Bản án số 183/2026/DS-PT ngày 24/03/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 183/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 183/2026/DS-PT ngày 24/03/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 183/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại đất lấn chiếm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 183/2026/DS-PT
Ngày: 24 3 2026
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng
đất và yêu cầu chấm dứt hành vi
cản trở quyền sử dụng đất”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Thu Hường;
Các Thẩm phán: Bà Đinh Thị Tuyết; Ông Lê Ngọc Minh.
- Thư phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Chi – Tký Ta án nhân dân tỉnh Đắk
Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk: Ông Phan Văn Công -
Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Ta án nhân n tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thsố: 488/2025/TLPT-DS ngày 19 tháng 11 năm
2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở
quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 14/2025/DS-ST ngày 23/5/2025
của Ta án nhân dân huyện Tây Ha, tỉnh Phú Yên (Nay là Ta án khu vực 13 - Đắk
Lắk) kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra t xử phúc thẩm số
59/2026/QĐPT-DS ngày 12 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1960 Nguyễn Thị L, sinh
năm 1964; Cùng địa chỉ: Thôn M, xã H, tỉnh Đắk Lắk.
Nguyễn Thị L ủy quyền cho ông Nguyễn Văn B1 tham gia tố tụng (Ông B
và ông B1 đều có mặt)
* Bị đơn: Ông Văn C, sinh năm 1967 Thị V, sinh năm 1970;
Cùng địa chỉ: Thôn M, xã H, tỉnh Đắk Lắk (đều có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1.Nguyễn Thị L1, sinh năm 1982; Địa chỉ: Thôn M, H, huyện T, tỉnh
Phú Yên (nay là Thôn M, xã H, tỉnh Đắk Lắk); (vắng mặt)
2. Nguyễn Thị L2, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn D, xã V, huyện V, tỉnh
Khánh Ha (nay là Thôn D, xã T, tỉnh Khánh Ha); (vắng mt)
2
3. Nguyễn Thị L3, sinh năm 1987; Nơi ĐKHKTT: Thôn P, xã H, huyện P,
tỉnh Phú Yên (nay Thôn P, P, tỉnh Đắk Lắk); Địa chỉ liên lạc: Thôn M, H,
huyện T, tỉnh Phú Yên (nay là Thôn M, xã H, tỉnh Đắk Lắk); (vắng mặt)
4. Ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn M, H, huyện T, tỉnh
Phú Yên (nay là Thôn M, xã H, tỉnh Đắk Lắk); (có mặt)
5.Nguyễn Thị L4, sinh năm 1992; Địa chỉ: Thôn M, H, huyện T, tỉnh
Phú Yên (nay là Thôn M, xã H, tỉnh Đắk Lắk); (vắng mặt)
6. Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên
Người kế thừa quyền nghĩa vụ tổ tụng: Chủ tịch y ban nhân dân H,
tỉnh Đắk Lắk. (có đơn đề nghị giải quyết vắn mặt)
* Người kháng cáo: Bị đơn ông Lê Văn C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Nguyễn
Văn B, Nguyễn Thị L trình bày:
Ông B, bà L được cấp một thửa đất 2 Lúa với diện tích 420m
2
tại thửa số 635,
tờ bản đồ số 10 toạ lạc tại: thôn M, H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Theo tờ bản đồ
năm 1996 thì thửa đất 635, được đo thành thửa 986, tờ bản đồ 108B diện tích 400m
2
loại đất 02 Lúa. Quá trình sản xuất gặp khó khăn nên gia đình nhu cầu chuyển đổi
mục đích sử dụng, tiến hành làm hàng rào phân chia ranh giới với các thửa đất liền
kề thì ông C ngăn cản cho rằng trong diện tích đất nhà ông B, bà L quản lý, sử dụng
một phần diện tích 74.91m
2
đất của ông C xin hợp tác xã. Ngoài ra, ông C xây
dựng tường rào lấn qua phần đất vườn của ông B, L 9.21m
2
lấn phần đất 02
Lúa nêu trên 17,78m
2
(tổng cộng 26,99m2)
Do đó, nay ông B, L yêu cầu Toà công nhận quyền sử dụng đất Lúa 74.91m
2
cho gia đình ông B, bà L và buộc ông C, bà V chấm dứt việc cản trở quyền sử dụng
đất của ông B, bà L. Đối với phần đất vườn và đất 02 Lúa ông C, bà V đã xây dựng
tường rào để lấn chiếm đề nghị Ta buộc ông C, bà V trả lại bằng giá trị đất theo thị
trường cho ông B, bà L.
*
Bị đơn Lê Văn C, bà Võ Thị V thống nhất trình bày:
Khoảng năm 1993, ông C, V xin Hợp tác 3 Ha Thịnh diện khoảng
150m
2
để làm đường từ nhà ông C, bà V ra đường lớn. Được sự đồng ý của Hợp tác
C1 thì ông C, V đã làm đường với diện tích 70m
2
, cn lại 80m
2
ông C, V
không sử dụng nằm chung trong thửa đất của ông B, L trồng lúa. Tháng 9 năm
2023, ông B, bà L dựng hàng rào luôn cả phần đất của ông C, bà V nên ông C, bà V
ngăn cản. Nay ông B, bà L khởi kiện, ông C, bà V không chấp nhận vì diện tích đất
80m
2
nằm trong thửa đất của ông B, L Nhà nước đã cho gia đình ông C để làm
đường. Đối với phần đất ông B, bà L cho rằng ông C, bà V xây tường rào lấn chiếm
đất của ông B, bà L thì ông C, bà V không chấp nhận vì khi xây dựng theo cột mốc
ranh giới đã tồn tại từ trước.
3
*
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị L1, chị L2, chị L3, anh B1, chị
L4 thống nhất theo ý kiến của ông B, bà L đề nghị Ta xem xét theo quy định pháp
luật, ngoài ra không có yêu cầu hay ý kiến gì khác.
- Đại diện UBND H trình bày: Việc tranh chấp giữa ông B, L với ông
C, bà V Ủy ban đã tổ chức ha giải nhiều lần nhưng không thành. Việc ông C, bà V
làm đường bê tông vào nhà ông C, bà V, Ủy ban có hỗ trợ xi măng và vận động gia
đình ông B,L để ông C, bà V làm đường bê tông vào nhà theo như hiện trạng mà
Ta đã thẩm định. Diện tích đất làm đường bê tông Ủy ban đã thống nhất không có
ý kiến gì, đề nghị Ta án xem xét theo quy định pháp luật.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2025/DS-ST ngày 23/5/2025 của Tán
nhân dân huyện Tây Hoà, tỉnh Phú Yên (nay là Tòa án nhân dân khu vực 13
Đắk Lắk) đã quyết định:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Văn B, Nguyễn
Thị L.
Công nhận phần diện tích 74,91m
2
đất Lúa giới hạn tại các điểm 12, 13, 14,
15, 16, M6, 12 cho hộ ông Nguyễn Văn B, Nguyễn Thị L quản lý, sử dụng. Buộc
ông Văn C, bà ThV phải chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất đối với
74,91m
2
đất Lúa của hộ ông B, bà L.
Công nhận phần diện tích đất đang tranh chấp gồm 9,21m
2
đất vườn giới hạn
tại các điểm 4,5,6,7,4 và 17,78m
2
đất Lúa giới hạn tại các điểm 16, 17, 5, 4, M6, 16
cho ông Văn C, Thị V quản lý, sử dụng. Buộc ông Lê Văn C, Thị V
phải thối lại giá trị đất cho ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị L 17.200.000 đồng.
Các bên được quyền liên hquan thẩm quyền để chỉnh Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất theo quy định. (Có sơ đồ v trí đất kèm theo)
Ngoài ra, Bản án thẩm cn giải quyết về chi phí tố tụng, án phí tuyên
quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 12/6/2025, bị đơn ông Lê Văn C kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên ta phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên nội dung khởi kiện, bị đơn
giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk:
- Về tố tụng: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng
xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hsơ vụ án, lời
trình bày của các đương sự thì kháng cáo của bị đơn không sở chấp nhận.
Đề nghHội đồng xét xphúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ
nguyên quyết định của án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
4
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, trên sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, kết quả tranh luận của đương
sự và ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn C đã được nộp trong thời hạn luật định
đã nộp tiền tạm ứng án phí nên xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm là phù
hợp quy định của pháp luật.
Tại phiên ta phúc thẩm, nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện; quá trình
giải quyết vụ án cấp phúc thẩm, bđơn không rút đơn kháng cáo, các đương sự
không tự ha giải được với nhau vviệc giải quyết vụ án và đề nghị Ta án cấp phúc
thẩm giải quyết theo quy định pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về nguồn gốc đất:
Các báo cáo số 130 ngày 06/4/2020 số 86 ngày 10/4/2020 của UBND
H (BL 16, 17) xác định nguồn gốc đất của hộ ông Nguyễn Văn B được Nhà nước
giao theo Nghị định 64/CP tại thửa 635, tờ bản đồ số 10 có diện tích 420m
2
gồm
380m
2
đất 2 lúa và 40m
2
đất quy hoạch giao thông. Đến năm 1996, đo đạc thành lập
bản đồ, hồ sơ địa chính thì thửa đất số 635, tbản đồ số 10 được đo thành thửa 986,
tờ bản đồ 108B, diện tích 400m
2
loại đất 2 lúa.
Kết quả xác minh tại Địa chính H, tỉnh Đắk Lắk (BL 142), Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất do nguyên đơn và bị đơn cung cấp thể hiện:
Theo sổ mục kê, nguyên đơn ông Nguyễn Văn B được giao 200m
2
đất ở,
474m
2
đất vườn và 200m
2
đất quy hoạch thổ cư tại thửa 544, tờ bản đồ 108B; được
giao 400m
2
đất lúa tại thửa 986, tờ bản đồ 108B. Ngày 30/8/1996, hộ ông Nguyễn
B được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 146042, trong
đó thửa đất số 635, tờ bản đồ số 10 diện tích 380m
2
(BL 08). Ngày 26/12/2013,
UBND huyện T cấp cho hộ ông Nguyễn Văn B đối với thửa đất 544, tờ bản đồ 108B
có diện tích 874m
2
(BL 140).
Đối với bị đơn: Theo sổ mc kê, ông Lê Văn C được giao 200m
2
đất ở, 460m
2
đất vườn 200m
2
đất quy hoạch thổ tại thửa 542, tờ bản đồ 108B. đồ thửa
đất số 542, tờ bản đồ 108B theo GCNQSD đất do UBND huyện T cấp ngày
22/8/2007 cho hộ ông Văn C thì thửa 542 diện tích 860m
2
, được Nhà nước
công nhận 200m
2
đất ở nông thôn.
[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn B đề nghị công
nhận phần diện tích 74,91m² đất lúa (cạnh đường bê tông) cho hộ ông B, bà L quản
lý, sử dụng, buộc vchồng bị đơn chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất
kháng cáo của bị đơn ông Văn C cho rằng phần diện tích 74,91m² đất này nằm
trong tổng diện tích 150m
2
đất đã được Hợp tác xã C1 cho bị đơn để làm đường đi
nhưng chưa sử dụng hết, Hội đồng xét xử xét thấy:
5
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện đường tông đi từ đường liên
thôn vào nhà ông C diện tích 75,09m
2
(lối đi có cạnh giáp đường liên thôn rộng
3.27m, cạnh giáp đất ông C rộng 2.81m). Phần đất tranh chấp có hướng Đông giáp
đường tông đi vào nhà ông Văn C, hướng Tây giáp thửa đất 986 của ông
Nguyễn Văn B, cạnh hướng Bắc giáp đường liên thôn rộng 2.44m, cạnh hướng
Nam giáp đất ông C rộng 2.97m.
Tại báo cáo số 86 ngày 10/4/2020 của UBND xã H, Báo cáo kết quả thẩm tra,
xác minh s242 ngày 14/4/2020 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh P (cũ) BL
79 xác định: “Tại thời điểm cân đối Nghị định 64/CP của Chính phủ, theo bản đồ
299 thì không có thể hiện con đường đi vào thửa đất của ông Lê Văn C; trên thực tế
chỉ có đường bờ ruộng nhỏ. Tháng 7/2014, UBND xã thực hiện y dựng nông thôn
mới, chỉnh trang đường làng ngõ xóm thì UBND vận động gia đình ông
Nguyễn Văn B hiến đất để thực hiện làm đường bê tông từ đường liên thôn đến n
ông Lê Văn C”.
Ông B thừa nhận cho phép ông C mlối đi diện tích 75,09m
2
theo sự
vận động của UBND H, không thừa nhận việc cho ông C được sử dụng cả phần
diện tích 74,91m
2
đang tranh chấp. Sơ đồ kiểm tra hiện trạng sử dụng đất của ông B
do UBND H lập ngày 02/10/2019 (BL 19) biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ
của Ta án huyện Tây Ha (BL 47) thể hiện phần đất này do ông B sdụng trồng
rau muống. Kết quả đo đạc hiện trạng thể hiện phần đất tranh chấp thuộc thửa đất
986, tờ bản đồ 108B của nguyên đơn.
Ông C cho rằng ông được Hợp tác xã C1 cho 150m
2
đất để làm đường (gồm
75,09m
2
đã đbê tông và 74,91m
2
đang tranh chấp) nhưng không cung cấp được tài
liệu, chứng cứ nào để chứng minh. Tại các buổi ha giải tranh chấp đất đai giữa
nguyên đơn bị đơn thì đại diện UBND H cũng khẳng định việc ông C cho rằng
HTX C1 cho ông 150m
2
đất làm đường là không có căn cứ.
Biên bản xác định diện tích đất của ông B do địa chính H và BTQ thôn M
thực hiện ngày 03/5/2014 (BL 74) cũng thể hiện bên cạnh thửa đất lúa của ông B chỉ
con đường bề rộng trung bình 2,6m. Phần đất ông C cho rằng đã được HTX
C1 cho (gồm đất đã làm đường và đất tranh chấp) có chiều rộng gần 6m chỉ để làm
đường đi vào nhà ông C là không phù hợp với các tài liệu nêu trên.
vậy, sở khẳng định diện tích 74,91m² đất tranh chấp của nguyên
đơn, thuộc thửa đất số 986, tờ bản đồ 108B đã được Nhà nước công nhận quyền sử
dụng cho nguyên đơn.
[2.3] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho rằng diện tích tranh chấp
gồm 9,21m
2
đất thuộc thửa đất 544, tờ bản đồ số 108B (mục đích sử dụng: đất trồng
cây hàng năm khác) 17,78m
2
đất thuộc thửa đất 986, tờ bản đồ số 10 (mục đích
sử dụng: đất lúa) của nguyên đơn nên yêu cầu bị đơn thanh toán theo giá trị đất lấn
6
chiếm; kháng cáo của bđơn cho rằng việc bị đơn xây dựng hàng rào đúng ranh
giới, Hội đồng xét xử xét thấy:
Phần đất tranh chấp là đất nông nghiệp đã được bị đơn xây hàng rào dẫn đến
tranh chấp. Phần đất này có hướng Bắc giáp thửa 544 và thửa 986 của nguyên đơn,
hướng Nam giáp thửa 542 của bị đơn. Bị đơn cho rằng khi xây hàng rào chứng
kiến và đồng ý của chính quyền địa phương nhưng không có chứng cứ chứng minh,
không được nguyên đơn thừa nhận. vậy, cần căn cứ GCNQSD đất Kết quả
thẩm định tại chỗ để xác định.
Nguyên đơn được UBND huyện T cấp GCNQSD đất ngày 26/12/2013 đối với
thửa 544 đất với diện tích 874m
2
. Diện tích đất theo hiện trạng mà nguyên đơn đang
quản lý, sdụng (giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 7, 8, 9, 10, 11, 1) là 854,69m
2
.
Nếu tính cả diện tích đất tranh chấp 9,21m
2
giới hạn bởi các điểm 4, 5, 6, 7, 4 thì
diện tích đất nguyên đơn sử dụng là 863,9m
2
thiếu so với GCNQSD đất. Đối với
thửa 986 đất LUC diện tích theo GCNQSD đất bản đồ đo đạc nằm 1996
400m
2
; diện tích đất theo hiện trạng nguyên đơn đang quản lý, sử dụng
373,25m
2
giới hạn bởi các điểm 12, 13, 14, 15, 16, M6, 4, 3, 12. Nếu tính diện tích
đất tranh chấp 17,78m
2
giới hạn tại các điểm 16, 17, 5, 4, M6, 16 thì diện tích đất
nguyên đơn xác định là 391,03m
2
.
Bị đơn được UBND huyện T cấp GCNQSD đất đối với thửa 542, diện tích
860m
2
, diện tích đất hiện trạng bđơn đang quản lý, sử dụng giới hạn bởi các
điểm M1, M2, M3, M4, M5, 7, 4, M6, 16, M7, M8, M1 (bao gồm diện tích đất tranh
chấp) là 952,05m
2
, nhiều hơn so với GCNQSD đất 92,05m
2
.
Do đó, cấp sơ thẩm xác định diện tích 9,21m
2
đất vườn (từ các điểm 4, 5, 6,
7, 4) 17,78m
2
đất a (từ các điểm 16, 17, 5, 4, M16, 16) của nguyên đơn
căn cứ. Hiện bị đơn lấn chiếm xây dựng hàng rào kiên cố, nguyên đơn yêu cầu trả
lại bằng giá trị, nên cấp sơ thẩm ng nhận phần diện tích đất đang tranh chấp cho
bị đơn quản lý, sử dụng. Buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn giá trị quyền
sử dụng đất tương ứng với diện tích đất đã lấn chiếm là phù hợp.
[2.4] Từ các phân tích, nhận định nêu trên, t thấy án thẩm tuyên chấp
nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn căn cứ, đúng pháp luật nên
không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Quan điểm của Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Đắk Lắk đề nghị bác kháng cáo của bị đơn phù hợp nhận định của Hội
đồng xét xử nên chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Văn C kháng cáo không được chấp
nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
7
Không chấp nhận kháng cáo của bđơn ông Văn C. Giữ nguyên Bản án
dân sự sơ thẩm số 14/2025/DS-ST ngày 23/5/2025 của Toà án nhân dân huyện Tây
Hoà, tỉnh Phú Yên (nay là Ta án nhân dân khu vực 13 – Đắk Lắk).
[2] Về án phí phúc thẩm:
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí lệ phí Ta án: Ông Văn C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng)
án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn
đồng) tạm ứng án pđã nộp theo biên lai thu số 0007291 ngày 05/6/2025 tại Chi
cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Phú Yên (Nay Phng Thi hành án dân sự
khu vực A - Đắk Lắk).
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Toà PT-TANDTC;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 13 - Đắk Lắk;
- VKSND khu vực 13 – Đắk Lắk;
- Phng THADS khu vực 13 – Đắk Lắk;
- Các đương sự;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Lưu Thị Thu Hường
Tải về
Bản án số 183/2026/DS-PT Bản án số 183/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 183/2026/DS-PT Bản án số 183/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất