Bản án số 189/2026/DS-PT ngày 19/03/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 189/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 189/2026/DS-PT ngày 19/03/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 189/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 189/2026/DS-PT
Ngày: 19-3-2026
V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất; Đòi lại
quyền sử dụng đất Công nhận
quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Thủy.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Tiến Dũng.
Ông Nguyễn Chế Linh.
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Hồng Chúc Thẩm tra viên Tòa án, Tòa
án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Nguyễn Thị Thủy
- Kiểm sát viên trung cấp tham gia phiên tòa.
Ngày 19 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét
xử phúc thẩm ng khai vụ án thụ lý số: 136/2026/TLPT-DS ngày 16 tháng 01 năm
2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Đòi lại
quyền sử dụng đất và Công nhận quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự thẩm số 38/2025/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025 của
Toà án nhân dân khu vực 9, thành phố Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 147/2026/QĐPT-DS ngày
03 tháng 02 năm 2026 Quyết định hoãn phiên tòa số: 198/2026/QĐ-PT ngày 03
tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty TNHH MTV N2.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Ngọc Q, chức vụ: Giám Đốc.
Địa chỉ trụ sở hiện nay: đường N, KCN A, xã A, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Chí N, sinh ngày 15/81994.
Địa chỉ hiện nay: Số C, T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo văn bản
ủy quyền ngày 08/7/2025), có mặt.
2. Bị đơn: Ông Đỗ Ngọc T, sinh ngày 10/6/1973.
Địa chỉ hiện nay: Số A, đường N, khóm B, phường P, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông ơng Việt T1, sinh ngày 24/4/1954.
Địa chỉ hiện nay: Số A, đường L, khóm D, phường P, thành phố Cần Thơ,
mặt.
2
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Nguyễn Văn Ú
Văn phòng L4 thuộc Đoàn luật sư thành phố C, có mặt.
Địa chỉ: Đường N, khu V, phường N, thành phố Cần Thơ.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Lâm Thị D, vắng mặt.
3.2. Bà Sơn Thị T2, sinh năm 1968, vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã L, thành phố Cần Thơ.
3.3. Cụ Trần Thị L, sinh năm 1942, vắng mặt.
3.4. Bà Lâm Thị C, sinh năm 1967, vắng mặt.
Địa chỉ hiện nay: Ấp L, xã L, thành phố Cần T.
3.5. Bà Lâm Thị Kim T3, sinh năm 1955, vắng mặt.
Địa chỉ hiện nay: Ấp L, xã L, thành phố Cần T.
3.6. Bà Lâm Thị L1, sinh năm 1959, vắng mặt.
Địa chỉ hiện nay: Ấp T, xã L, thành phố Cần T.
3.7. Bà Lâm Phạm Tú T4, sinh ngày 03/10/1978.
Địa chỉ hiện nay: Số A, đường N, khóm B, phường P, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền L2 Phạm T4: Ông Dương Việt T1, sinh
ngày 24/4/1954, có mặt
Địa chỉ hiện nay: Số A, đường L, khóm D, phường P, thành phố Cần T.
3.8. Cụ Hà Tấn T5, sinh năm 1934 (chết năm 2018).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng:
3.8.1. Vợ: Huỳnh Thị H, sinh năm 1941, vắng mặt.
3.8.2. Con: Hà Văn M, sinh năm 1964, vắng mặt.
3.8.3. Con: Hà Lệ D1, sinh năm 1964, vắng mặt.
3.8.4. Con: Hà Thị Cẩm H1, sinh năm 1976, vắng mặt.
3.8.5. Con: Hà Hải L3, sinh năm 1983, vắng mặt.
Cùng địa chỉ hiện nay: Ấp T, xã L, thành phố Cần Thơ.
4. Người kháng cáo: Ông Đỗ Ngọc T là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án sơ thẩm và c tài liệu có trong hsơ thì nội dung vụ án như sau:
Theo đơn khởi kiện ngày 09/5/2023, ngày 07/7/2023, đơn khởi kiện sửa đổi, bổ
sung ngày 31/122024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại
phiên tòa người đại diện nguyên đơn trình bày:
Công ty TNHH MTV N2 (gọi tắt Công ty N2) là công ty chuyên kinh doanh,
sản xuất thức ăn, tôm nuôi trồng thủy sản. Từ năm 2004 đến 2007, Công ty N2
với hộ Lâm Thị D hộ cụ Lâm Văn M1 hợp đồng tiêu thụ thủy sản nguyên
liệu và đầu tư, theo đó Công ty N2 sẽ cung ứng trước thức ăn nuôi tôm, tiền vay và
sẽ cấn trừ tiền khi đến mùa vụ sẽ thu mua lại tôm của hộ bà D hộ cM1. Do nuôi
tôm không hiệu quả nên hộ D còn nợ số tiền 113.632.752 đồng và hộ cụ M1 nợ
số tiền gốc 133.956.374 đồng.
Căn cứ theo Quyết định số: 36/2007/QĐST-DS ngày 03/4/2007 của Tòa án
nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng về việc công nhận sthỏa thuận của các
đương sự thì D sẽ cắt diện tích đất thế chấp giá trị tương ứng để trừ nợ, theo quyền
3
sử dụng đất số 00099 ngày 22/8/1994, có diện tích 12.110m
2
tại thửa 30 do hộ ông
Thạch S (chồng D) đứng tên, tọa lạc tại ấp T, xã L, thành phố Cần Thơ cho Công
ty N2. Còn cụ M1 đồng ý giao thửa đất số 560, tờ bản đồ số 5, diện tích 18.000m
2
,
tọa lạc tại ấp T, xã L, thành phố Cần T, để cấn trừ nợ với số tiền gốc 133.956.374
đồng và lãi 41.128.626 đồng, tổng cộng 175.085.000 đồng. Công ty đã đồng ý nhận
đất, quyền sử dụng đất để trừ nợ cho cụ M1.
Tuy nhiên, vừa qua, trong qtrình cho một số nhân viên nghỉ việc, bàn giao
giấy tờ, Công ty N2 phát hiện Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa
đất nêu trên không đứng tên Công ty N2, mà đứng tên cá nhân ông Đỗ Ngọc T theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đất số AI 345490, thửa đất số 554, tờ bản đồ
05, diện tích 7.510m
2
, số AI 345489, thửa đất số 555, tờ bản đồ số 5, diện tích 990m
2
và số AI 044532, thửa đất số 560, tờ bản đồ số 5 diện tích 18.000m
2
cùng tọa lạc tại
ấp T, xã L, thành phố Cần T, ông Đỗ Ngọc T trước đây là Giám đốc Công ty N2.
Sau khi phát hiện ra vụ việc nêu trên, Công ty N2 đã nhiều lần yêu cầu ông T
làm thủ tục để Công ty N2 đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng ông
T không đồng ý. Hiện nay Công ty N2 đang quản lý, sử dụng đấtgiữ bản chính
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các thửa nêu trên. Nhận thấy, quyền sdụng
đất tài sản thuộc sở hữu Công ty N2, việc ông T đứng tên trên Giấy chứng nhận
quyền sdụng đất đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi ích hợp pháp của
Công ty.
Nay Công ty TNHH MTV N2 yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ Trần Thị L,
ông Tấn T5 và cụ m Văn M1 với vợ chồng ông Đỗ Ngọc T, Lâm Phạm Tú
T4 bị hiệu đối với các thửa đất số 554, diện tích 7.510m
2
, thửa đất số 555, diện
tích 990m
2
và thửa đất số 560, diện tích 18.000m
2
, cùng tờ bản đồ số 5, cùng tọa lạc
ấp T, xã L, thành phố Cần Thơ.
- Công nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất số 554, diện tích 7.510m
2
,
thửa đất số 555, diện tích 990m
2
và thửa đất số 560, diện tích 18.000m
2
, ng tờ bản
đồ số 5, cùng tọa lạc ấp T, xã L, thành phố Cần Thơ của Công ty TNHH MTV
N2.
Theo đơn phản tố ngày 26/3/2024, ngày 09/5/2024 các lời khai trong quá
trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa đại diện bị đơn trình bày:
Công ty N2 ngành nghề kinh doanh mua bán, sản xuất thức ăn nuôi
trồng thủy hải sản. Để tạo nguồn nguyên liệu cho hoạt động kinh doanh chế biến
thủy hải sản của Công ty TNHH K. Do đó để thêm nguồn nguyên liệu ổn định
phục vụ cho sản xuất kinh doanh của Công ty mẹ được sthống nhất của các
thành viên trong Công ty thì bản thân ông Đỗ Ngọc T được giao liên hệ với các hộ
dân trực tiếp nuôi tôm thiếu vốn, nhu cầu đầu về con giống (nếu hộ dân
thiếu vốn) để tiếp tục đầu thức ăn nuôi tôm cho hộ dân sau khi thu hoạch thì hộ
dân sẽ bán lại sản phẩm cho Công ty theo giá thỏa thuận của thị trường tại thời điểm.
Nhưng trong qtrình Công ty N2 đầu cho hộ nuôi tôm thì một số hộ dân nuôi
thất, sản phẩm thu hoạch không đạt, hoặc mt phần thì hộ dân sau khi thu hoạch lại
đem bán cho sở thu mua khác để được nhận tiền mặt ... dẫn đến một số hộ dân
nuôi tôm thiếu lại tiền đầu ban đầu của Công ty mà không khả năng thanh toán.
4
vậy các hộ dân đã đồng ý giao lại phần đất nuôi trồng thủy sản cho Công ty để
khấu trừ số tiền nợ thức ăn, thuốc.
Nhưng do thời điểm này Công ty N2 đã đầu tư nhiều tiền cho các hộ dân nuôi
tôm nhưng sản phẩm thu lại không được bao nhiêu, đồng thời các hộ dân họ lại
không tiền để thanh toán lại cho Công ty, vì thế đã thống nhất giao đất nuôi trồng
thủy sản của hộ dân để khấu trừ số tiền mà Công ty đã đầu tư, dẫn đến Công ty N2
thiếu vốn lưu động để kinh doanh. Để khắc phục về tiền vốn lưu động của Công ty
N3 cho hoạt động kinh doanh thì các thành viên trong Công ty TNHH K đã họp
đi đến thống nhất Công ty N2 sẽ giới thiệu các diện tích đất hộ nuôi m giao
cho Công ty N2 để các cá nhân sang bán lấy tiền trả Công ty” số đất của các
hộ dân giao này Nếu thành viên trong Công ty ai có khả năng bao nhiêu thì mua lại
bấy nhiêu trực tiếp liên hệ với từng hộ dân để giao dịch mua bán lập hợp đồng
chuyển nhượng, đăng ký sang tên quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật”.
Bản thân vợ chồng ông Đỗ Ngọc T cũng nhận chuyển nhượng đất diện tích
7.510m
2
, thửa đất số 554, tờ bản đồ số 5 của cụ Trần Thị L và diện ch 990m
2
, thửa
đất số 555, tờ bản đồ số 05 của hộ cụ Hà Tấn T5 và chính ông T đã trực tiếp liên hệ
với hcụ T5, hcụ L để thanh toán “Bằng tiền mặt” “Trả một lần với số tiền
13.860.000 đồng” vào ngày 23/5/2007 và s tiền 105.140.000 đồng vào ngày
23/5/2007. Việc ông T thanh toán bằng tiền mặt cũng đã được ghi “Trong hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” và cũng đã được sự thừa nhận của cụ T5,
cụ L. Còn thửa đất diện tích 18.000m
2
, thửa đất số 560, tờ bản đồ số 5 của hộ cụ
Lâm Văn M1 chính ông T đã trực tiếp liên hệ với hộ cụ M1 để thanh toán bằng tiền
mặt trả một lần 180.000.000 đồng vào ngày 27/7/2007 để cụ M1 trực tiếp cầm
tiền đến Công ty thanh toán nợ. Việc ông T thanh toán bằng tiền mặt cũng đã được
ghi “Trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” ng đã được sự thừa
nhận của hộ cụ Lâm Văn M1. Thực chất Công ty N2 không hề chi khoản tiền nào
cho việc chuyển nhượng các phần đất ông T ng không hề nhận bất kỳ khoản
tiền nào của Công ty để trả tiền chuyển nhượng đất. Ông T người đã trả tất cả
khoản tiền chuyển nhượng đất rồi tiến hành lập thủ tục chuyển nhượng, sang tên
quyền sử dụng đất theo đúng qui định của pháp luật về đất đai tại thời điểm đó. Sau
khi ông T đã thực hiện đầy đnghĩa vụ về tài chính vcác khoản thuế phí. vậy
đến ngày 26/7/2007 đã được y ban nhân dân huyện M cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho ông Đỗ Ngọc T đứng tên.
Còn việc Công ty N2 hợp đồng tiêu thụ thủy sản với Lâm Thị D thì
đó việc giữa Công ty N2 với Lâm ThD, cụ Lâm Văn M1, ông T hoàn toàn
không liên quan đến hợp đồng. Ông T chỉ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng
đất của hộ cụ Tấn T5, hộ cụ Trần Thị L hộ cụ Lâm Văn M1. Do vậy ông T
khẳng định quyền sử dụng diện tích đất 7.510m
2
, tại thửa số 554, tbản đồ số 05;
diện tích 990m
2
, tại thửa 555, tờ bản đồ số 05 diện tích 18.000m
2
, tại thửa 560,
tờ bản đồ số 5, cùng tọa lạc tại ấp T, xã L, thành phố Cần Thơ là thuộc quyền quản
lý, sử dụng của vợ chồng ông T.
Nay ông Đỗ Ngọc T yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Công nhận quyền sử dụng đất diện tích 7.510m
2
, tại thửa s554; diện tích
990m
2
, tại thửa số 555; diện tích 18.000m
2
, tại thửa số 560, cùng tờ bản đồ số 5, tọa
5
lạc tại ấp T, L, thành phố Cần Thơ, thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông Đỗ
Ngọc T.
- Buộc Công ty TNHH MTV N2 giao trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dng
đất số AI345490, AI 345489 và số AI 044532 do UBND huyện M cấp ngày
26/7/2007 và ngày 27/8/2007 cho ông Đỗ Ngọc T.
- Buộc Công ty TNHH MTV N2 giao trả quyền sử dụng đất diện tích 7.510m
2
,
tại thửa số 554, diện tích 990m
2
, tại thửa s555, diện tích 18.000m
2
, tại thửa số 560,
cùng tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp T, xã L, thành phố Cần Thơ cho ông Đỗ Ngọc T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Phạm Tú T4 không có lời trình
bày do đã có người đại diện theo ủy quyền.
Tại văn bản xác nhận ngày 20/01/2025 các lời khai trong quá trình giải
quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Sơn Thị T2 trình bày:
Trước đây giai đoạn năm 2004 2007, Sơn Thị T2 Hợp đồng với
Công ty N2 để nuôi tôm nhưng do thất bại không khả năng chi trả nên Công ty
N2 kiện T2 ra Tòa. Tại Tòa T2 thừa nhận nợ Công ty N2 tổng cộng
113.632.752 đồng. Bà T2 đã thanh toán xong bằng cách cắt đất trả cho Công ty N2.
Lý do vì sao lại liên quan đến bà Lâm Thị D, cụ Trần Thị L cụ Hà Tấn T5, bà T2
cho biết nsau: LúcT2 thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công
ty N2 thì bà lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Lâm Thị D (do chồng
D ông Thạch S đứng tên) để thế chấp nhưng sau khi cắt đất trả nợ thì T2
mới đổi lại lấy đất của cụ Trần Thị L mẹ ruột giao trả cho Công ty (Hiện nay cụ
L già yếu, bệnh tật không thể tham gia phiên tòa). ng ty N2 đã trả Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất lại cho ông S (bà D). Tóm lạiD không còn liên quan
trong vụ án này. Còn cụ Tấn T5, trước đây cụ Trần Thị L nhận chuyển nhượng
990m
2
thuộc thửa 555 của cụ Tấn T5 (chưa làm thủ tục sang tên). Sau đó nhập
chung thành một thửa lớn để canh tác gồm thửa 554 (thửa 235 cũ) thửa 555 (thửa
234 cũ). Đến khi giao toàn bdiện tích đất cho Công ty N2 đtrừ nợ trong đó
phần đất của cụ Tấn T5. Tại thời điểm đó muốn hoàn thành việc cấn đất trừ nợ
cho Công ty N2 nhằm không phát sinh thêm lãi và yên tâm làm ăn tiếp. Vì vậy, khi
làm thủ sang tên cho Công ty N2 phần đất của cụ L thì cL ký chuyển nhượng diện
tích 7.510m
2
còn đất của cụ T5 thì cụ T5 chuyển nhượng diện tích 990m
2
, thực
tế thì cụ T5 không còn liên quan đến vụ án này. Thủ tục chuyển nhượng T2,
cụ L và cụ T5 thực hiện theo yêu cầu của Giám đốc Công ty N2 là ông Đỗ Ngọc T.
T2 khẳng định việc trả nợ cho Công ty N2 là cấn đất trừ nợ cam kết
không có chuyển nhượng cho cá nhân, tổ chức nào ngoài Công ty N2. Hiện nay các
thửa đất do Công ty N2 đang quản lý, sử dụng. Trong vụ án này bà T2 không
tranh chấp hay yêu cầu gì.
Tại bản tự khai ngày 20/01/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ
án, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lâm Thị Kim T3, Lâm Thị L1
Lâm Thị C trình bày:
Lâm Thị Kim T3, bà Lâm Thị L1 và bà Lâm Thị C là con ruột của cụ Lâm
Văn M1 cụ Đặng Thị N1 (Cả hai đã chết), trước đây cha mẹ có khoảng 17 công
đất ruộng tầm lớn thuộc thửa số 281 (nay thửa 560) tọa lạc tại ấp T, L, thành
phố Cần Thơ đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
6
Sinh thời, khoảng năm 2004, cụ Lâm Văn M1 đến Công ty N2 để mượn tiền
mua m giống mua thiếu thức ăn tôm của Công ty. Cụ M1 hứa đến khi thu
hoạch tôm sẽ trả nợ bằng tiền mặt hoặc sản phẩm tôm nguyên liệu.
Do nuôi tôm thất bát không có tiền trả nên cụ M1 bàn bạc với gia đình chuyển
nhượng thửa đất số 560 (thửa 281 cũ) để trừ nợ cho Công ty N2. Công ty tính tiền
gốc và lãi hơn 170 triệu đồng nên ông M1 có ra giá 10 triệu đồng/công và giao toàn
bộ thửa đất số 560 cho Công ty N2 để trả dứt nợ. Công ty N2 đồng ý nhận đất cấn
trừ nợ nên cM1 đưa toàn bộ giấy tờ đất bản chính cho Công ty giữ và giao đất cho
Công ty canh tác từ khoảng năm 2007 đến nay.
Mọi thủ tục chuyển nhượng đất đều do người của Công ty thực hiện, do đã được
Công ty xóa nợ nên cụ M1 chỉ làm theo hướng dẫn của họ chứ không xem kỹ giấy
tờ chuyển nhượng như thế nào. Nay mới biết thửa đất cụ M1 chuyển nhượng cho
Công ty N2 đang đứng tên ông T. Việc ai đứng tên là vấn đề nội bộ của Công ty, gia
đình cụ M1 không rõ nhưng trước đây cụ M1 chỉ giao thửa đất số 560 cho ng ty
N2 để cấn trừ hết nợ, ngoài ra không có chuyển nhượng đất cho bất kỳ ai khác. Cụ
M1 đã chuyển nhượng đất cho Công ty N2 nên Công ty N2 toàn quyền đối với
thửa đất đó, gia đình cụ M1 không có bất cứ tranh chấp hay khiếu nại gì.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 28/7/2025, người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan, Trần Thị L, lời trình bày thống nhất với lời trình bày của bà Sơn Thị T2.
Những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn lại, không lời trình bày
do vắng mặt.
Tại bản ánthẩm số 38/2025/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025 của Toà án
nhân dân khu vực 9, thành phố Cần Thơ tuyên xử như sau:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH MTV N2 .
1.1. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 23/5/2007
giữa ông Đỗ Ngọc T với cụ Trần Thị L thuộc thửa số 554, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại
ấp T, xã L, thành phố Cần Thơ bị vô hiệu.
1.2. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 23/5/2007
giữa ông Đỗ Ngọc T với vợ chồng cụ Tấn T5, cụ Huỳnh Thị H thuộc thửa số
555, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp T, xã L, thành phố Cần Thơ bị vô hiệu.
1.3. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 25/7/2007
giữa vợ chồng ông Đỗ Ngọc T, Lâm Phạm Tú T4 với vợ chồng cụ Lâm Văn M1,
cụ Đặng Thị N1 thuộc thửa số 560, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp T, xã L, thành phố
Cần Thơ bị vô hiệu.
1.4. Công nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa số 554, 555 và 560 cùng tờ
bản đồ số 5, cùng tọa lạc tại ấp T, L, thành phố Cần Thơ tài sản của Công ty
TNHH MTV N2.
1.5. Đề nghị Ủy ban nhân dân L, thành phố Cần Thơ thu hồi Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số AI345490, AI 345489 và số AI 044532 do Ủy ban nhân
dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng cấp cho ông Đỗ Ngọc T ngày 26/7/2007 ngày
27/8/2007.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, Công ty TNHH MTV N2 nghĩa vụ
liên hệ quan thẩm quyền đđược xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất theo quy định chung của pháp luật về đất đai.
7
2. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn, ông Đỗ Ngọc T, cụ
thể như sau:
2.1. Công nhận quyền sử dụng đất diện tích 7.510m
2
, tại thửa số 554; diện tích
990m
2
, tại thửa số 555 và diện tích 18.000m
2
, tại thửa số 560, cùng tờ bản đồ số 5,
tọa lạc tại ấp T, xã L, thành phố Cần Thơ thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông Đỗ
Ngọc T.
2.2. Buộc Công ty TNHH MTV N2 giao trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số AI345490, AI 345489 và số AI 044532 do UBND huyện M cấp ngày
26/7/2007 và ngày 27/8/2007 cho ông Đỗ Ngọc T.
2.3. Buộc Công ty TNHH MTV N2 giao trả quyền sử dụng đất diện tích
7.510m
2
, tại thửa số 554; diện tích 990m
2
, tại thửa số 555 và diện tích 18.000m
2
, tại
thửa số 560, cùng tờ bản đồ số 5, cùng tọa lạc tại ấp T, xã L, thành phố Cần Thơ cho
ông Đỗ Ngọc T.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, án
phí sơ thẩm, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 11 tháng 9 năm 2025, bị đơn ông Đỗ Ngọc T đơn kháng cáo đối với
bản án dân sự sơ thẩm. Yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng chấp
nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, các
thửa đất 554, 555 thửa 560 do Công ty N4 chuyển nhượng để trừ cấn các khoản
nợ của các hộ dân nợ tiền của công ty. Do ông T lợi dụng chức vụ Pgiám đốc của
Công ty N2 lấy danh nghĩa của Công ty N2 đi hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất nên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới đứng tên ông T. Tất cả các
thửa đất nêu trên Công ty N2 quản lý sử dụng từ năm 2007 cho đến nay, bản chính
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện công ty vẫn đang quản lý. Vì vậy, đề ngh
Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án thẩm.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị
Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày:
Về thời hiện khởi kiện: Tại Tòa án cấp thẩm, phía bị đơn đã yêu cầu Hội
đồng xét xử xem xét về thời hiệu khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật nhưng chưa được chấp nhận, đnghị Tòa
án cấp phúc thẩm xem xét lại.
Đối với thửa 560 thì ông T nhận chuyển nhượng từ ông M1, do đó lời khai cùa
con ông M1 không đảm bảo tính khách quan; Đối với thửa 554 và thửa 555 ông
T mua của ông Tấn T5 và L, hai hộ trên không nợ tiền của công ty N2,
cũng không có bất cứ văn bản thỏa thuận nào trừ cấn nợ, hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất đúng quy định pháp luật, ông T đã được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất xong.
giải về việc ông T không trực tiếp sử dụng đất giao cho công ty N2 quản
lý, sử dụng vì ông T là thành viên của công ty TNHH K (công ty N2 là công ty con
của công ty TNHH K) nên ông T mới cho công ty N2 mượn đất sdụng xem như
phần vốn góp, còn việc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà công ty N2 đang giữ
8
do giai đoạn năm 2010 do tranh chấp trong nội bộ công ty nên khi ông T không
còn là thành viên của công ty nữa nên công ty N2 đã giữ giấy không chịu trả lại cho
ông T. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân s
sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo, yêu cầu phản
tố của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm.
Đại din Vin kim sát nhân dân thành ph Cần Thơ phát biểu quan điểm:
V t tng: T giai đoạn th lý đến khi đưa v án ra xét x, Thm phán, thư
đã tiến hành đúng các quy định ca pháp lut t tng dân s.
V ni dung v án: Xét thy, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá toàn din các
chng c có trong h vụ án mt cách khách quan. Ti phiên tòa phúc thm b đơn
kháng cáo nhưng không cung cấp được chng c mới để chng minh cho yêu cu
kháng cáo ca mình, vì vậy đề ngh Hội đồng xét x áp dng khoản 1 Điu 308 B
lut t tng dân s, không chp nhn kháng cáo ca b đơn, gi nguyên bn án dân
s sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét kết quả tranh tụng tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Sau khi xét xử thẩm bị đơn Đỗ Ngọc T đơn kháng cáo đúng theo
quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được
xem là hợp lệ và được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm. Cấp sơ thẩm xác
định quan hệ pháp luật thẩm quyền giải quyết là đúng theo các quy định tại khoản
2, khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố
tụng dân sự.
[1.2]. Tại phiên tòa phúc thẩm, đương sự vắng mặt đã được Tòa án triệu tập
hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, không có kháng cáo. Do vậy, căn cứ vào khoản
3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
[1.3]. Về thời hiện khởi kiện: Tại phiên tòa thẩm, bị đơn người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu (Thời hiệu
yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp đã hết). Xét thấy, theo quy định tại điểm a
khoản 3 Điều 159 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (Điều 155 Bộ luật dân sự nằm
2015) thì không áp dụng thời hiệu trong vụ án tranh chấp về quyền sở hữu tài sản,
tranh chấp về đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu, tranh chấp quyền sử
dụng đất…Do đó yêu cầu này của bị đơn không có căn cứ chấp nhận.
[2]. Đối với kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1]. Công ty TNHH mt thành viên N2 hoạt động theo giấy chứng nhận đăng
doanh nghiệp đăng lần đầu 16/01/2002 đăng thay đổi lần 6 ngày
08/7/2020 người đại diện theo pháp luật là ông Đỗ Ngọc Q Giám đốc; ng ty N2
thuộc chủ sở hữu của Công ty TNHH K. (Bút lục: 21), có điều lệ hoạt động (bút lục
22). Sau đó Công ty TNHH K đã hoàn tất việc chuyển nhượng toàn bộ phần vốn
góp, chuyển sở hữu Công ty N2 sang cho ông Đỗ Ngọc Q (bút lục 392).
[2.2]. Từ năm 2004 đến năm 2007, Công ty N2 với hộ bà Lâm Thị D và hộ cụ
Lâm Văn M1 có ký hợp đồng tiêu thụ thủy sản nguyên liệu và đầu tư, theo đó Công
9
ty N2 sẽ cung ứng trước thức ăn nuôi tôm, tiền vay sẽ cấn trừ tiền khi đến mùa
vụ sthu mua lại tôm của hộ D hộ cụ M1. Do nuôi tôm không hiệu quả nên
hộ D còn nợ số tiền 113.632.752 đồng hộ cụ M1 nợ số tiền gốc 133.956.374
đồng. Công ty N2 hộ Lâm Thị D hộ cụ Lâm Văn M1 thống nhất chủ trương
hộ bà Lâm Thị D và hộ cụ Lâm Văn M1 sẽ cắt đất cho Công ty N2 để trừ vào khoản
nợ nêu trên. Đây là tình tiết sự kiện được các đương sự thừa nhận, không cần chứng
minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[2.3]. Quá trình thực hiện chủ trương trên, ngày 23/5/2007 ông Đỗ Tấn T6 (thời
điểm này đang giữ chức vụ Phó giám đốc Công ty N2) hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất với cụ Trần Thị L thuộc thửa số 554, tờ bản đồ số 5, tọa
lạc tại ấp T, xã L, thành phố Cần Thơ; ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất với vợ chồng cụ Hà Tấn T5, cụ Huỳnh Thị H thuộc thửa số 555, tờ bản đồ số 5,
tọa lạc tại ấp T, xã L, thành phố Cần Thơ; Đến ngày 25/7/2007 tiếp tuc ký hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 25/7/2007 với vợ chồng cụ Lâm Văn
M1, cụ Đặng Thị N1 thuộc thửa số 560, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp T, xã L, thành
phố Cần Thơ. Sau đó tông T6 đã được nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất.
[2.4]. Quá trình giải quyết vụ án, phía Công ty N2 cho rằng ông T6 ký các hợp
đồng chuyển nhượng trên với danh nghĩa là ng ty N2 chứ không phải là ký danh
nghĩa cá nhân công T6 nên đề nghị công nhận các thửa đất nêu trên cho Công ty N2;
Ông T6 không đồng ý cho rằng nhận chuyển nhượng với danh nghĩa nhân, ông
đã trực tiếp trả tiền cho ông M1, ông T5, L được nhà nước cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất.
[2.5]. Căn cứ vào lời trình bày của Lâm Thị Kim T3, Lâm Thị L1 và bà
Lâm Thị C là con ruột của cụ Lâm Văn M1 và cụ Đặng Thị N1 (Cả hai đã chết), lời
trình bày của Trần Thị L (bút lục: 429), Sơn Thị T2 đều khẳng định các
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông T6 mục đích là giao đất để trừ
nợ với Công ty N2, không phải chuyển nhượng cho nhân và không nhận bất cứ
khoản tiền nào của ông T6. Do ông T6 thời điểm đó được giao liên hệ với các hộ
dân trực tiếp nuôi tôm nên các hộ dân cho rằng ông T6 đại diện cho Công ty N2 nên
mới tin tưởng tên. Đối với việc ông T5 L không ntiền của Công ty N2
nhưng vẫn ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là do lúc bà T2 thế chấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty N2 thì lấy Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất của Lâm Thị D (do chồng D ông Thạch S đứng tên) để
thế chấp nhưng sau khi cắt đất trả nợ thì bà T2 mới đổi lại lấy đất của cụ Trần Thị L
là mẹ ruột giao trả cho Công ty. Công ty N2 đã trả Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất lại cho ông S (bà D). n cụ Tấn T5, trước đây cụ Trần Thị L nhận chuyển
nhượng 990m
2
thuộc thửa 555 của cụ Tấn T5 (chưa làm thtục sang tên). Sau
đó nhập chung thành một thửa lớn để canh tác gồm thửa 554 (thửa 235 cũ) và thửa
555 (thửa 234 cũ). Đến khi giao toàn bộ diện tích đất cho Công ty N2 để trừ nợ trong
đó có phần đất của cụ Hà Tấn T5. Do đó, ông T6 cho rằng ông T5 và bà L không có
nợ của Công ty N2 nhưng vẫn tên chuyển nhượng cho cá nhân ông là không
cơ sở để chấp nhận.
10
[2.6]. Mặt khác, tại đơn phản tố ông T6 cũng thừa nhận: thời điểm này Công ty
N2 đã đầu nhiều tiền cho các hộ dân nuôi tôm nhưng sản phẩm thu lại không được
bao nhiêu, đồng thời các hộ dân họ lại không có tiền để thanh toán lại cho Công ty,
vì thế đã thống nhất giao đất nuôi trồng thủy sản của hộ dân để khấu trừ số tiền mà
Công ty đã đầu tư. Như vậy, ông T6 cũng thừa nhận, chủ trương của Công ty N2 là
Công ty N2 sẽ nhận đất của các hộ dân để trừ vào khoản nợ trước đó. Ông T6 cho
rằng việc mình chuyển nhượng đất hợp pháp đã đưa tiền chuyển nhượng đất
cho các hdân để các hộ dân trả tiền cho Công ty N2 nhưng ông T6 không chứng
minh được đã giao tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho các hdân trên, cũng
như không chứng minh được ông T6 chuyển tiền cá nhân của mình vào Công ty N2
để trừ nợ của các hộ dân.
Do đó, cần xác định các thửa đất 554, 555 560 ông T6 đang đứng tên
trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài sản của Công ty N2 được từ việc
nhận cấn trừ nợ của bà Sơn Thị T2 và cụ Lâm Văn M1. Điều này cũng phù hợp với
thực tế là Công ty N2 đã nhận đất sử dụng từ năm 2007 cho đến nay, bản chính Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất trên cũng do Công ty đang trực
tiếp quản lý. Do đó, Tòa án thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 23/5/2007 giữa ông
Đỗ Ngọc T với cụ Trần Thị L thuộc thửa số 554, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp T, xã
L, thành phố Cần Thơ; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày
23/5/2007 giữa ông Đỗ Ngọc T với vợ chồng cụ Hà Tấn T5, cụ Huỳnh Thị H thuộc
thửa số 555, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp T, xã L, thành phố Cần Thơ và Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 25/7/2007 giữa vợ chồng ông Đỗ Ngọc
T, bà Lâm Phạm Tú T4 với vợ chồng cụ Lâm Văn M1, cụ Đặng Thị N1 thuộc thửa
số 560, tbản đồ số 5, tọa lạc tại ấp T, xã L, thành phố Cần Thơ bị vô hiệu. Công
nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa s554, 555 560 cùng tbản đsố 5,
cùng tọa lạc tại ấp T, xã L, thành phố Cần Thơ tài sản của Công ty TNHH MTV
N2; Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc buộc cty N5 giao Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất là có căn cứ.
[2.7]. Đối với ý kiến của bị đơn cho rằng ông T được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất nhưng không sử dụng đất mà cho Công ty N2 mượn để sử dụng
từ năm 2007 đến nay, xem như hình thức góp vốn để phân chia lợi nhuận vsau;
Lời trình bày này của ông T không được phía Công ty N2 thừa nhận, ông T cũng
không cung cấp được tài liệu chứng minh cho lời trình bày của mình nên không có
căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.8]. Về thời hạn sử dụng đất trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
AI345490, AI 345489 số AI 044532 cho ông Đỗ Ngọc T ngày 26/7/2007 ngày
27/8/2007 đã hết (thời hạn sử dụng đất đến tháng 10 năm 2013). Hội đồng xét xử
xét thấy, do đất đang tranh cấp nên người đang sử dụng đất không thể thực hiện
quyền gia hạn sử dụng đất. Do đó, căn cứ vào quyết định của Tòa án hiệu lực
pháp luật giao cho ai được quyền sử dụng các thửa đất thì người đó có nghĩa vụ liên
hệ quan có thẩm quyền đđược xem xét gia hạn quyền sử dụng đất theo quy định
tại Điều 172 Luật đất đai năm 2024.
[3]. T nhng nhận định trên, xét thy b đơn kháng cáo nhưng không cung cp
11
đưc tài liu mi có giá tr pháp lý nên không sở để Hội đng xét x xem
xét. Do đó, kháng cáo của bị đơn ông Đỗ Ngọc T không căn cứ chấp nhận,
chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[4]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo ông Đỗ Ngọc T phải chịu
theo quy định là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm
ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên
lai thu tạm ứng án ps0003125 ngày 16/9/2025 của Thi hành án dân sự thành phố
Cần Thơ thành án phí (ông T đã nộp xong).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 133 Luật Đất đai năm 2024;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên x:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Đỗ Ngọc T.
2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 38/2025/DS-ST ngày 26/8/2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ.
3. Án phí dân s phúc thm: Người kháng cáo ông Đỗ Ngọc T phải chịu theo
quy định là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng
án phí dân sự phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai
thu tạm ứng án phí số 0003125 ngày 16/9/2025 của Thi hành án dân sự thành phố
Cần Thơ thành án phí (ông T đã nộp xong).
Trường hp bản án được thi hành theo quy đnh tại Điều 2 Lut Thi hành án
dân s thì người được thi hành án dân sự, người phi thi hành án dân s quyn
tha thun thi hành án, quyn yêu cu thi hành án, t nguyn thi hành án hoặc cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a 9 Lut Thi hành án dân s.
Thi hiệu thi hành án đưc thc hiện theo quy đnh tại Điều 30 Lut Thi hành án
dân s.
Bn án dân s phúc thm hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án, ngày 19
tháng 3 năm 2026.
Nơi nhận:
- VKSND TP. Cần Thơ;
- THADS TP. Cần Thơ;
- Tòa án nhân dân KV 9 Cần Thơ;
- Phòng THADS KV 9 Cần Thơ;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
ĐÃ KÝ
Đào Thị Thủy
Tải về
Bản án số 189/2026/DS-PT Bản án số 189/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 189/2026/DS-PT Bản án số 189/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất