Bản án số 66/2026/DS-PT ngày 07/04/2026 của TAND tỉnh Hưng Yên về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 66/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 66/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 66/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 66/2026/DS-PT ngày 07/04/2026 của TAND tỉnh Hưng Yên về tranh chấp về thừa kế tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về thừa kế tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Hưng Yên |
| Số hiệu: | 66/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 07/04/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | CHấp nhận kháng cáo, sửa một phần án sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Duy Phượng
Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Ông Trương Quang Tú
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đông Hà - Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông
Phạm Văn Nhất - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 02/4/2026 đến 07/4/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Hưng Yên, Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử công khai vụ án dân sự
thụ lý số 02/2026/TLPT-DS ngày 06/01/2026 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài
sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực 6 – Hưng Yên có kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử phúc thẩm số 43/2026/QĐ-PT ngày 25/02/2026, đối với các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Ngô Thị L, sinh năm 1958. Địa chỉ: Thôn C, xã B, tỉnh Ninh
Bình. Có mặt.
Bị đơn:
Anh Lê Việt H, sinh năm 1978. Địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Hưng Yên. Vắng
mặt.
Anh Lê Văn H1, sinh năm 1981. Địa chỉ: Khu đô thị H đường L, thành phố
Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa, vắng mặt khi tuyên án.
Anh Lê Quang Đ, sinh năm 1984. Địa chỉ: Chung cư T, quận H, thành phố
Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa, vắng mặt khi tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Lê Đình T, sinh năm 1960; bà Vũ Thị Thu H2, sinh năm 1974. Cùng
địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
Cụ Lê Thị M, sinh năm 1939. Địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Hưng Yên. Vắng
mặt.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HƯNG YÊN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 66/2026/DS-PT
Ngày: 07-4-2026
"V/v Tranh chấp về thừa kế tài sản"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
2
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn bà Ngô Thị L trình bày:
Bà và ông Lê Hồng C đăng ký kết hôn hợp pháp vào năm 2012. Sau khi kết
hôn, vợ chồng bà chung sống tại nhiều nơi, đến khoảng năm 2016 thì về sinh sống
tại thửa đất số 166, tờ bản đồ số 01 do ông Lê Đình T (em ruột ông C) đứng tên.
Theo bà L, trước khi về sinh sống, giữa ông C và ông T có sự thỏa thuận về
việc đổi quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 142 (do ông C đứng tên) và thửa đất
số 166 (do ông T đứng tên), mặc dù không lập thành văn bản nhưng các bên đã
thực tế thực hiện việc đổi đất, cụ thể ông T xây dựng nhà ở kiên cố trên thửa đất
số 142, còn vợ chồng bà chuyển về sinh sống, quản lý, sử dụng nhà ở trên thửa
đất số 166 từ năm 2016 đến khi ông C chết.
Trong quá trình chung sống, bà cho rằng vợ chồng bà đã bỏ ra nhiều công
sức, chi phí để sửa chữa, cải tạo nhà ở và mua sắm tài sản phục vụ sinh hoạt tại
thửa đất số 166, tổng giá trị lớn. Ngoài ra, bà còn giao tiền cho ông T để thực hiện
việc đổi nhà, sửa chữa và thanh toán một số chi phí liên quan. Việc đầu tư, sửa
chữa, tạo lập tài sản này theo bà là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân.
Đến năm 2019, ông Lê Hồng C chết, không để lại di chúc. Sau khi ông C
chết, giữa bà và các con riêng của ông C phát sinh mâu thuẫn liên quan đến việc
quản lý, sử dụng tài sản, đặc biệt là quyền sử dụng thửa đất số 142. Bà cho rằng
các con ông C và ông T không thừa nhận quyền lợi của bà, không cho bà tiếp tục
quản lý, sử dụng tài sản, đồng thời có hành vi yêu cầu bà rời khỏi nơi ở.
Bà cũng trình bày việc ông C trước đây có chuyển nhượng một phần diện
tích đất (khoảng 40m²) cho cụ Lê Thị M, tuy nhiên bà không trực tiếp tham gia
giao dịch và đề nghị Tòa án xem xét toàn diện để bảo đảm quyền lợi hợp pháp
của bà trong khối di sản.
Từ các nội dung trên, bà Ngô Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án:
Xác định di sản thừa kế của ông Lê Hồng C để lại là quyền sử dụng đất đối
với thửa đất số 142, tờ bản đồ số 01, diện tích 321m² (sau khi trừ phần diện tích
đã chuyển nhượng hợp pháp nếu có);
Chia di sản thừa kế của ông Lê Hồng C theo quy định của pháp luật, bà là
người thuộc hàng thừa kế thứ nhất nên được hưởng phần di sản tương ứng;
Đề nghị được nhận phần di sản bằng hiện vật (đất) để ổn định chỗ ở và cuộc
sống; trường hợp không thể chia bằng hiện vật thì yêu cầu được thanh toán giá trị
tương ứng với phần di sản được hưởng;
Yêu cầu Tòa án xem xét, xác định các tài sản đã được vợ chồng bà tạo lập,
sửa chữa, đầu tư trong thời kỳ hôn nhân tại thửa đất số 166 là tài sản chung của
vợ chồng để được phân chia theo quy định pháp luật;
Yêu cầu bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của bà trong việc quản lý, sử dụng
tài sản và di sản thừa kế, không bị các đồng thừa kế khác cản trở trái pháp luật.
3
Ý kiến, yêu cầu của bị đơn
Bị đơn anh Lê Việt H trình bày:
Anh là con đẻ của ông Lê Hồng C và bà Nguyễn Thị X (đã chết). Sau khi bà
X chết năm 2006, ông C kết hôn với bà Ngô Thị L vào năm 2012.
Đối với thửa đất số 142, tờ bản đồ số 01, diện tích 321m² đứng tên ông C,
anh xác định đây là tài sản do bố mẹ anh tạo lập trong thời kỳ hôn nhân, là tài sản
chung của ông C và bà X. Sau khi bà X chết, phần tài sản của bà X chưa được
chia thừa kế.
Anh thống nhất với yêu cầu chia di sản thừa kế của ông C theo pháp luật; tuy
nhiên, đề nghị Tòa án phải xác định rõ nguồn gốc tài sản là tài sản chung của ông
C và bà X để làm căn cứ chia thừa kế đúng quy định.
Đối với việc bà L cho rằng có thỏa thuận đổi đất giữa ông C và ông T, anh
không đồng ý, cho rằng việc đổi đất không có căn cứ pháp lý, không được cơ quan
có thẩm quyền công nhận, nên không có giá trị pháp lý.
Đối với tài sản trên thửa đất số 166, anh cho rằng toàn bộ tài sản, công trình
và đồ dùng sinh hoạt chủ yếu do anh em anh tạo lập, đóng góp; bà L không có
đóng góp đáng kể nên không đồng ý việc xác định đây là tài sản chung của bà L
và ông C.
Về phương án chia di sản, anh đề nghị: Chia di sản thừa kế theo pháp luật;
giao quyền sử dụng thửa đất số 142 cho anh và các đồng thừa kế là anh Lê Văn
H1, anh Lê Quang Đ quản lý, sử dụng; anh và các đồng thừa kế có trách nhiệm
thanh toán cho bà Ngô Thị L giá trị phần di sản mà bà được hưởng theo quy định.
Bị đơn anh Lê Văn H1 và anh Lê Quang Đ có quan điểm thống nhất với ý
kiến trình bày của anh Lê Việt H, không có yêu cầu độc lập.
Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Đình T và bà Vũ Thị Thu H2
trình bày:
Ông T là em ruột của ông Lê Hồng C. Năm 2017, giữa ông T và ông C có
thỏa thuận miệng về việc đổi quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 142 và thửa đất
số 166; theo đó, ông T tiến hành xây dựng nhà ở kiên cố trên thửa đất số 142, còn
ông C và bà L về sinh sống tại thửa đất số 166.
Tuy nhiên, việc đổi đất này không được lập thành văn bản và không thực
hiện thủ tục pháp lý theo quy định. Nay các bên phát sinh tranh chấp và không
thống nhất việc tiếp tục thực hiện thỏa thuận nên ông T thống nhất:
Trả lại quyền sử dụng thửa đất số 142 cho các con ông C; đề nghị được thanh
toán giá trị tài sản, công trình mà gia đình ông đã đầu tư, xây dựng trên đất.
Đối với việc phân chia di sản thừa kế, ông T không có yêu cầu độc lập, đề
nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của
các bên.
4
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cụ Lê Thị M trình bày:
Khoảng năm 2013, cụ có nhận chuyển nhượng của ông Lê Hồng C diện tích
khoảng 40m² đất thuộc thửa đất số 142, có lập giấy tờ viết tay và đã giao nhận
tiền. Sau khi nhận chuyển nhượng, gia đình cụ đã xây dựng tường bao, sử dụng
ổn định, liên tục, không có tranh chấp.
Do đó, cụ đề nghị Tòa án: Công nhận việc chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa cụ và ông Lê Hồng C đối với diện tích 40m²; Bảo đảm quyền sử dụng
hợp pháp của gia đình cụ đối với diện tích đất này.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành thu thập
tài liệu, chứng cứ theo quy định của pháp luật, gồm: xác minh tại địa phương về
nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng đất; thu thập hồ sơ địa chính; lấy lời khai
của các đương sự và người liên quan; tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, đo
đạc hiện trạng và định giá tài sản tranh chấp.
Kết quả xác minh thể hiện: thửa đất số 142, tờ bản đồ số 01, diện tích 321m²,
đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 20/8/1997 đứng tên ông
Lê Hồng C; đây là tài sản được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Lê Hồng
C và bà Nguyễn Thị X. Sau khi bà X chết năm 2006, phần tài sản của bà chưa
được phân chia. Ông C chết năm 2019, không để lại di chúc.
Các tài liệu xác minh tại UBND xã T thể hiện: ông Lê Hồng C có hai lần kết
hôn; với bà Nguyễn Thị X có 03 người con là các anh Lê Việt H, Lê Văn H1, Lê
Quang Đ; với bà Ngô Thị L không có con chung; ngoài ra không có người thừa
kế nào khác.
Về quá trình sử dụng đất, thể hiện từ năm 2017, ông Lê Đình T (em ruột ông
C) đã xây dựng nhà ở kiên cố trên thửa đất số 142 và sử dụng ổn định; việc thỏa
thuận đổi đất giữa ông C và ông T chỉ bằng lời nói, không có tài liệu, chứng cứ
thể hiện việc chuyển quyền theo quy định pháp luật.
Theo biên bản đo đạc, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày 26/3/2025:
thửa đất số 142 có diện tích 321m²; giá trị quyền sử dụng đất được xác định theo
giá đất tại địa phương; trên đất có công trình nhà ở 03 tầng và mái tôn do gia đình
ông T xây dựng, có giá trị còn lại theo kết quả định giá.
Đối với thửa đất số 166, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m² do ông Lê Đình T
đứng tên, trên đất có nhà ở và tài sản gắn liền với đất; các đương sự có ý kiến khác
nhau về việc có hay không tài sản chung giữa bà Ngô Thị L và ông Lê Hồng C,
tuy nhiên nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc
tạo lập tài sản chung.
Đối với diện tích khoảng 40m² đất thuộc thửa đất số 142 mà cụ Lê Thị M
đang sử dụng, tài liệu trong hồ sơ thể hiện ông Lê Hồng C đã chuyển nhượng cho
cụ M từ năm 2013, có giấy viết tay và đã giao nhận, sử dụng ổn định, không tranh
chấp.
Kết quả giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm
5
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực 6 - Hưng Yên đã quyết định: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị L về việc chia di sản thừa kế của ông Lê Hồng
C theo pháp luật.
Xác định di sản thừa kế của ông Lê Hồng C là quyền sử dụng đất diện tích
160,625m² thuộc thửa đất số 142, tờ bản đồ số 01, tổng diện tích 321m², sau khi
trừ phần diện tích 40m² đã chuyển nhượng cho cụ Lê Thị M.
Xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Hồng C gồm: bà Ngô Thị L, các
anh Lê Việt H, Lê Văn H1 và Lê Quang Đ.
Về phương thức chia di sản, Tòa án cấp sơ thẩm giao cho các anh Lê Việt H,
Lê Văn H1 và Lê Quang Đ được sử dụng toàn bộ thửa đất số 142 bằng hiện vật;
buộc các anh H, H1, Đ có nghĩa vụ thanh toán cho bà Ngô Thị L giá trị phần di
sản bà được hưởng là 65.856.250 đồng, mỗi người phải thanh toán 21.952.100
đồng.
Công nhận việc ông Lê Hồng C chuyển nhượng 40m² đất thuộc thửa đất số
142 cho cụ Lê Thị M và xác định cụ M được quyền sử dụng hợp pháp đối với diện
tích đất này.
Không chấp nhận yêu cầu của bà Ngô Thị L về việc chia tài sản trên thửa đất
số 166, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m² do ông Lê Đình T đứng tên.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền
kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 22/12/2025, nguyên đơn bà Ngô Thị L có đơn
kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của
Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Hưng Yên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề
nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết để buộc bị đơn phải trả số tiền cho bà
(mức đề nghị) là 300.000.000 đồng hoặc trả bằng hiện vật là đất.
Các bị đơn là các anh Lê Việt H, Lê Văn H1, Lê Quang Đ không chấp nhận
kháng cáo của bà Ngô Thị L, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm. Anh Lê Văn H1
đại diện các bị đơn đồng ý trả cho bà L tối đa là 100.000.000 đồng, vượt số tiền
mà cấp sơ thẩm đã tuyên.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa phát
biểu: về tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người
tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; về nội
dung, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên
tòa và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án theo quy
định của pháp luật, đề nghị tính thêm tiền công sức duy trì tài sản cho bà L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
6
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa và
nội dung kháng cáo của nguyên đơn bà Ngô Thị L, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng và phạm vi xét xử phúc thẩm
Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Ngô Thị L được nộp trong thời hạn luật
định, hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Quá trình giải quyết vụ án, việc triệu tập, tham gia tố tụng của các đương sự
và việc xét xử vắng mặt được thực hiện đúng quy định của pháp luật; không có vi
phạm tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự.
[2] Về nội dung kháng cáo của nguyên đơn
Nguyên đơn bà Ngô Thị L kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm, cho
rằng Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng; việc xem xét, thẩm định tại chỗ,
định giá và phân chia tài sản không bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bà.
Xét nội dung kháng cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Việc xem xét, thẩm định
tại chỗ, định giá tài sản đã được Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện theo đúng trình tự,
thủ tục và có thông báo hợp lệ cho các đương sự. Việc bà L không tham gia là do
ý chí của bà, không làm phát sinh vi phạm tố tụng của Tòa án.
Tại phiên tòa, bà L đã được bảo đảm thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố
tụng theo quy định của pháp luật.
Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Ngô Thị L về việc Tòa
án cấp sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng.
[3] Về xác định di sản thừa kế và người thừa kế
Hội đồng xét xử thấy rằng: Thửa đất số 142, tờ bản đồ số 01 có nguồn gốc
do ông Lê Hồng C và bà Nguyễn Thị X tạo lập trong thời kỳ hôn nhân nên được
xác định là tài sản chung của vợ chồng theo quy định của pháp luật.
Sau khi bà Nguyễn Thị X chết năm 2006, phần tài sản thuộc quyền sở hữu
của bà X (tương ứng 1/2 giá trị quyền sử dụng đất) trở thành di sản thừa kế nhưng
chưa được chia. Đến khi ông Lê Hồng C chết năm 2019, không để lại di chúc,
phần tài sản thuộc quyền của ông C trong khối tài sản chung (1/2 giá trị quyền sử
dụng đất) và phần ông C được hưởng từ di sản của bà X tiếp tục là di sản thừa kế
để chia theo quy định pháp luật.
Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả xác minh, Tòa án
cấp sơ thẩm đã xác định phần di sản của ông Lê Hồng C là 160,625m² đất (sau
khi trừ diện tích đã chuyển nhượng hợp pháp cho cụ Lê Thị M) là có căn cứ, phù
hợp với quy định tại các Điều 612, 651 Bộ luật Dân sự.
Các đương sự thống nhất về quan hệ nhân thân và không có tài liệu, chứng
cứ thể hiện còn người thừa kế nào khác, nên xác định hàng thừa kế thứ nhất của
ông Lê Hồng C gồm: bà Ngô Thị L, các ông Lê Việt H, Lê Văn H1, Lê Quang Đ.
Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định di sản thừa kế và người thừa kế để
chia theo pháp luật là có căn cứ.
7
[4] Về phương thức chia di sản và giá trị thanh toán
Di sản là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 142 hiện do các bị đơn quản lý,
sử dụng ổn định; trên đất có công trình xây dựng kiên cố. Việc chia di sản bằng
hiện vật không bảo đảm điều kiện tách thửa theo quy định của pháp luật đất đai,
làm thay đổi hiện trạng sử dụng tài sản, ảnh hưởng đến giá trị sử dụng và gây khó
khăn cho việc tổ chức thi hành án. Do đó, giao toàn bộ quyền sử dụng đất cho các
bị đơn tiếp tục quản lý, sử dụng và thanh toán giá trị kỷ phần thừa kế cho nguyên
đơn là phù hợp quy định tại Điều 660 Bộ luật Dân sự.
Kết quả định giá tài sản đã được thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy
định của pháp luật tố tụng dân sự; các đương sự không có yêu cầu định giá lại và
không có căn cứ xác định việc định giá vi phạm pháp luật, nên được sử dụng làm
căn cứ giải quyết vụ án.
Tuy nhiên, trong trường hợp những người thừa kế nhận toàn bộ di sản là
quyền sử dụng đất, việc xác định giá trị thanh toán không chỉ căn cứ vào kết quả
định giá mà còn phải xem xét công sức đóng góp, thực tế quản lý, sử dụng tài sản
và nguyên tắc bảo đảm công bằng giữa các đồng thừa kế, phù hợp với quy định
tại Điều 660 Bộ luật Dân sự.
Xét thấy, nguyên đơn là người trực tiếp cùng với ông Lê Hồng C sinh sống
trên thửa đất trong thời kỳ hôn nhân, có quá trình quản lý, sử dụng ổn định, liên
tục; đồng thời là người trực tiếp chăm sóc người để lại di sản trong thời gian ốm
đau, qua đó thực hiện việc duy trì, bảo quản tài sản, bảo đảm việc sử dụng đất
được ổn định, liên tục. Công sức này gắn liền với việc duy trì, bảo quản và ổn
định giá trị của di sản, chưa được phản ánh trong kết quả định giá và việc xác định
giá trị kỷ phần thừa kế tại cấp sơ thẩm.
Mặt khác, các bị đơn là những người nhận toàn bộ quyền sử dụng đất và
được hưởng toàn bộ lợi ích từ việc tiếp tục quản lý, sử dụng di sản, nên cần bảo
đảm sự cân bằng về quyền lợi giữa các đồng thừa kế khi xác định nghĩa vụ thanh
toán.
Trên cơ sở đánh giá toàn diện các yếu tố nêu trên, căn cứ tính chất, mức độ
đóng góp và thời gian quản lý, sử dụng tài sản của nguyên đơn, Hội đồng xét xử
xác định giá trị công sức của nguyên đơn tương ứng khoảng 60% giá trị kỷ phần
thừa kế được hưởng, tương đương 40.000.000 đồng, là phù hợp.
Do đó, tổng giá trị thanh toán kỷ phần thừa kế của nguyên đơn được xác định
là: 65.856.250 đồng + 40.000.000 đồng = 105.856.250 đồng. Làm tròn:
106.000.000 đồng.
Đối với tài sản gắn liền với đất do ông Lê Đình T và gia đình tạo lập: đây
không phải là di sản thừa kế của ông Lê Hồng C; các đương sự không có yêu cầu
giải quyết trong vụ án này nên không đặt ra xem xét. Quan hệ pháp luật liên quan
đến tài sản nêu trên là quan hệ độc lập; quyền, nghĩa vụ của ông Lê Đình T đối
với tài sản do mình tạo lập không bị ảnh hưởng bởi việc giải quyết vụ án này và
được bảo lưu quyền khởi kiện theo quy định của pháp luật.
8
Vì vậy, có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản
án sơ thẩm về giá trị thanh toán kỷ phần thừa kế.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm
Do kháng cáo của nguyên đơn bà Ngô Thị L được chấp nhận một phần nên
bà không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Bà Ngô Thị L là người cao tuổi nên
thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 611, 612, 649, 650, 651, 660 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Điểm b khoản 1 Điều 308; Điều 309; Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Về nội dung
Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn bà Ngô Thị L. Sửa Bản án
dân sự sơ thẩm số 31/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực
6 – Hưng Yên về giá trị thanh toán kỷ phần thừa kế.
2. Về nội dung cụ thể
2.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị L về việc chia
di sản thừa kế của ông Lê Hồng C theo pháp luật.
2.2. Xác định di sản thừa kế của ông Lê Hồng C là 160,625m² đất ở thuộc
thửa đất số 142, tờ bản đồ số 01 (nay là thửa số 185, tờ bản đồ số 61), diện tích
321m², tại Tổ dân phố T, xã T, tỉnh Hưng Yên, đã được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số 771 ngày 20/8/1997 đứng tên ông Lê Hồng C.
2.3. Những người được hưởng thừa kế gồm: Bà Ngô Thị L; các ông Lê Việt
H, Lê Văn H1, Lê Quang Đ.
2.4. Về phân chia di sản:
Giao cho các ông Lê Việt H, Lê Văn H1, Lê Quang Đ được quyền sử dụng
chung thửa đất nêu trên (phần diện tích còn lại sau khi trừ phần chuyển nhượng
cho cụ Lê Thị M), đồng thời được sử dụng lối đi hiện trạng theo sơ đồ kèm theo
bản án.
Buộc các ông Lê Việt H, Lê Văn H1, Lê Quang Đ có nghĩa vụ thanh toán
giá trị kỷ phần thừa kế cho bà Ngô Thị L tương ứng với 40,156m² đất, tổng số
tiền 106.000.000 đồng, mỗi người phải thanh toán 35.333.000 đồng.
2.5. Công nhận việc chuyển nhượng 40m² đất giữa ông Lê Hồng C và cụ Lê
Thị M; cụ M được quyền sử dụng diện tích này và các bên liên quan có trách
nhiệm thực hiện thủ tục đăng ký theo quy định của pháp luật.
2.6. Không chấp nhận yêu cầu của bà Ngô Thị L về việc chia tài sản trên
thửa đất số 166.
9
2.7. Đối với tài sản gắn liền với đất do ông Lê Đình T và gia đình tạo lập trên
thửa đất nêu trên: Các đương sự không có yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án
này nên không đặt ra xem xét. Trường hợp phát sinh tranh chấp liên quan đến tài
sản, các bên có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác theo quy định của pháp
luật.
3. Về chi phí tố tụng: Giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về chi phí
đo đạc, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Ngô Thị L không phải chịu án phí dân sự
phúc thẩm.
5. Về hiệu lực thi hành: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày
tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Nguyễn Thị Thu Hiền Trương Quang
Tú
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Duy Phượng
SƠ ĐỒ PHÂN CHIA ĐẤT
Kèm theo Bản án 66/2026/DS-PT ngày 07/4/2026 của Tòa án nhân dân
tỉnh Hưng Yên
Ghi chú
- Diện tích ký hiệu S1 thuộc quyền sử dụng của bà M
- Diện tích ký hiệu S2 thuộc quyền sử dụng của các bị đơn.
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 23/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 19/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 19/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 12/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm