Bản án số 164/2026/DS-PT ngày 31/03/2026 của TAND tỉnh An Giang về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 164/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 164/2026/DS-PT ngày 31/03/2026 của TAND tỉnh An Giang về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh An Giang
Số hiệu: 164/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 31/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ngan hang TMCP Đ1- Nguyen Thi T4
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG
Bản án số: 164/2026/DS-PT
Ngày 31-3-2026
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng;
hợp đồng thế chấp tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Châu.
Các Thẩm phán: Bà Trịnh Ngọc Thúy và ông Lưu Hữu Giàu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Bé Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An
Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:
Lương Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2026 tại trụ sTòa án nhân dân tỉnh An Giangxét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 92/2026/TLPT-DS ngày 22 tháng 01
năm 2026 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản”.
Do Bản án dân sự thẩm số 44/2025/DS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 13 - An Giang bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 61/2026/QĐ-PT ngày
06 tháng 02 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 117/2026/QĐ-
PT ngày 03 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ1 (viết tắt B1).
Trụ sở chính: Tháp B1, số A, đường T, phường L, quận H (nay là phường
H), Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Ông Lê Ngọc L, chức vụ:
Tổng Giám đốc B1 (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T,
chức vụ: Giám đốc B1 chi nhánh A (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền lại của ông Nguyễn Văn Bé T (theo văn bản
ủy quyền số 614/GUQ-BIDV.AG ngày 25/02/2026), gồm:
+ Ông Nguyễn Thành T1, sinh năm 1971; chức vụ: Phó Giám đốc B1 chi
2
nhánh A (vắng mặt).
+ Ông Thành Đ, sinh năm 1981; chức vụ: Trưởng phòng khách hàng
xử lý nợ B1 chi nhánh A (vắng mặt).
+ Ông Lê Chí T2, sinh năm 1986; chức vụ: Chuyên viên khách hàng xử lý
nợ B1 chi nhánh A (có mặt).
+ Ông Lý Đại T3, sinh năm 1982; chức vụ: Chuyên viên khách hàng xử
nợ B1 chi nhánh A (vắng mặt).
+ Ông Nguyễn Huỳnh P, sinh năm 1972; chức vụ: Chuyên viên khách hàng
xử lý nợ B1 chi nhánh A (vắng mặt).
Cùng địa chỉ liên hệ: Số A L, phường L, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn:Nguyễn Thị T4, sinh năm 1979 (vắng mặt);
Nơi trú: Tổ dân phố G, phường Đ, quận N (nay phường T), Thành ph
Hà Nội; nơi ở hiện nay: Lô B, phố V, phường H, Thành phố Hà Nội.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Công ty cổ phần D2;
Trụ sở: Số B, đường N, Phường A, quận B (nay phường B), Thành phố
Hồ Chí Minh; địa chỉ liên hệ: Số B, đường Đ, phường L, thành phố N (nay
phường N), tỉnh Khánh Hòa.
Người đại diện theo pháp luật của Công ty cổ phần D2: Ông Tanveer G,
chức vụ: Giám đốc (vắng mặt).
3.2. Bà Lê Thị Xuân L1, sinh năm 1969 (vắng mặt);
Nơi trú: Tổ E, ấp P, V, thành phố N (nay phường T), tỉnh Khánh
Hòa.
Người đại diện hợp pháp của Thị Xuân L1: Ông Trần Vân L2, sinh
năm 1959; nơi cư trú: Số D N, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại
diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 18/9/2025) (có mặt).
4. Người kháng cáo:Nguyễn Thị T4 là bị đơn trong vụ án.
5. Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ án sơ thẩm thể hiện:
* Theo đơn khởi kiện ngày 20/9/2024 của nguyên đơn, lời khai trong quá
trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 25/4/2024, bà Nguyễn Thị T4 Hợp đồng tín dụng hạn mức số
01/2024/23276453/HĐTD với Ngân hàng TMCP Đ1 (sau đây gọi tắt B1) chi
nhánh A, số tiền vay thường xuyên theo mức nợ tối đa 20.000.000.000 đồng,
3
thời hạn rút vốn của hợp đồng tín dụng hạn mức 12 tháng, kể từ ngày đến
hết ngày 25/4/2025, mục đích vay bổ sung vốn lưu động để mua bán lúa gạo, lãi
suất vay theo quy định của B1 từng thời kỳ được thể hiện tại từng hợp đồng tín
dụng, cụ thể lãi suất vay thể hiện trên Hợp đồng tín dụng số
01.01/2024/23276453/HĐTD ký ngày 03/5/2024 và Hợp đồng tín dụng cụ thể số
01.02/2024/23276453/HĐTD ngày 04/5/2024 7,1%/năm, được c định
trong suốt thời gian của hợp đồng tín dụng, lãi suất nợ quá hạn bằng 150%/năm
lãi suất cho vay trong hạn, lãi chậm trả theo mức lãi suất 10%/năm tính trên s
lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Thời gian trả nợ gốc và lãi xác định
tại từng hợp đồng tín dụng, lãi vay được trả vào ngày 05 hàng tháng.
Để bảo đảm cho toàn bộ nghĩa vụ, T4 đã Hợp đồng thế chấp bất động
sản số 01/2024/23276453/HĐBĐ ngày 25/4/2024 với B1 được công chứng tại
Văn phòng C văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp bất động sản số
01/2024/23276453/SĐBS ngày 06/5/2024. Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất
và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết
tắt là GCN QSDĐ) số vào sổ CH01385/22363, diện tích 88,65m
2
, thửa số 83, tờ
bản đồ số 6, do Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt UBND) thành phố N, tỉnh
Khánh Hòa cấp ngày 25/11/2013 cho Nguyễn Thị Kim D, điều chỉnh biến động
cho bà Nguyễn Thị T4 ngày 26/01/2024.
Quá trình thực hiện hợp đồng, từ tháng 5/2024 đến ngày 03/10/2024, T4
trả đầy đủ lãi. Đến hết ngày 05/10/2024, các khoản vay đã bị quá hạn, tiền lãi
T4 đã thanh toán đầy đủ đến ngày 31/12/2024, riêng phần ngốc không khả
năng chi trả. Sau khi phát sinh nợ quá hạn, B1 đã nhiều lần liên hệ nhắc nhở, đôn
đốc việc trả nợ vay nhưng T4 vẫn không thực hiện nên B1 khởi kiện yêu cầu
Tòa án giải quyết. Sau khi khởi kiện, từ ngày 28/01/2025 đến ngày 28/8/2025, bà
T4 thanh toán cho B1 được 404.304.661 đồng thì ngưng cho đến nay. Nay B1 yêu
cầu T4 thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi cho B1 tính đến hết ngày 07/9/2025
21.053.817.029 đồng, trong đó vốn vay gốc 19.593.675.333 đồng, nợ lãi
1.460.141.696 đồng. Yêu cầu tính lãi phát sinh sau ngày 07/9/2025 yêu cầu xử
lý tài sản thế chấp trong trường hợp bà T4 không thực hiện hoặc thực hiện không
đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho B1.
* Bị đơn Nguyễn Thị T4: Vắng mặt trong quá trình tố tụng, không gửi
văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại bản trình bày ý kiến ngày 29/6/2025, ngày 21/8/2025 và ngày
25/8/2025, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thị Xuân L1 người
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của L1 ông Trần Vân L2 trình bày: L1
được Hồ Thị Hằng N, Hồ Thị Thu H, Hồ Thị Phi N1 chủ nhà số B, đường
Đ, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa nhờ trông coi căn nhà đang cho Công
ty D2 cho Lê Thị B thuê bán cà phê. Năm 2023, bà Hằng N, bà H bà Phi
N1 vay tiền làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền shữu
nhà cho bà Nguyễn Thị T4, do không muốn cho bà Lê Thị G1 biết việc vay tiền
và phải hợp đồng bán nnên nhờ bà L1 đứng ra nhận người thuê một phần
4
nhà để bán cà phê và dặn bà B nếu ai hỏi quán cà phê của ai thì nói là của bà L1.
Vì vậy, bà T4 mới lập vi bằng về việc bà L1 có thuê nhà thuộc quyền sở hữu của
T4. Khi Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc thẩm định căn nhà và hỏi bà B
thì B nói quán phê của L1 nhưng thực tế L1 không phải người
thuê nhà của bà T4 và không liên quan gì trong vụ kiện này, vì B vẫn chuyển
tiền thuê cho N1. Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tài
sản gắn liền với đất được ký kết giữa bà Hằng N, bà H, bà Phi N1 và T4 hợp
đồng giả cách nhằm che đậy giao dịch vay tiền, các chứng cứ hợp đồng giả cách
thể hiện tại hợp đồng vay tiền thế chấp tài sản. Hiện nay vụ án đang được khởi
kiện tại Tòa án nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa để yêu cầu tuyên hiệu toàn
bộ các hợp đồng đã ký kết, hồ sơ khởi kiện đang trong giai đoạn xử lý đơn, chưa
thụ lý, giải quyết.
* Tại Bản án dân sựthẩm số 44/2025/DS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 13 - An Giang đã quyết định:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 40, Điều
68, Điều 227, Điều 228, Điều 244, khoản 1 Điều 273, Điều 278 và khoản 1 Điều
280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật Dân sự;
- Điều 100, Điều 103 Luật Các tổ chức tín dụng;
- Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9 và Điều 30 Luật Thi hành án dân sự;
- Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của HĐTP
TANDTC;
- Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn B1. Buộc bị
đơn Nguyễn Thị T4 phải nghĩa vụ thanh toán cho B1 số tiền vay, lãi tính
đến hết ngày 07/9/2025 21.053.817.029 đồng, trong đó vốn gốc
19.593.675.333 đồng, nợ lãi là 1.460.141.696 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày 07/9/2025, bà Nguyễn Thị T4 còn phải tiếp
tục chịu tiền lãi theo mức lãi quá hạn trên nợ gốc các khoản lãi các bên thỏa
thuận tại Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2024/23276453/HĐTD ngày
25/4/2024, Hợp đồng tín dụng số 01.01/2024/23276453/HĐTD ngày
03/5/2024 Hợp đồng tín dụng số 01.02/2024/23276453/HĐTD ngày
04/5/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Trường hợp bà Nguyễn Thị T4 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy
đủ nghĩa vụ trả nợ thì B1 được quyền yêu cầu quan thẩm quyền biên,
5
phát mại tài sản theo thỏa thuận tại Hợp đồng thế chấp tài sản số
01/2024/23276453/HĐBĐ ngày 25/4/2024 và văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng
thế chấp bất động sản số 01/2024/23276453/SĐBS ngày 06/5/2024 để đảm bảo
thi hành án, đồng thời T4 phải tiếp tục thanh toán trong trường hợp tài sản bảo
đảm không đủ trả khoản nợ.
[2] Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn B1 đối với số tiền
nợ gốc 404.304.661 đồng mà bị đơn Nguyễn Thị T4 đã thanh toán.
Ngoài ra, bản án còn tuyên vchi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo,
quyền thi hành án và thời hiệu thi hành án của các bên đương sự.
Ngày 13/10/2025, bị đơn Nguyễn Thị T4 đơn kháng cáo đề ngày
09/10/2025 gửi qua đường dịch vụ bưu chính, với nội dung: Yêu cầu hủy Bản án
thẩm số 44/2025/DS-ST ngày 08 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu
vực 13 - An Giang; miễn, giảm án phí dân sự cho Nguyễn Thị T4 do hoàn cảnh
khó khăn.
Ngày 09/10/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang có
Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS-DS ngày 06 tháng 10 năm 2025
với nội dung: Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang áp dụng khoản 3 Điều 308,
Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 44/2025/DS-ST
ngày 08 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 - An Giang chuyển
hồ sơ cho cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang vẫn giữ
nguyên kháng nghị.
- Nguyên đơn B1 do ông Lê Chí Trung đại D1 theo ủy quyền trình bày: B1
có nhận được Công văn của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hu
cầu tạm dừng giao dịch tài sản T4 đang thế chấp cho B1, nhưng B1 đã phản
hồi không liên quan. Nay B1 không đồng ý với kháng nghị của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang, những người cho rằng liên quan
quyền, nghĩa vụ trong vụ án là quan hệ khác giữa họ với bà T4; việc đem họ vào
chỉ kéo dài thời gian giải quyết vụ án, tăng thêm tính rủi ro cho B1; việc giải quyết
các vụ án dân sự liên quan đến tài sản thế chấp không liên quan đến hợp đồng tín
dụng, hợp đồng thế chấp tài sản giữa B1 và T4. Đề nghị Hội đồng xét xkhông
chấp nhận kháng nghị, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thị Xuân L1 do ông Trần
Vân L2 đại diện theo ủy quyền trình bày: L1 thống nhất với Quyết định kháng
nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang, do tài sản T4
đang thế chấp cho B1 liên quan đến những người khác (bà Phi N1, Hằng N,
H), tranh chấp đã khởi kiện T4 đang được Tòa án nhân dân khu vực
1 Khánh Hòa thụ lý giải quyết; đồng thời, một phần tài sản bà T4 thế chấp cho
B1 thực tế Thị B thuê (không phải bà L1 thuê) việc này đã được
T4 xác nhận khi Tòa án nhân dân khu vực 1 Khánh Hòa lấy lời khai. Đề nghị
Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
6
tỉnh An Giang, hủy Bản án sơ thẩm chuyển hồ vụ án để cấp thẩm giải
quyết lại theo quy định pháp luật.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ
giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử. Những người tham gia
tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của
pháp luật.
+ Về việc giải quyết vụ án: Do tài sản thế chấp liên quan đến những
người khác, gồm: Hồ Thị Phi N1, bà Hồ Thị Hằng N, bà Hồ Thị Thu H, bà
Thị B, ông Đỗ Duy L3 Công ty cổ phần H2 nhưng chưa được đưa vào tham
gia tố tụng trong vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là gây
ảnh hưởng quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản
3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự: Chấp nhận kháng nghị của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang; hủy Bản án dân sự thẩm số
44/2025/DS-ST ngày 08 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 - An
Giang và chuyển hồ sơ cho cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Đối với yêu cầu kháng cáo của bà T4: Do T4 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ
đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không do, đề nghị Hội đồng xét xử đình
chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà T4.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn Nguyễn Thị T4 làm đơn kháng cáo trong thời hạn luật định,
nộp tạm ứng án phí phúc thẩm; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang
kháng nghị trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xét
xử theo thủ tục phúc thẩm là đúng quy định tại Điều 285 Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn ginguyên yêu cầu khởi kiện; Viện kiểm
sát nhân dân tỉnh An Giang vẫn giữ nguyên kháng nghị; các đương sự không thỏa
thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
[2] Người có kháng cáo là bị đơn bà Nguyễn Thị T4 đã được Tòa án triệu
tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên a phúc thẩm nhưng vắng mặt không lý
do, xem như đã từ bỏ việc kháng cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật
Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với
yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị T4.
[3] Xét Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 01/QĐ-VKS-DS ngày 06
tháng 10 năm 2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang:
Nguyên đơn B1 khởi kiện bị đơn bà Nguyễn Thị T4 yêu cầu thanh toán nợ
vốn lãi của Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2024/23276453/HĐTD ngày
7
25/4/2024, Hợp đồng tín dụng số 01.01/2024/23276453/HĐTD ngày
03/5/2024 Hợp đồng tín dụng s 01.02/2024/23276453/HĐTD ký ngày
04/5/2024 được kết giữa B1- chi nhánh A T4. Đồng thời, B1 yêu cầu
được quyền xử lý tài sản bà T4 đã thế chấp để bảo đảm cho khoản vay theo Hợp
đồng thế chấp tài sản số 01/2024/23276453/HĐBĐ ngày 25/4/2024 văn bản
sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2024/23276453/SĐBS
ngày 06/5/2024, cụ thể: Tài sản thế chấp căn nhà cấp 4 gắn liền với quyền sử
dụng đất diện tích 88,65m
2
thuộc thửa số 83, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại số B,
phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (được đính chính là số B Đ, phường L,
thành phố N, tỉnh Khánh Hòa), thuộc GCN QSDĐ số CH01385/22363 do UBND
thành phố N, tỉnh Khánh Hòa cấp cho Nguyễn Thị Kim D ngày 25/11/2013;
để thừa kế lại cho Hồ Thị Phi N1, HThị Hằng N Hồ Thị Thu H vào ngày
04/12/2018 và chuyển nhượng lại cho bà Nguyễn Thị T4 ngày 26/01/2024.
Xét thấy, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà T4 không có văn
bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của B1, không cung cấp tài liệu,
chứng cứ cho Tòa án cấp sơ thẩm. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm, Tòa án cấp
thẩm tuyên buộc T4 phải trách nhiệm trả khoản vay cho B1 thì T4
kháng cáo yêu cầu hủy bản án thẩm, xem xét trách nhiệm trả nợ. Đồng thời,
qua các tài liệu do người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Xuân L1
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang cung cấp tại giai đoạn phúc thẩm liên
quan đến trách nhiệm thanh toán khoản vay cho B1, về tài sản bà T4 đã thế chấp,
cụ thể:
- Biên bản thỏa thuận ngày 19/12/2023 giữa Công ty cổ phần H2 do ông
Vũ Viết T5 Tổng Giám đốc đại diện theo pháp luật và bà Nguyễn Thị T4, theo
đó T4 được Công ty nhờ đứng tên chủ shữu, chủ sử dụng đất hợp pháp đối
với quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa số
83, tờ bản đồ số 6, địa chỉ số B đường Đ, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh
Hòa; diện tích 88,65m
2
. Theo GCN QSDĐ số BQ 084619, CH01385/22363 cấp
ngày 25/11/2013 bởi UBND thành phố N. Đồng thời, thỏa thuận Công ty nhờ bà
T4 sử dụng tài sản nhờ đứng tên để vay vốn B1 hộ cho Công ty với số tiền 20 tỷ
đồng; T4 không cần chịu trách nhiệm với B1. Mức thù lao của việc đứng tên
GCN QSDĐ để vay vốn là 200.000.000đ.
- Thông báo về việc thụ vụ án số 75/2025/TLST-DS ngày 09/10/2025
của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Khánh Hòa về tranh chấp hợp đồng vay tài sản,
cụ thể nguyên đơn bà Hồ Thị Phi N1, Hồ Thị Hằng N Hồ Thị Thu H yêu
cầu: Tuyên bvô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn
liền với đất ngày 19/12/2023 giữa bà Hồ Thị Phi N1, bà Hồ Thị Hằng N Hồ
Thị Thu H với Nguyễn Thị T4; tuyên vô hiệu hợp đồng ủy quyền ngày
30/11/2023 giữa HThị Phi N1, Hồ Thị Hằng N Hồ Thị Thu H với
ông Nguyễn Huy H1 Nguyễn Thị T4; tuyên vô hiệu hợp đồng đặt cọc viết
tay ngày 30/11/2023 giữa ông Nguyễn Huy H1 và bà Hồ Thị Hằng N; hủy đăng
8
ký biến động chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị T4 trên trang 4 GCN QSDĐ số
BQ 084619, CH01385/22363 do UBND thành phố N cấp ngày 25/11/2013.
- Biên bản lấy lời khai của Tòa án nhân dân khu vực 1 Khánh Hòa đối
với Nguyễn Thị T4 ngày 09/12/2025 thể hiện: T4 thừa nhận chỉ người
do Công ty cphần H2 nhờ đứng tên quyền sdụng đất vay tiền B1 hưởng thù
lao số tiền 200.000.000đ; Công ty đồng ý chịu trách nhiệm trả khoản vay cho B1
để lấy tài sản thế chấp ra trả lại cho các nguyên đơn.
- Ngoài ra, cung cấp thông tin căn nhà cấp 4 gắn liền với quyền sử dụng đất
diện tích 88,65m
2
ngoài cho Công ty cổ phần D2 thuê, T4 còn cho Thị
B thuê đbán cà phê và căn nhà cấp 4 gắn liền với quyền sử dụng đất có diện tích
88,65m
2
T4 đã chuyển nhượng cho ông Đỗ Duy L3 ông Đỗ Duy L3 đã
chuyển cho bà T4 số tiền 9.460.000.000 đồng nhưng bà T4 không thực hiện hợp
đồng chuyển nhượng với ông Đỗ Duy L3 đem tài sản chuyển nhượng cho ông
Đỗ Duy L3 thế chấp cho B1 để vay số tiền 20.000.000.000 đồng, ông Đỗ Duy L3
đã làm đơn tố giác T4 về hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”,
đơn tgiác của ông Đỗ Duy L3 đã được Viện kiểm sát nhân dân khu vực 01 -
Khánh Hòa chuyển cho quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K giải quyết
hiện đã yêu cầu Văn phòng đăng đất đai tỉnh K tạm dừng việc cập nhật sang
tên, chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Công văn s40/VPCQCSĐT-Đ3
ngày 05/01/2026.
Xét thấy, tại giai đoạn sơ thẩm cũng như phúc thẩm, nguyên đơn B1 không
cung cấp đầy đủ tài liệu liên quan đến hợp đồng tín dụng, thủ tục hợp đồng thế
chấp quyền sử dụng đất; qua lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
L1 các tài liệu do L1, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang cung cấp tại
giai đoạn phúc thẩm, đối với khoản vay của T4 tại B1 tài sản thế chấp bảo
đảm cho khoản vay liên quan đến bà Hồ Thị Phi N1, HThị Hằng N, bà Hồ
Thị Thu H, bà Lê Thị B, ông Đỗ Duy L3, Công ty cổ phần H2 và hiện tài sản thế
chấp đang được Tòa án nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa thụ giải quyết tranh
chấp; cũng như liên quan đến người đang quản lý, sử dụng tài sản (bà Thị B
thuê một phần tài sản) nên cần được đưa vào tham gia ttụng với cách người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Việc những người này chưa được cấp
thẩm đưa vào tham gia tố tụng trong ván là ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp
pháp của họ, cấp phúc thẩm không thể khắc phục được.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận Quyết định
kháng nghị phúc thẩm số: 01/QĐ-VKS-DS ngày 06 tháng 10 năm 2025 của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang; hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ
sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm như đề
nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tại phiên tòa. Tuy nhiên,
cấp thẩm không lỗi do phát sinh tài liệu, chứng cứ mới tại giai đoạn phúc
thẩm.
Do hủy bản ánthẩm nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét về
nội dung của vụ án.
9
[4] Về án phí và chi phí tố tụng:
Án phí dân sự sơ thẩm chi phí tố tụng: Sẽ được xác định lại khi giải
quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do hủy bản án thẩm nên bà T4 không phải
chịu án phí phúc thẩm, được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 296, khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn
Nguyễn Thị T4.
2. Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS-DS ngày
06 tháng 10 năm 2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang.
2.1. Hủy Bản án dân sự thẩm số 44/2025/DS-ST ngày 09 tháng 9 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 - An Giang và chuyển hồ sơ ván cho Tòa
án nhân dân khu vực 13 – An Giang giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
2.2. Về án phí thẩm và chi phí tố tụng: Sẽ được xác định lại khi giải
quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
3. Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyễn Thị T4 được nhận lại số tiền
300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số
0007774 ngày 06/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- VKSND tỉnh An Giang;
- TAND khu vực 13 - An Giang;
- Phòng THADS khu vực 13 - An Giang;
- Đương sự;
- Lưu: Văn phòng, Tòa dân sự,
Phòng GĐ,KT,TT&THA, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Minh Châu
10
Tải về
Bản án số 164/2026/DS-PT Bản án số 164/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 164/2026/DS-PT Bản án số 164/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất