạng đất: tại vị trí đất tranh chấp trước đây hiện trạng đất gò, sau đó
vợ chồng ông K xây tường rào kiên cố như hiện nay và không san lấp gì thêm.
Đối với công trình đầu trên đất thì ông K không tranh chấp trong vụ kiện này
đây là đất của bà X tặng cho ông K nên ông K quyền sử dụng, nếu sau nàytranh
chấp thì sẽ khởi kiện thành vụ án khác.
Nay trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bị đơn không đồng ý vì: gia đình
ông K không lấn chiếm đất của nguyên đơn, gia đình ông Ú hoàn toàn không sử dụng
phần đất này, gia đình ông K sử dụng từ trước đến nay cũng không ai tranh chấp. Điều
đó cho thấy ông K và gia đình đã sử dụng liên tục, ổn định nhưng cơ quan nhà nước cấp
cho ông Nguyễn Văn Ú là không đúng quy định pháp luật.
Đồng thời ông Thanh K yêu cầu phản tố được thực hiện hợp đồng tặng
cho QSD đất, tiếp tục quản sử dụng đăng để được cấp giấy chứng nhận QSD
đất tại khu B, diện tích 10.9m
2
và khu C, diện tích 1.4m
2
thuộc một phần thửa đất số 36,
tờ bản đồ số 2, đất tọa lạc tại xã T, tỉnh Tây Ninh dẫn đến bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn. Sau đó, ông K thay đổi yêu cầu khởi kiện, người đại diện theo ủy quyền
trình bày ông K chỉ yêu cầu được thực hiện hợp đồng tặng cho QSD đất, tiếp tục quản
sử dụng đăng điều chỉnh biến động để được cấp giấy chứng nhận QSD đất tại
khu B, diện tích 10.9m
2
thuộc một phần thửa đất số 36, tờ bản đồ số 2, đất tọa lạc tại
T, tỉnh Tây Ninh, ông K không tranh chấp khu C.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Hồng T2 trình bày: bà là vợ
ông Lê Thanh K. Bà chung sống với ông Lê Thanh K sử dụng phần đất này từ năm
2014 cho đến nay. Phần đất tranh chấp thuộc một phần thửa đất số số 36 có nguồn gốc
của gia đình chồng bà để lại cho ông K nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Qúa trình sử
dụng vợ chồng bà có xây hàng rào kiên cố. Về ranh giới đất giữa hai bên được xác
định bằng hàng rào. Nay bà không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện ca nguyên
đơn vì giữa hai thửa đất từ xưa nay đều có ranh giới, vị trí vợ chồng bà xây hàng rào
trước đây là hàng rào bằng cây, dọc theo hàng rào cây có trồng 04 cây khuynh diệp để
làm ranh giới, do lâu ngàyy mục, hiện nay chỉ còn 01 gốc cây. o năm 2019 v
chồng bà xây lại hàng rào kiên cố ngay vị trí hàng rào cũ, hoàn toàn không lấn đất của
5
nguyên đơn. Do đất có nguồn gốc bên gia đình chồng nên bà đồng ý thống nhất ý kiến
người đại diện theo ủy quyền của bị đơn và để chồng bà đứng ra khởi kiện, bà không
yêu cầu hay tranh chấp gì trong vụ kiện này và chồng bà là người có toàn quyền quyết
định. Do bận công việc nên bà xin vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án.
Các đương sự thống nhất theo Mảnh trích đo địa chính ngày 24/12/2024 Chứng
thư thẩm định giá của Công ty cổ phần T4 ngày 10/9/2025 (viết tắt Chứng tthẩm định
giá ngày 10/9/2025) làm căn cứ giải quyết vụ án.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 117/2025/DS-ST, ngày 30-9-2025 của Tòa án nhân
dân Khu vực 6 - Tây Ninh quyết định:
Căn cứ vào Điều 175, 176 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ vào các Điều 26;
Điều 31; Điều 235 236 của Luật Đất đai năm 2024 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn n Ú,
Cao Thị T đối với bị đơn ông Lê Thanh K, Lê Thị Kim P, Lê Thị Kim D và bà Lê
Thị Hồng T2 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
2. Ông Nguyễn Văn Ú, bà Cao Thị T được quyền quản lý, sử dụng đất tại khu B,
diện tích 10.9m
2
, thuộc một phần thửa đất số 36, tờ bản đsố 2, loại đất LUC, tọa lạc tại
T, tỉnh Tây Ninh do ông Nguyễn Văn Ú đứng tên GCNQSDĐ (khu B theo Mảnh trích
đo ngày 24/12/2024).
3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Thanh K vviệc yêu cầu được
thực hiện hợp đồng tặng cho QSD đất, tiếp tục quản sử dụng đăng điều chỉnh
biến động để được cấp giấy chứng nhận QSD đất đối với khu B, diện tích 10.9m
2
thuộc
một phần thửa đất số 36, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại xã T, tỉnh Tây Ninh.
4. Buộc bà Lê Thị Kim P, ông Lê Thanh K, bà Lê Thị Kim D và bà Lê Thị Hồng
T2 phải tháo dỡ hàng rào có kết cấu công trình xây dựng: hàng rào móng cột gạch gồm
08 trụ xi măng cốt thép cao khoảng 02m, tường xây gạch cao khoảng 01m, dài khoảng
16.6m (móng không gia cố cừ tràm) trả lại phần đất tranh chấp tại khu B, diện tích 10.9m
2
thuộc một phần thửa đất số 36, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại T, tỉnh Tây Ninh để trả lại
đất cho ông Nguyễn Văn Ú và bà Cao Thị T.
5. Đình chỉ yêu cầu của ông Lê Thanh K đối với vị trí tranh chấp khu C diện tích
1,4m
2
thuộc một phần thửa đất số 36, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại xã T, tỉnh Tây Ninh.
6
Bản án thẩm còn tuyên ván phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành quyền
kháng cáo.
Ngày 08/10/2025, bị đơn ông Lê Thanh K nộp đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án chấp
phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn. Công nhận hiệu lực hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn
Thị Thu X và ông Lê Thanh K.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo u quyền của ông K ông Huỳnh
Văn T1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, Cao Thị T không đồng ý với yêu cầu kháng
cáo của ông K, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa Phúc thẩm:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm thẩm chấp hành đúng quy định của pháp
luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử đúng trình
tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Ttụng dân sự và Thư ký phiên tòa thực hiện đúng
nhiệm vụ và quyền hạn; các đương sự đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương
sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của
ông K, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết
quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, Hội
đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Ngày 30/9/2025 Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Tây Ninh xét xử sơ
thẩm vụ kiện, ngày 08/10/2025 bị đơn là ông Lê Thanh K nộp đơn kháng cáo bản án sơ
thẩm, kháng cáo trong hạn luật định, nên vụ án được xem xét, giải quyết theo trình tự
phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của ông Lê Thanh K thấy rằng:
Phần đất tranh chấp tại vị trí khu B, diện tích 10.9m
2
theo Mảnh trích đo địa chính
ngày 24/12/2024 thì thuộc mt phần thửa đất cũ số 1875 (thửa đất mới số 36), tờ bản đồ
cũ số 5 (tờ bản đồ mới số 2) diện tích 4.428m
2
(gọi là thửa đất của ông Ú), loại đất trồng
lúa, tọa lạc tại X, tỉnh Tây Ninh do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn
Văn Ú vào ngày 21/12/2006.
Thửa đất của ông Ú có hướng Nam giáp với thửa đất cũ số 4088 (thửa đất mới số
86), tờ bản đồ cũ số 5 (tờ bản đồ mới s 1), diện ch 278.4m
2
(gọi là thửa đất của bà X),
7
loại đất trồng lúa, do Ủy ban nhân dân huyện C cấp choNguyễn Thị Thu X vào ngày
28/02/2008 đều cấp trọn thửa, không đo đạc thực tế và không ký giáp ranh với các chủ
sử dụng đất liền kề.
Căn cứ vào hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, T3 đo bản đồ địa chính
kèm theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thửa đất của ông Ú có cạnh
hướng Nam giáp thửa đất của ông Nguyễn Văn H1 (trước đây, sau đó ông H1 sang
nhượng mt phần đất cho X) bà X là một đường thẳng.
Căn cứ vào Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ lập ngày 19/8/2020, 24/7/2024 và
ngày 05/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Tây Ninh thì tại khu B theo Mảnh trích
đo địa chính ngày 24/12/2024 nằm lấn qua đất của ông Ú làm cho ranh đất cạnh hướng
Nam giáp đất X không thành mt đường thẳng.
Như vậy, cơ sở xác định gia đình bà X, vợ chồng ông K trong quá trình sdụng
đất đã lấn ranh sang đất ông Ú tại vị trí khu B, diện tích 10.9m
2
theo Mảnh trích đo địa
chính ngày 24/12/2024 nên Toà án chấp thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông
Ú, bà T buộc bà Thị Kim P, ông Thanh K, bà Lê Thị Kim D Thị Hồng
T2 phải tháo dỡ hàng rào có kết cấu công trình xây dựng: hàng rào móng cột gạch gồm
08 trụ xi măng cốt thép cao khoảng 02m, tường xây gạch cao khoảng 01m, dài khoảng
16.6m (móng không gia cố cừ tràm) trả lại phần đất tranh chấp tại khu B, diện tích 10.9m
2
thuộc một phần thửa đất số 36, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại T, tỉnh Tây Ninh cho ông
Nguyễn Văn ÚCao Thị T là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Ông Lê Thanh K kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới chứng
minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có căn cứ chấp nhận; đề nghị của đại
diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.
[5] Về án phí: Ông Lê Thanh K phải chịu án phí phúc thẩm dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của B luật tố tụng dân sự.
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn là ông Lê Thanh K;
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 117/2025/DS-ST, ngày 30-9-2025 của Tòa
án nhân dân Khu vực 6 - Tây Ninh.
Căn cứ vào Điều 175, 176 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ vào các Điều 26;
Điều 31; Điều 235 236 của Luật Đất đai năm 2024 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Tuyên xử:
8
2.1 Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Ú, bà
Cao Thị T đối với bị đơn ông Lê Thanh K, Lê Thị Kim P, Lê Thị Kim D và bà Lê
Thị Hồng T2 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Ông Nguyễn Văn Ú, Cao Thị T được quyền quản lý, sử dụng đất tại khu B,
diện tích 10.9m
2
, thuộc một phần thửa đất số 36, tờ bản đsố 2, loại đất LUC, tọa lạc tại
T, tỉnh Tây Ninh do ông Nguyễn Văn Ú đứng tên GCNQSDĐ (khu B theo Mảnh trích
đo ngày 24/12/2024).
2.2 Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Lê Thanh K về việc yêu cầu được
thực hiện hợp đồng tặng cho QSD đất, tiếp tục quản sử dụng đăng điều chỉnh
biến động để được cấp giấy chứng nhận QSD đất đối với khu B, diện tích 10.9m
2
thuộc
một phần thửa đất số 36, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại xã T, tỉnh Tây Ninh.
Buộc bà Lê Thị Kim P, ông Lê Thanh K, bà Thị Kim D và bà Thị Hồng T2
phải tháo dỡ hàng rào có kết cấu công trình xây dựng: hàng rào móng cột gạch gồm 08
trụ xi măng cốt thép cao khoảng 02m, tường xây gạch cao khoảng 01m, dài khoảng
16.6m (móng không gia cố cừ tràm) trả lại phần đất tranh chấp tại khu B, diện tích 10.9m
2
thuộc một phần thửa đất số 36, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại T, tỉnh Tây Ninh để trả lại
đất cho ông Nguyễn Văn Ú và bà Cao Thị T.
2.3 Đình chỉ yêu cầu của ông Thanh K đối với vị trí tranh chấp khu C diện tích
1,4m
2
thuộc một phần thửa đất số 36, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại xã T, tỉnh Tây Ninh.
2.4 Vchi phí đo đạc, định giá, thẩm định tại chỗ là 25.100.000 đồng. Buộc bà
Thị Kim P, ông Lê Thanh K, bà Lê Thị Kim D và bà Lê Thị Hồng T2 phải chịu toàn bộ
và nộp để hoàn trả lại cho nguyên đơn.
Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người
đựơc thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi
hành án phải chịu thêm khoản tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy định
tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự.
3. Án phí dân sự:
Án phí dân sự sơ thẩm:
- Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn Ú, Cao Thị T stiền 300.000đồng tạm ứng án
phí đã nộp theo biên lai thu số 0001254 ngày 22/5/2019 và 300.000đồng tạm ứng án phí
đã nộp theo biên lai thu số 0018631 ngày 19/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự
huyện Cần Đước (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 6 - Tây Ninh).
9
- Buộc Thị Kim P, ông Thanh K, Thị Kim D Thị Hồng
T2 liên đới chịu số tiền 300.000 đồng án phí do yêu cầu khởi kiện nguyên đơn được chấp
nhận.
- Buộc ông Thanh K chịu số tiền 300.000 đồng án phí do yêu cầu phản tố không
được chấp nhận nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai
thu số 0018616 ngày 15/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Đước (nay
là Phòng thi hành án dân sự khu vực 6 - Tây Ninh).
Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Thanh K phải chịu số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ
vào số tiền tạm ứng đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số số 0006164
ngày 8/10/2025 của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 6 - tỉnh Tây Ninh.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế
thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi
hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thinh án dân sự.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND. TTN
- Phòng KTNV&THA
- TAND Khu vực 6 -TN
- THADS tỉnh TN
- Những người tham gia tố tụng
- Lưu hồ sơ vụ án
- Lưu tập án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Lê Hữu Chiến
Tải về
Bản án số 351/2026/DS-PT Bản án số 351/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 351/2026/DS-PT Bản án số 351/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất