Bản án số 171/2026/DS-PT ngày 25/03/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 171/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 171/2026/DS-PT ngày 25/03/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 171/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Đỗ Mạnh H tranh chấp quyền sử dụng đất đối với ông Ngô Trần Chí C
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Âu.
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Tâm và ông Hoàng Rung K Nhơn
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Phan Hoàng Duy, Thư viên của Tòa
án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Thanh Hải – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 24, 25 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm
Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 507/2025/TLPT-DS ngày
01 tháng 12 năm 2025 về việc“Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất”,
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 38/2025/DS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng bị kháng cáo.
Nguyên đơn:
1. Ông Đỗ Mạnh H (có mặt), sinh năm 1972, Nguyễn Thị Thu H1, sinh
năm 1974 (Vắng mặt) Nơi cư trú: Số E, khu Q, phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo ủy quyền của Nguyễn Thị Thu H1: ông Đỗ Mạnh H,
sinh năm 1972, nơi cư trú: Số E, khu Q, phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng có mặt.
2. Bà Trần Thị Anh T, sinh năm 1973 Nơi cư trú: Số C, đường M, phường L
- Đ, tỉnh Lâm Đồng có mặt.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 171/2026/DS-PT
Ngày 25-3-2026
“V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Bị đơn: Ông Ngô Trần Chí C, sinh năm 1997. Nơi trú: số C, tổ B, ấp D,
xã B, Thành phố Hồ Chí Minh - vắng mặt.
- Người đại diện theo uỷ quyền:
Trần Thị Minh T1, sinh năm 1972. Nơi trú: Số C, tố 209, ấp Người
đại diện hợp pháp: 4A, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh có mặt.
Thị Kim T2, sinh năm 1999. Nơi trú: Ấp S, P, Thành phố Cần
Thơ - có mặt.
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn:
Ông Phạm Công H2 (có mặt), ông Phạm Công D, bà Khưu Mỹ V, Ông Bùi
Duy C1 (đều vắng mặt)- luật ng ty L Cộng sự thuộc đoàn luật
Thành phố H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Nguyễn n T3, sinh năm 1968, Hoàng Thị M, sinh năm 1966.
Nơi cư trú: Số A, đường Đ, phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng - đều vắng mặt.
2. Văn phòng C3 (nay Văn phòng C4). Trụ sở: Số A, đường T, phường X -
Đ, tỉnh Lâm Đồng vắng mặt.
3. Trần Thị Minh T1, sinh năm 1972. Nơi trú: Số C, tổ B, ấp D, B,
Thành phố Hồ Chí Minh vắng mặt.
Người kháng cáo: Ông Đỗ Mạnh H, bà Trần Thị Anh T, Nguyễn Thị Thu
H1ông Ngô Trần Chí C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Đỗ Mạnh
H, đồng thời người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn Nguyễn Thị
Thu H1 trình bày: Ngày 04/10/2022, ông H H1, T hợp đồng đặt
cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Ngô Trần Chí C đất diện tích
2.639m² thuộc các thửa đất số 159, 160, 161, 162 tờ bản đồ số 46B, hẻm V,
phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng đã được Ủy ban nhân dân thành phố Đ
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L140514, L140515 01 đất diện
tích 471m² thuộc thửa 262 tbản đồ số 46B, hẻm V, phường H, thành phố Đ, tỉnh
Lâm Đồng đã được y ban nhân dân thành phố Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số M554382 (thửa đất 262 này do bà T nhận chuyển nhượng từ Hoàng
Thị M ông Nguyễn Văn T3 M, ông T3 đang làm thủ tục cấp đổi giấy
chứng nhận nên chưa làm hợp đồng chuyển nhượng với ông C). Các bên thoả
thuận giá 65.000.000.000đ (Trong đó: giá chuyển nhượng 50.000.000.000đ,
3
tiền chuyển mục đích 10.000.000.000đ, tiền làm đường giao thông 3.000.000.000đ,
lập dự án thiết kế dường giao thông 2.000.000.000đ). Ông C đã đặt cọc
15.000.000.000đ. Đến ngày 05/10/2022, hai bên tiến hành ký hai hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất được công chứng tại văn phòng C3. Theo đó, giá
chuyển nhượng đối với thửa 159, 160 là 3.500.000.00 thửa 161, 162 là
1.500.000.000đ; đối với thửa 262 đang chờ cấp đổi giấy chứng nhận nên chưa
hợp đồng chuyển nhượng (do ông T nhận chuyển nhượng lại của ông T3,
M, nhưng ông T3 M đang làm thủ tục thừa kế mới sang tên được cho ông, bà).
do thoả thuận giá trong hợp đồng đặt cọc 65.000.000.000đ nhưng khi hợp
đồng chuyển nhượng chị ghi 5.000.000.000đ nhằm để nộp thuế thấp. Do ông
nhận thức được việc ghi giá chuyển nhượng thấp là trốn thuế nên ông bà đã liên lạc
với ông C gặp trực tiếp ông C để đề nghị lại hợp đồng chuyển nhượng, ghi
đúng giá thực tế hai bên thoả thuận nhưng ông C không đồng ý. Toàn bdiện
tích đất vẫn do ông quản lý, sử dụng, chưa tiến hành bàn giao đất cho ông C.
Ông, bà đã yêu cầu bên phía ông C làm lại hợp đồng chuyển nhượng tài sản ghi
đúng giá trị thực là 65.000.000.000đ nhưng ông C không đồng ý.
Nay ông H, H1 yêu cầu Toà án giải quyết tuyên hai hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H, H1, T ông C ngày 05/10/2022
Hợp đồng đặt cọc ngày 04/10/2022 hiệu do các hợp đồng này vi phạm
quy định của pháp luật giá trị các bên chuyển nhượng không đúng với giá trị
thực tế nhằm trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước. Về hậu quả của hợp đồng
vô hiệu thì các bên giao trả cho nhau những gì đã nhận. Ông bà đồng ý giao trả cho
ông C 15.000.000.000đ tiền lãi theo lãi suất Ngân hàng từ thời điểm ông
nhận tiền của ông C.
Ngày 21/3/2025, ông H, T đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu huỷ biên bản
thoả thuận ngày 28/4/2023 giữa ông H, T ông C do khi biên bản này
ông bà bị ép buộc ký.
Trường hợp, hai bên tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng thì sẽ lại
với gchuyển nhượng 65.000.000.000đ sẽ trừ đi giá trị của diện tích 471m
2
thửa 262 (do chưa sang tên cho ông H, H1, T), còn lại giá trị tài sản bao
nhiêu thì ông sẽ tiến hành lại hợp đồng chuyển nhượng đối với diện tích đất
2.639m² thuộc các thửa đất số 159, 160, 161, 162 tờ bản đồ số 46B, hẻm V,
phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng đã được UBND thành phố Đ cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số L140514, L140515, phía bên ông strách
nhiệm thực hiện việc chuyển mục đích sử dụng đất.
Đối với yêu cầu phản tố của ông C yêu cầu ông tiếp tục thực hiện hợp
đồng chuyển nhượng sang tên cho ông C theo giá trị ghi theo hợp đồng
4
5.000.000.000đ và yêu cầu ông, bà trả lại 10.000.000.000đ theo lãi suất 0.3%/ngày
thì ông bà không đồng ý.
Theo đơn khởi kiện, qtrình giải quyết vụ án, nguyên đơn Trần Thị
Anh T trình bày: T thống nhất với ý kiến của ông Đỗ Mạnh H đã trình bày.
Không có ý kiến gì khác.
Theo đơn phản tố của ông Ngô Trần Chí C quá trình giải quyết vụ án
người đại diện theo uỷ quyền của ông C là Trần Thị Minh T1, bà Võ Thị Kim T2
trình bày: Ngày 04/10/2022, giữa ông NTrần Chí C ông H, H1, T
hợp đồng chuyển nhượng để đảm bảo cho việc chuyển nhượng quyền sử dụng
đất. Để thực hiện chuyển nhượng diện tích đất 2.639m
2
thuộc các thửa đất số 159,
160, 161, 162 tờ bản đồ số 46B, hẻm V, phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng
đã được UBND thành phố Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L140514
ngày 12/05/1998, số L140515 ngày 12/05/1998 01 lô đất diện tích 471m
2
thuộc
thửa 262 tờ bản đồ số 46B, hẻm V, phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng đã
được UBND thành phố Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M554382
ngày 12/5/1998. Giá chuyển nhượng theo hợp đồng 65.000.000.000đ (Trong đó:
62.000.000.000đ bao gồm giá trị của quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng
đất, chi phí lập dự án tách thửa theo hoạ đồ chi tiết kèm theo đồ
3.000.000.00tiền làm shạ tầng của dự án 12 nên nhà theo hoạ đồ ông H
đã cung cấp. Đến ngày 05/10/2022, hai bên đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất tại phòng công chứng theo đó, giá chuyển nhượng đối với thửa 159,
160 là 3.500.000.000đ và thửa 161, 162 là 1.500.000.000đ (là giá đất nông nghiệp,
tại thời điểm hợp đồng theo yêu cầu của ông H ông H người xác định g
trị của diện tích đất này). Ông C đã thanh toán cho ông H, T, H1 số tiền
15.000.000.000đ (trong đó: 5.000.000.0000đ trả tiền theo hai hợp đồng chuyển
nhượng công chứng cho ông H ứng 10.000.000.000đ để tiếp tục làm chi phí
lập dự án), ông H sẽ được ứng thêm nếu diện tích đất trên được cập nhập sang tên
cho ông Ngô Trần Chí C. Đến ngày 28/4/2023, ông H đến nhà ông C Thành
phố Hồ Chí Minh để thoả thuận, nội dung thoả thuận được ông H tự viết (lý do ông
H, T muốn giữ lại 01 phần đất để làm nhà chỉ chuyển nhượng lại cho ông
C đúng 2000m
2
, đồng ý trả lại cho ông C số tiền 9.000.000.000đ, đồng thời xác
định giá trị đất nông nghiệp thời điểm đó 3.000.000đ/m
2
, việc thoả thuận này
ông H sẽ thực hiện chậm nhất là 01 tháng kể từ ngày 28/4/2023 sẽ trả lại
9.000.000.00cho ông C tiếp tục tách thửa trong 03 tháng kể ngày 04/5/2023
sẽ giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 2000m
2
cho ông C; ông H cam kết thực
hiện đúng diện ch đất trên đã trừ diện tích quy hoạch làm đường) nên ông C đã
đồng ý theo văn bản thoả thuận nói trên với điều kiện bên bán thực hiện đúng
5
theo tiến độ đã cam kết trong bản thoả thuận nếu sai thì bên bán phải chịu trách
nhiệm trước pháp luật. Việc chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất này là tiền của bà
Trần Thị Minh T1, để cho con trai NTrần Chí C đứng tên, mọi giao dịch
liên quan đến giao dịch này là do bà T1 thực hiện.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông H, bà H1, bà T thì ông C không đồng ý vì:
Ông H cho rằng việc ghi giá chuyển nhượng thấp là không đúng, khi ông H ghi giá
trong hợp đồng chuyển nhượng giá đất nông nghiệp tại thời điểm mua bán do
ông H tự đưa ra, tự xác định nên ông C đồng ý với giá chuyển nhượng đất ông H
đưa ra. n giá 65.000.000.000đ đã bao gồm toàn bộ chi phí để hoàn thành dự
án chuyển thành đất ở theo bản vẽ 12 nền nhà do ông H vẽ. Nếu ông H không hoàn
thành được theo thoả thuận ngày 04/10/2022 về việc chuyển thành đất theo
bản vẽ 12 nền nhà do ông H vẽ thì phải hoàn trả lại cho ông C số tiền
10.000.000.000đ, đồng thời thực hiện việc sang tên cho ông C theo hai hợp đồng
chuyển nhượng được công chứng ngày 05/10/2022. Chi nhánh Văn phòng đăng ký
đất đai gửi cho ông Ngô Trần Chí C, ông Đỗ Mạnh H, Nguyễn Thị Thu H1
công văn số 4029/VPĐKĐĐ.ĐL, ngày 13/10/2022 công văn số 3976/
VPĐKĐĐ.ĐL, ngày 11/10/2022 trả lời về việc không sang tên được. Tuy nhiên,
khi gửi cho ông C thì lại gửi địa chỉ 148/1/10 L, phường V, Quận C, Thành phố
Hồ Chí Minh không đúng địa chỉ của ông C nên không ông C không nhận được
các văn bản này. Ông H, T đã nhận được văn bản trên nhưng không báo cho
ông C được biết. Địa chỉ của ông C đã ghi rõ tại hợp đồng chuyển nhượng có công
chứng nhưng khi ông H làm hồ nộp cho Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai
thành phố Đ thì ghi thế nào thì ông C không biết dẫn đến việc Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai thành phố Đ gửi sai địa chỉ, ông C không nhận được các văn
bản này như nêu trên.
Nay ông C yêu cầu tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng sang tên cho ông C
theo 02 hợp đồng công chứng ngày 05/10/2022. Đồng thời, yêu cầu ông H, bà H1,
T phải trả lại 10.000.000.000đ chi phí lập dự án ông H không thực hiện
được yêu cầu trả lãi suất theo 0,3%/ngày/10.000.000.000đ tạm tính từ ngày
13/4/2023 đến ngày 09/7/2024 451 ngày x 0.3% x 10.000.000.000đ =
13.530.000.0000đ.
Đối với ý kiến của ông H, T về việc tiếp tục thực hiện hợp đồng giá
62.000.000.000đ, trừ đi giá trị của diện tích 471m
2
thuộc thửa 262, còn lại giá
trị bao nhiêu thì hai bên sẽ tiến hành lại hợp đồng chuyển nhượng đối với diện
tích đất 2.639m² thuộc các thửa đất số 159, 160, 161, 162 tờ bản đồ số 46B, hẻm
V, phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng đã được UBND thành phố Đ cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số L140514 ngày 12/05/1998, số L140515 ngày
6
12/05/1998, phía bên ông H sẽ thực hiện việc chuyển mục đích sử dụng đất thì ông
C không đồng ý.
Ngày 31/3/2025, ông C có đơn yêu cầu phản tố về việc yêu cầu ông Đỗ Mạnh
H, ông Nguyễn Thị Thu H1, Trần Thị Anh T tiếp tục thực hiện việc chuyển
nhượng sang tên cho ông C các thửa đất số 159, 160, 161, 162 tờ bản đồ số 46B,
hẻm V, phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng đã được UBND thành phố Đ cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L140514, L140515 theo 02 hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được công chứng tạu Văn phòng C3 ngày
05/10/2022. Đồng thời, yêu cầu ông Đỗ Mạnh H, ông Nguyễn Thị Thu H1,
Trần Thị Anh T trả lại cho ông C 10.000.000.000đ chi phí lập dự án ông H
không thực hiện được và yêu cầu trả lãi suất theo 0,3%/ngày/10.000.000.000đ tạm
tính từ ngày 13/4/2023 đến ngày 09/7/2024 là 451 ngày x 0.3% x 10.000.000.000đ
= 13.530.000.0000đ. Trường hợp Toà án tuyên huỷ hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất; Huỷ hợp đồng đặt cọc ký giữa ông H, bà H1, bà T và ông C thì
đề nghị Toà án xác định nguyên đơn đã vi phạm các hợp đồng đã kết. Đồng
thời, yêu cầu nguyên đơn phải hoàn trả số tiền đã nhận 15.000.000.000đ. Bồi
thường khoản tiền tương đương gtrị tài sản đặt cọc 15.000.000.000đ. Yêu cầu
bồi thường thiệt hại của số tiền cọc phạt cọc từ ngày 13/4/2023 đến ngày
31/3/2025 là: 718 ngày x (20%/365)/ngày x 30.000.000.000đ = 11.802.739.726đ.
Tổng cộng yêu cầu nguyên đơn phải bồi thường cho bị đơn số tiền
41.802.739.726đ (Bốn mươi mốt tỷ tám trăm lẻ hai triệu bảy trăm ba mươi chín
nghìn bảy trăm hai mươi sáu đồng).
Ngày 18/6/2025, ông C thay đổi yêu cầu phản tố, rút yêu cầu buộc ông C,
H1, bà T phải thanh toán số tiền 13.530.000.0000đ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Minh T1 trình bày:
là mẹ ruột của ông Ngô Trần Chí C, tiền ông C đặt cọc chuyển nhượng đất với ông
H, H1, T tiền của cho ông C. xác định stiền này không liên quan
đến bà.
Đại diện theo pháp luật của Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Văn
phòng C3 (nay Văn phòng C4) trình bày: Về trình tự, thủ tục công chứng hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị Anh T với ông Ngô Trần
Chí C ngày 05 tháng 10 năm 2022 tại Văn phòng C5 (nay Văn phòng C4) đối
với diện tích đất 1.773m
2
thuộc các thửa đất số 159, 160, tờ bản đồ số 46B, phường
H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật, dựa trên
nguyên tắc tự nguyện giữa các bên giao kết hợp đồng. Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất do các bên giao kết giá trị chuyên nhượng 3.500.000.000
đồng (Ba tỷ năm trăm triệu đồng Việt Nam) việc giao nhận tiền do hai bên tự
7
thỏa thuận tự chịu trách nhiệm ngoài sự chứng kiến của Công chứng viên
(Khoản 3 Điều 2 của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thể hiện). Văn
phòng C4 khẳng định Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng số
1545, quyền số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/10/2022 nêu trên công
chứng đúng theo trình tự thủ tục tại điều Điều 40, Điều 41 Luật Công chứng 2014.
Văn phòng C4 xin vắng mặt trong tất cả các phiên tòa các buổi làm việc của
Tòa án đối với vụ án nêu trên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T3, bà Hoàng Thị
M trình bày: Thửa đất số 262, TBĐ D hẻm V, phường H, thành phố Đ nguồn
gốc cấp cho hộ ông Nguyễn Văn V1 (là bố ruột của ông T3) diện tích 1700m
2
.
Ông chuyển nhượng thửa đất nói trên cho Trần Thị Anh T, việc chuyển
nhượng chỉ viết giấy tay, diện tích thửa 262 + 1 phần thửa 261 580m
2
(trong đó
80m
2
để làm đường đi), giá chuyển nhượng là 4.000.000.000đồng, T đã
thanh toán cho ông T3 2.000.000.000đồng, hai bên chưa hợp đồng chuyển
nhượng do đất này đã chia thừa kế cho ông T3 nhưng một trong các thành viên
trong gia đình phát sinh tranh chấp về chia di sản thừa kế. Giữa ông T3, M
T không tranh chấp gì. Việc T chuyển nhượng thửa đất này cho ông C thì
ông T3, M không biết nên không liên quan. Đề nghị Tòà án giải quyết theo
quy định của pháp luật. Đồng thời ông T3, bà M xin xét xử vắng mặt.
Luật Phạm Công H2 phát biểu quan điểm bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của bị đơn tại phiên tòa thẩm: Đối với hợp đồng chuyển nhượng để đảm
bảo cho việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 04/10/2022 được ký kết giữa
ông H2, H1, T ông C là giao dịch điều kiện nên hợp pháp, bởi lẽ theo
nội dung tại mục 2.4 Điều 2 của Hợp đồng đặt cọc đã chứng minh: Điều kiện để bà
Trần Thị Anh T chuyển nhượng thửa đất 262 cho ông C là T phải hoàn tất
việc nhận chuyển nhượng đối với thửa đất 262 giữa bà M, ông T3 với bà T tại Hợp
đồng chuyển nhượng quyền s dụng đất ngày 11/3/2022. Căn cứ quy định tại
khoản 1 Điều 120 Bộ luật dân sự 2015 thì đã có đủ cơ sở để kết luận: Hợp đồng đặt
cọc giao dịch dân sự điều kiện nên hợp pháp. Đồng thời, việc hợp đồng
trên là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và tuân thủ các quy định của
pháp luật nên có hiệu lực. Lỗi dẫn đến việc không thực hiện hai hợp đồng nói trên
do ông H3 T. Ông H2 T nhận được các công văn số 3976 và 4029 biết
hai công văn không gửi đúng địa chỉ của ông C, cũng không thông báo cho ông
C biết. Ngày 28/4/2023, ông H2 bà T xuống Thành phố Hồ Chí Minh gặp ông C và
tự viết bản thoả thuận nhưng lại yêu cầu tuyên bố văn bản này hiệu do bị ép
buộc, không đúng hình thức là hành vi vu khống đối với Trần Thị Minh T1. Đề
nghị Hội đồng xét xử xem xét hành vi vu khống này của ông C đ6ói với T1.
8
Ông C đã đưa ra các thông tin không đúng sự thật để lừa dối ông C, chiếm giữ số
tiền 15.000.000.000đ trong một thời gian dài. Ngày 30/5/2023, ông H2 đã nộp hồ
đến Ủy ban nhân dân phường H5 về việc "công khai mất Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất". thành phần hồ sơ gồm có: 02 hồ sơ,
các giây tờ bao gồm: Đơn đăng và cấp giấy chứng nhận; Đơn cấp đối, cấp lại
giấy chứng nhận; Giấy CCCD; Họa đô trích đo hiện trạng; Biên bản xác định ranh
giới, mốc giới; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Ngày xác minh: 01/6/2023.
Như vậy, sau khi ông H2, bà T thực hiện việc đo đạc tại đồ đo vẽ ngày
18/10/2022, ông H2 T phải nghĩa vụ nộp các tài liệu trên đến Chi nhánh
văn phòng đăng ký đất đai theo yêu cầu tại công văn 3976 và 4029 để làm thủ tục
ra Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông C thì ông H2, T mới thực
hiện đúng nghĩa vụ tại 02 Hợp đồng chuyển nhượng Giấy ủy quyền. Việc ông
H2 nộp hồ đến Ủy ban nhân dân phường H5, thành phố Đ để công khai mất
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của ông Đỗ Mạnh H
đã thể hiện sự không trung thực đối với chính quyền vi phạm nghĩa vụ của bên
chuyền nhượng tại 02 Hợp đồng chuyển nhượng, vi phạm nghĩa vụ của người nhận
ủy quyền tại Giấy ủy quyền. Từ những căn cứ nêu trên thể hiện việc ông H, bà H1,
T khởi kiện tuyên Hợp đồng chuyển nhượng (để đảm bảo cho việc chuyển
nhượng quyền sử dụng đất) lập ngày 04/10/2022 Văn bản thỏa thuận ngày
28/4/2023 hiệu không căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp
nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng
sang tên cho ông C các thửa đất 159, 160, 161, 162 tờ bản đồ 46B, Vòng L,
phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng theo 02 hợp đồng chuyển nhượng đã
kết được công chứng tại Văn phòng C3 ngày 05/10/2022. Buộc ông H H1 T
phải trả lại cho ông C 10.000.000.000đ chi phí lập dự án ông H không thực
hiện được và yêu cầu trả lãi suất theo 0,3%/ngày/10.000.000.000đ tạm tính từ ngày
13/4/2023 đến ngày 09/7/2024 451 ngày x 0,3% x 10.000.000.000đ =
13.530.000.000đ.
Trường hợp Tòa án tuyên hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất;
Hủy hợp đồng đặt cọc ký giữa ông H, bà H1, bà T và ông C thì đề nghị Tòa án xác
định nguyên đơn đã vi phạm các Hợp đồng đã kết. Đồng thời, yêu cầu nguyên
đơn phải hoàn trả số tiền đã nhận là 15.000.000.000đ. Bồi thường khoản tiền tương
đương tài sản đặt cọc 15.000.000.000đ. Yêu cầu bồi thường thiệt hại từ ngày
13/4/2023 đến ngày 31/3/2025 là: 718 x (20%/365)/ngày x 30.000.000.000 đồng =
11.802.739.726 đồng. Tổng cộng yêu cầu nguyên đơn phải bồi thường cho bị đơn
số tiên 41.802.739.726đ (Bốn mươi mốt tỷ tám trăm lẻ hai triệu bảy trăm ba mươi
9
chín nghìn bảy trăm hai mươi sáu đồng). Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
Bản án dân sự thẩm số: 38/2025/DS-ST ngày 05-9-2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 1 Lâm Đồng, đã quyết định: Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a
khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 165, khoản 2 Điều 227,
các Điều 228, 229, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 116, 117, 118, 122, 123, 129, 500, 501, 502, 503 của Bộ luật
dân sự;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Mạnh H, Nguyễn Thị Thu H1,
Trần Thị Anh T về việc Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất và tài sản gắn liền đất” với ông Ngô Trần Chí C.
1.1. Tuyên hợp đồng chuyển nhượng (để đảm bảo cho việc chuyển nhượng
QSDĐ) đối với các thửa đất số 159, 160 161, 162 và 262 tờ bản đồ 46b, phường L
- Đ, tỉnh Lâm Đồng lập ngày 04/10/2022; hai hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất đối với các thửa đất s159, 160 161, 162 tờ bản đồ 46b, phường L - Đ,
tỉnh Lâm Đồng giữa ông H, H1, T ông C ngày 05/10/2022; Văn bản
thỏa thuận ngày 28/4/2023 H, bà T và ông C là vô hiệu.
1.2. Hủy hợp đồng chuyển nhượng (để đảm bảo cho việc chuyển nhượng
QSDĐ) đối với các thửa đất số 159, 160 161, 162 và 262 tờ bản đồ 46b, phường L
- Đ, tỉnh Lâm Đồng lập ngày 04/10/2022; hai hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất đối với các thửa đất s159, 160 161, 162 tờ bản đồ 46b, phường L - Đ,
tỉnh Lâm Đồng giữa ông H, H1, T ông C ngày 05/10/2022; Văn bản
thỏa thuận ngày 28/4/2023 H, bà T và ông C
1.3. Buộc ông H, H1, T phải trách nhiệm liên đới trả cho ông C số
tiền 28.077.170.000 đồng. (Phần mỗi người là 9.359.000.000đ).
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp quan thi
hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày đơn yêu
cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho
người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân snăm 2015, trừ trường hợp pháp
luật có quy định khác.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C về việc tiếp tục thực hiện
hợp đồng chuyển nhượng đối với các thửa đất 159, 160, 161, 162 và 262 tờ bản đồ
10
46b, phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C đới với số tiền
13.725.569.000đ.
4. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông C đối với số tiền 13.530.000.000đ
Ngoài ra, Tòa án cấp thẩm còn quyết định về án phí, lệ phí toà án
thông báo quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 15-9-2025, nguyên đơn ông Đỗ Mạnh H, Trần Thị Anh T
Nguyễn Thị Thu H1 kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án
thẩm theo hướng xem xét lại việc xác định bên lỗi trong việc bản thỏa
thuận ngày 28/4/2023 giữa ông Đỗ Mạnh H, Trần Thị Anh T với ông Ngô Trần
Chí C; xem xét lại việc vận dụng bản thỏa thuận do một bên bdụ dỗ, ép buộc; đe
dọa để kết thỏa thuận không phát sinh vật chất nào làm căn cứ bồi thường
thiệt hại đề nghị tuyên giải quyết hậu quả của các hợp đồng hiệu, theo đó
bên nguyên đơn phải trả cho bên bị đơn số tiền 15.000.000.000 đồng.
Ngày 12-9-2025, bị đơn ông Ngô Trần Chí C kháng cáo đnghị Tòa án cấp
phúc thẩm sửa toàn bộ bản án thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và giữ nguyên kháng
cáo đồng ý với tỉ lệ chia lỗi dẫn đến hợp đồng hiệu 50/50, đồng ý bồi
thường cho bị đơn 6.000.000.000 đồng tiền lãi;
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn thay đổi yêu cầu kháng cáo, đồng ý với
cấp thẩm về việc tuyên hợp đồng chuyển nhượng để đảm bảo cho việc chuyển
nhượng quyền sdụng đất ngày 04/10/2022; 02 hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất lập ngày 05/10/2022 văn bản thỏa thuận lập ngày 28/4/2023
hiệu; đồng ý để nguyên đơn hoàn trả lại cho bị đơn 15.000.000.000 đồng ; đồng ý
chia tỉ lệ lỗi của các bên dẫn đến hợp đồng hiệu 50/50 ; xác định giá trị thiệt
hại (50.000.000.000 đồng 15.000.000.000 đồng) = 35.000.000.000
đồng/2=16.500.000.000 đồng. Buộc nguyên đơn phải thanh toán cho bđơn tổng
số tiền là 31.500.000.000 đồng.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đồng ý với quan điểm của
người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đối về việc thay đổi nội dung kháng cáo
như trên. Tuy nhiên, tại phần tranh luận ngày 25/3/2026, đại diện theo ủy quyền
của bị đơn rút các thỏa thuận đã trình bày trong phiên tòa ngày 24/3/2026 giữ
nguyên nội dung phản tố, nội dung kháng cáo.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng:
- Về tố tụng: Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa, các Thẩm phán tham gia, Thư
Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình
11
giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm.
- Về nội dung: Sau khi phân tích các tình tiết của vụ án và diễn biến tại phiên
tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2
Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn đối
với việc tuyên các hợp đồng văn bản thỏa thuận giữa nguyên đơn bị đơn
hiệu, nguyên đơn trả cho b đơn 15.000.000.000 đồng 6.000.000.000 đồng
nguyên đơn tự nguyện hỗ trợ bồi thường thiệt hại cho bị đơn, tổng cộng là
21.000.000.000 đồng (21 tỉ đồng). Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng: Những người kháng cáo đã nộp đơn kháng cáo và đã nộp tiền
tạm ứng án phí nên có căn cứ để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Xét nội dung vụ án HĐXX thấy rằng:
Nguyên đơn, bị đơn đều thừa nhận ngày 04/10/2022, giữa ông H, bà H1, bà T
ông C thỏa thuận chuyển nhượng các thửa đất 159; 160; 161; 162 thửa 262
đều thuộc tờ bản đồ 46b, phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng với g
65.000.000.000đ (Sáu mươi lăm tỉ đồng), (trong đó bao gồm 50.000.000.000đ
giá trị của đất, 10.000.000.000 đồng là chi phí chuyển mục đích sử dụng đất, lập dự
án và tách thửa theo họa đồ chi tiết kèm theo (có sơ đồ ký nhận) và 3.000.000.000đ
làm đường giao thông. ông C đã thanh toán cho ông H, H1, T
15.000.000.000 đồng. Ông C cam kết sẽ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất
này của ông H, bà H1, bà T) với giá cả và điều kiện đã nêu trong hợp đồng.
Ngày 05/10/2022, các bên tiến hành hợp đồng chuyển nhượng một phần
diện tích đất tại các thửa 159, 160 tờ bản đồ 46B, phường H, thành phố Đ, tỉnh
Lâm Đồng với giá 3.500.000.000đ; chuyển nhượng các thửa 161, 162 tờ bản đồ
46B, phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng với giá 1.500.000.000đ; cả hai hợp
đồng đượng công chứng tại Văn phòng C3 (nay là Văn phòng C4).
Đối với thửa 262 diện tích 471m
2
chưa được sang tên hợp pháp cho nguyên
đơn bà T nên các bên chưa tiến hành kí hợp đồng chuyển nhượng công chứng.
Ngày 28/4/2023, giữa nguyên đơn bị đơn tiếp tục ký lại với nhau Biên bản
thỏa thuận (do bên bán xin được thỏa thuận) với nội dung: Diện tích chuyển
nhượng 2.000 m
2
(Hai ngàn mét vuông) đất sản xuất nông nghiệp; Giá chuyến
nhượng 2.000 m
2
6.000.000.000 đồng (sáu tỷ đồng) Số tiền do bên mua chuyển
cho bên bán thì bên bán phải hoàn trả lại 9.000.000.000 đồng (chín tỷ đồng) trong
thời gian 1 tháng kể từ ngày 28/4/2023. Bên bán sphải làm các thủ tục tách gộp
12
thửa để cắt sổ riêng 2.000m
2
đất nông nghiệp đchuyến nhượng cho bên mua. Hai
biên tiến hành làm c thủ tục để hỗ trợ làm tách thửa trong thời gian 3 (ba) tháng
kể từ ngày 4/5/2023. Hai bên cam kết sẽ thực hiện nghiêm túc biên bản thỏa thuận
này, thay cho hợp đồng chuyển nhượng kỳ ngày 4/10/2022.
Các bên tiến hành kết hợp đồng chuyển nhượng khi thửa 262 chưa thuộc
quyền sử dụng đất hợp pháp của T; đất nông nghiệp nhưng các bên tiến hành
thỏa thuận chuyển nhượng đất ở, họa đồ tự vẽ không xác nhận của cơ quan nhà
nước thẩm quyền; các hợp đồng chuyển nhượng lập ngày 05/10/2022 ghi giá
không đúng với giá chuyển nhượng thực tế; văn bản thỏa thuận ngày 28/4/2023
không lập theo mẫu, không ghi tứ cận, vị trí nằm thửa nào, ông H tên thay
cho H1. Tòa án cấp thẩm nhận định 03 hợp đồng 01 văn bản nêu trên đã
vô hiệu theo quy định của pháp luật tại thời điểm xác lập với lý do các hợp đồng vi
phạm về nội dung hình thức và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
có căn cứ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của bị đơn thay đổi nội dung
kháng cáo và đồng ý với quyết định của Tòa án cấp thẩm về việc tuyên các hợp
đồng chuyển nhượng (để đảm bảo cho việc chuyển quyền sử dụng đất) lập ngày
04/5/2022; 02 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 05/5/2022 và
văn bản thỏa thuận lập ngày 28/4/2023 giữa ông Đỗ Mạnh H, Nguyễn Thị
Thanh H4, và T với ông Ngô Trần Quốc C2 vô hiệu và các đương sự thỏa thuận
đồng ý chia tỉ lệ lỗi của các bên dẫn đến hợp đồng hiệu là 50/50. Tuy nhiên,
trong phần tranh luận ngày 25/3/2026, đại diện theo ủy quyền của bị đơn rút nội
dung thỏa thuận này giữ nguyên nội dung phản tố, ginguyên nội dung kháng
cáo.
Xét kháng cáo đối với việc giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu:
Nguyên đơn bị đơn đều thừa nhận giá trị thực tế của hợp đồng tại thời
điểm chuyển nhượng 65 tỉ, trong đó 50 tỉ giá trị quyền sử dụng đất; 15 tỉ
tiền chi p chuyển đổi mục đích sử dụng đất, lập dự án và đường giao thông
nhưng cấp thẩm đã căn cứ vào văn bản ngày 28/4/2023 để làm stính hậu
quả của hợp đồng hiệu là không căn cứ các hợp đồng văn bản thỏa
thuận được kết giữa nguyên đơn và bđơn đều hiệu, đồng thời các đương sự
đều thừa nhận giá trị thực tế của hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất giữa
các bên 65.000.000.000 đồng, trong đó 50.000.000.000 đồng giá trị 05 thửa
đất nông nghiệp, 15.000.000.000 đồng chi phí khác về việc chuyển mục đích sử
dụng, lập dự án tách thửa và làm đường giao thông.
Theo nội dung biên bản phiên tòa thẩm ngày 05/9/2025 bản án thẩm
xác định các đương sự không yêu cầu Tòa án tiến hành định giá hay thẩm định giá
13
theo giá thị trường đối với tài sản tranh chấp mà các bên xác định trị tài sản tại thời
điểm xét xử sơ thẩm là 50.000.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bị đơn đều không đề nghị HĐXX
tiến hành định giá tài sản tranh chấp nguyên đơn giữ nguyên quan điểm về giá
trị tài sản tại thời điểm xét xthẩm 50.000.000.000 đồng; đại diện theo ủy
quyền của bị đơn luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bđơn trình bày
các bên đã thống nhất tại tòa án cấp sơ thẩm về giá trị thiệt hại (50 tỉ đồng 15
tỉ đồng nguyên đơn đã nhận) = 35.000.000.000 đồng cho rằng tại phiên tòa
thẩm, bị đơn không thỏa thuận với nguyên đơn về giá trị tài sản tranh chấp mà thỏa
thuận với nguyên đơn giá trị thiệt hại của hợp đồng 35.000.000.000 đồng. Tuy
nhiên, nguyên đơn không thừa nhận quan điểm này của bị đơn tại phiên tòa
ngày 25/3/2026, bị đơn đã rút nội dung thỏa thuận.
HĐXX xét thấy, lời trình bày của bị đơn tại phiên tòa phúc thẩm mâu thuẫn
với lời trình bày của bị đơn tại phiên tòa thẩm, không phù hợp với lời trình bày
của nguyên đơn về việc giữa nguyên đơn bị đơn thỏa thuận nội dung giá trị
thiệt hại là 35.000.000.000 đồng nên HĐXX không có căn cứ chấp nhận quan điểm
này của bị đơn mà cần căn cứ vào kết quả thỏa thuận giữa nguyên đơn và bị đơn tại
phiên tòa thẩm về giá trị tranh chấp tại thời điểm xét xử sơ thẩm là 50 tỉ để làm
căn cứ giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
Xét thấy, giá trị thực tế 05 thửa đất tại thời điểm các bên xác lập hợp đồng
50.000.000.000 đồng; giá trị 05 thửa đất tại thời điểm xét xử thẩm
50.000.000.000 đồng, không phát sinh trượt giá do biến động giá nên không
thiệt hại xảy ra. Do đó HĐXX không có cơ sở buộc nguyên đơn, bị đơn bồi thường
thiệt hại do hợp đồng vô hiệu gây ra.
Tuy nhiên, xét thấy nguyên đơn đã nhận 15.000.000.000 đồng của bị đơn từ
năm 2022. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn cũng đồng ý bồi thường tiền lãi
cho bị đơn tính từ thời điểm nguyên đơn nhận tiền của bị đơn đến ngày xét xử
6.000.000.000 đồng. Đây sự tự nguyện của nguyên đơn, phù hợp với quy định
của pháp luật nên HĐXX cần ghi nhận. Buộc ông H, H4, T liên đới trả cho
ông Ngô Trần Chí C 15.000.000.000 đồng đã nhận 6.000.000.000 đồng tiền bồi
thường thiệt hại, tổng cộng là 21.000.000.000 đồng, theo phần: mỗi người phải bổi
thường cho ông C 7.000.000.000 đồng (Bảy tỉ đồng).
Do các bên chưa bàn giao đất thực địa nên không buộc bị đơn giải giao đất
cho nguyên đơn.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn về việc sửa toàn bộ bản án thẩm,
bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
14
Từ nhận định trên, HĐXX xét thấy căn cứ chấp nhận kháng cáo của
nguyên đơn; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm
theo hướng đã nhận định.
[3]. Về án phí dân sự thẩm chi phí tố tụng: Các đương sự phải chịu án
phí theo quy định.
[4]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của nguyên đơn được chấp
nhận nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Do kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án p
dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của BLTTDS, chấp nhận kháng cáo của nguyên
đơn, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa bản án thẩm số 38/2025/DS-
ST ngày 05 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lâm Đồng.
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 147, Điều 165, khoản 2 Điều 227, các Điều 228, 229, 271 273 của Bộ
luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 116, 117, 118, 122, 123, 129, 500, 501, 502, 503 của Bộ luật
dân sự;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không chấp nhận
yêu cầu phản tố của bị đơn về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất”.
1.1. Tuyên hợp đồng chuyển nhượng (để đảm bảo cho việc chuyển nhượng
QSDĐ) đối với các thửa đất số 159, 160 161, 162 và 262 tờ bản đồ 46b, phường L
- Đ, tỉnh Lâm Đồng lập ngày 04/10/2022; hai hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất đối với các thửa đất s159, 160 161, 162 tờ bản đồ 46b, phường L - Đ,
tỉnh Lâm Đồng giữa ông H, H4, T ông C ngày 05/10/2022; Văn bản
thỏa thuận ngày 28/4/2023 H, bà T và ông C là vô hiệu.
15
1.2. Hủy hợp đồng chuyển nhượng (để đảm bảo cho việc chuyển nhượng
QSDĐ) đối với các thửa đất số 159, 160 161, 162 và 262 tờ bản đồ 46b, phường L
- Đ, tỉnh Lâm Đồng lập ngày 04/10/2022; hai hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất đối với các thửa đất s159, 160 161, 162 tờ bản đồ 46b, phường L - Đ,
tỉnh Lâm Đồng giữa ông H, H4, T ông C ngày 05/10/2022; Văn bản
thỏa thuận ngày 28/4/2023 H, bà T và ông C.
1.3. Buộc ông Đỗ Mạnh H, Nguyễn Thị Thu H1, Trần Thị Anh T phải
trách nhiệm liên đới trả cho ông Ngô Trần Chí C số tiền 21.000.000.000 đồng
(Hai mươi mốt tỉ đồng), theo phần, mỗi người là 7.000.000.000đ (Bảy tỉ đồng).
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp quan thi
hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày đơn yêu
cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho
người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân snăm 2015, trừ trường hợp pháp
luật có quy định khác.
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Ngô Trần Chí C về việc tiếp tục
thưc hiện hợp đồng chuyển nhượng đối với các thửa đất 159, 160 161, 162 262
tờ bản đồ 46b, phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Ngô Trần Chí C đối với số tiền
13.725.569.000 đồng (Mười ba tỉnh bảy trăm hai mươi trăm triệu năm trăm sáu
mươi chín nghìn đồng).
1.4. Đình chỉ yêu cầu phản tố của ông Ngô Trần Chí C đối với số tiền
13.530.000.000 đồng (Mười ba tỉnh năm trăm ba mươi triệu đồng).
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
2.1. Nguyên đơn phải chịu 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng) án
phí Dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu tuyên các hợp đồng vô hiệu, được khấu trừ vào
số tiền 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo
các biên lai số 0002965 ngày 19/10/2023 ; 0001894 ngày 17/3/2025 và
129.000.000 đồng (Một trăm hai mươi chín triệu đồng) án phí trên số tiền phải trả
cho bị đơn.
2.2. Buộc ông C phải chịu 122.928.570đ (Một trăm hai mươi hai triệu chín
trăm hai mươi tám nghìn năm trăm bảy mươi đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm,
được trừ vào số tiền 63.136.369đ (Sáu mươi ba triệu một trăm ba mươi sáu nghìn
ba trăm sáu mươi chín đồng) theo biên lai số 0002031 ngày 17/4/2025 nên còn
phải nộp 59.789.201đ (Năm mươi chín triệu bảy trăm tám ơi chín nghìn hai
trăm linh một đồng).
16
2.3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc ông Ngô Trần Chí C phải chịu
300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm
đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai số 0003436 ngày
24/9/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng. Hoàn trả lại nguyên đơn
900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo
các biên lai số 0003479 ngày 29/9/2025; 0003496 ngày 29/9/2025; 0003495 ngày
29/9/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành
án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- TAND khu vực 1 - Lâm Đồng;
- VKSND khu vực 1 - Lâm Đồng;
- Chi cục THADS khu vực 1 - Lâm Đồng;
- Các đương sự;
- Lưu: TDS, THCTP, HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký và đóng dấu)
Nguyễn Thị Hải Âu
Tải về
Bản án số 171/2026/DS-PT Bản án số 171/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 171/2026/DS-PT Bản án số 171/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất