Bản án số 115/2026/DS-PT ngày 31/03/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 115/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 115/2026/DS-PT ngày 31/03/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 115/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 31/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị N khởi kiện Nguyễn Văn D chia di sản thừa kế do bố mẹ để lại
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 115/2026/DS-PT
Ngày 31-3-2026
V/v Tranh chấp về thừa kế tài sản.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tân
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Vân Thuý và ông Phạm Anh Tuyết.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Quang Bảo - Thư Toà án nhân dân thành
phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên
tòa: Ông Trịnh Văn Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng,
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 03/2026/TLPT-DS ngày 06 tháng 01
năm 2026 về việc Tranh chấp về thừa kế tài sản”.
Do Bản án dân sthẩm số 28/2025/DS-ST ngày 11 tháng 11 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng bị kháng cáo
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 87/2026/QĐXXPT-DS
ngày 04 tháng 3 năm 2026 Quyết định hoãn phiên toà số 155/2026/QĐPT-DS
ngày 19 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
01. Nguyên đơn: Nguyễn Thị N, sinh năm 1957; nơi đăng ký hộ khẩu
thường trú: Tổ C, phường B, quận K (nay là phường K), thành phố Hải Phòng; nơi
ở hiện nay: Số B C, phường B, quận K (nay là phường K), thành phố Hải Phòng; có
mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Anh C - Trưởng
Chi nhánh Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, (Văn bản uỷ quyền ngày
27/02/2025); có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Phạm Thị Quỳnh
N1 - Luật sư của Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; có mặt.
2. Bđơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1963; nơi đăng ký thường trú: Tổ B,
Cụm D, phường B, quận K (nay phường K), thành phố Hải Phòng; nơi hiện nay:
Số B, đường T, phường Q, quận K (nay phường K), thành phố Hải Phòng; mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn:Vũ Thị Thu T - Luật
sư của Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Nguyễn Văn H; sinh năm 1965; nơi cư trú: Thôn F, thị trấn E, huyện
E (nay là xã E), tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn H: Nguyễn Thị N, sinh
năm 1957; nơi đăng hộ khẩu thường trú: TC, phường B, quận K (nay phường
K), thành phố Hải Phòng; nơi hiện nay: Số B C, phường B, quận K (nay phường
K), thành phố Hải Phòng, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày
12/01/2024); có mặt.
3.2. Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1952; nơi trú: Số A đường Đ, phường
N, quận K (nay là phường P), thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
3.3. Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1976; nơi đăng thường trú: Số A đường
Đ, tổ K, phường N, quận K (nay phường P), thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay:
Số D đường L, phường B, quận K (nay phường K), thành phố Hải Phòng; vắng
mặt.
3.4. Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1977; nơi trú: Số D đường T, phường
N, quận K (nay là phường P), thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
3.5. Anh Nguyễn Văn D1, sinh năm 1979; nơi cư trú: số A đường Đ, phường
N, quận K (nay là phường P), thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
3.6. Chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1982; nơi trú: Số C đường Đ, phường
N, quận K (nay là phường P), thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
3.7. Chị Nguyễn Thị T4, sinh năm 1984; nơi trú: Số H đường Đ, phường
N, quận K (nay là phường P), thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
3.8. Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1990; nơi trú: Xóm H, C, huyện Q
(nay là xã Q), tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
3.9. Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1991; nơi trú: Thôn V, H, thị xã N
(nay là phường N), tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.
3.10. Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1995; nơi trú: Xóm H, C, huyện Q
(nay là xã Q), tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của chị H1, chị H2 và chị P: Ông Nguyễn Văn
C1, sinh năm 1964; nơi trú: Tổ A (hiện tổ C), phường B, quận K (nay phường
K), thành phố Hải Phòng, (các văn bản ủy quyền ngày 15/01/2024 và ngày
05/4/2024); vắng mặt.
3.11. Nguyễn Thị N2; nơi đăng thường trú: Tổ B, Cụm D, phường B,
quận K (nay phường K), thành phố Hải Phòng; nơi hiện nay: Số B, đường T,
phường Q, quận K (nay là phường K), thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
3.12. Ông Nguyễn Duy C2, sinh năm 1965 và bà Phạm Thị T5, cùng địa chỉ:
Số nhà A đường C, tổ C, phường B, quận K (nay phường K), thành phố Hải Phòng;
vắng mặt.
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn Nguyễn Thị N bị đơn ông Nguyễn
Văn D; đều có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án tại các cấp xét xử
thẩm, cấp phúc thẩm và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị N trình bày:
Cụ Nguyễn Văn C3, chết năm 2000 cụ Nguyễn Thị V, chết năm 2006. Hai
cụ có 6 người con gồm: Bà Nguyễn Thị T6; ông Nguyễn Văn H3; ông Nguyễn Văn
D; ông Nguyễn Văn H; ông Nguyễn Văn L; Nguyễn Thị N. Ngoài ra các cụ không
có con chung, con riêng nào khác. Bố mẹ đẻ của cụ C3 cụ V đã chết trước 02 cụ.
Trong s06 người con đcủa cụ C3 cụ V có: Nguyễn Thị T6 chết ngày
05/12/2019, có chồng và 05 người con gồm: Ông Nguyễn Văn B; anh Nguyễn Văn
T1; chị Nguyễn Thị T2; anh Nguyễn Văn D1; chị Nguyễn Thị T3; chị Nguyễn Thị
T4; Ông Nguyễn Văn H3 chết ngày 26/01/1996, v03 người con là:
Thị V1; chị Nguyễn Thị H1, chị Nguyễn Thị H2; chị Nguyễn Thị P; Ông Nguyễn
Văn L chết ngày 31/7/2021 không có vợ con.
Khi còn sống cụ C3 và cụ V có khối tài sản sau: Diện tích 896,1m
2
đất thổ cư
tại thửa 28, tờ bản đồ địa chính số 303592- 8 - (11), tổ B cụm D phường B, quận K,
thành phố Hải Phòng (nay C, phường K) và 01 ngôi nhà nhỏ xây dựng trên đất
năm 2003. Hiện do ông Nguyễn Văn D quản sử dụng. Khi chết các cụ C3 cụ V
không để lại di chúc và không để lại nghĩa vụ về tài sản. Năm 2015, trong gia đình
họp và thống nhất diện tích 896,1m
2
đất thổ sẽ chia cho ông Nguyễn Văn H
Nguyễn Thị N từ ngõ đi vào phía bên trái, phía bên phải là của ông Nguyễn Văn
D. Ngõ rộng 2m thì sử dụng chung. Việc anh chị em thỏa thuận được lập thành văn
bản và cùng ký nhận. Tuy nhiên, sau đó ông D không thực hiện như bản thỏa thuận
nên đã làm đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân quận Kiến An (nay Tòa án nhân
dân khu vực 5) yêu cầu giải quyết:
- Chia di sản thừa kế Quyền sử dụng đất theo diện tích số đo thực tế
791,7m
2
đất thổ cư, tại thửa đất số 28, tờ bản đồ địa chính số 303592-8 - (11), tại tổ
B cụm D phường B, quận K, thành phố Hải Phòng (nay C, phường K) theo quy
định pháp luật đề nghị được nhận kỷ phần của mình bằng hiện vật, đề nghị Tòa
án miễn án phí cho bà do người cao tuổi.
Đối với ngôi nhà do mẹ bà xây dựng năm 2003 đến nay đã xuống cấp không
còn giá trị sử dụng nên bà không yêu cầu chia.
- Yêu cầu Tòa án chia đối với phần tài sản của ông Nguyễn Văn L được hưởng
trong khối di sản thừa kế của cụ C3 và cụ V để lại theo quy định của pháp luật.
- Về công sức đóng góp nuôi dưỡng, chăm sóc ông Nguyễn Văn L: Bà và các
anh chị em trong gia đình đã để lại 3 suất ruộng cho ông Nguyễn Văn D để thêm vào
chi phí nuôi dưỡng, chăm sóc ông L (hiện nay ông D vẫn đang quản 3 suất đất
này). Thời điểm ông L ốm và đi bệnh viện gia đình bà có thêm tiền để chăm lo cho
ông L nằm viện. Bà xác nhận ông D cũng công trong việc chăm sóc ông L. Khi
ông L còn sống bà cũng chăm lo cho ông L. Sau khi ông L chết thì bà và gia đình
nghĩa vụ chi phí phúng viếng và chôn cất.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp Người đại diện theo ủy quyền của
Nguyên đơn thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn đnghị Hội đồng xét xử
chấp nhận các yêu cầu khởi kiện.
Trong quá trình tố tụng, bị đơn ông Nguyễn Văn D người đại diện hợp
pháp trình bày: Ông thống nhất với lời khai của bà N về quan hệ huyết thống, thời
điểm chết của cụ C3, cụ V những người được hưởng thừa kế. Về di sản thừa kế
như nguyên đơn đã trình bày. Khi còn sống các cụ đã xây dựng nhà ở sinh sống
tại thửa đất của mình. Năm 2003 do ngôi nhà của 02 cụ xuống cấp nên bị đơn đã bỏ
tiền ra để xây dựng lại nhà cho cụ V và em trai bị tâm thần là Nguyễn Văn L ở. Ngôi
nhà này hiện nay đã xuống cấp, nhưng bị đơn vẫn để làm nơi thờ cúng 02 cụ và em
trai. Khi chết các cụ C3 cụ V không để lại di chúc và không có tranh chấp về nghĩa
vụ chôn cất, phúng viếng.
Khoảng năm 2009, vợ chồng bị đơn bỏ tiền đầu tư xây dựng 01 dãy nhà
trọ cho thuê, hiện các gian trọ này vẫn đang người thuê; bị đơn xác nhận số tiền
bị đơn thu được từ việc cho thuê nhà trọ để bù đắp vào khoản tiền đã bỏ ra đầu tư
xây dựng nhà trọ. Nguyên đơn yêu cầu chia di sản thừa kế của bố mẹ để lại, bị đơn
đồng ý và có quan điểm như sau:
Bị đơn yêu cầu chia khối tài sản thành 06 suất (sau khi đã trừ đi phần diện tích
đất làm ngõ đi chung), bị đơn nhận 3/6 suất thừa kế gồm: 01 suất của bị đơn; 01 suất
của ông Nguyễn Văn L do bị đơn người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng ông L; 01
suất trông coi, bảo quản di sản thừa kế; còn 3/6 suất còn lại chia đều cho các thừa kế
khác. Người nào nhận phần đất trên đó có phần diện tích nhà trọ thì phải thanh toán
giá trị bằng tiền cho bị đơn theo mức giá mà Hội đồng định giá đã xác định; đối với
các tài sản khác trên đất bị đơn không yêu cầu. Bị đơn nghị Tòa án miễn án phí do
là người cao tuổi.
Tại phiên toà thẩm bị đơn bổ sung ý kiến: Đnghị để lại một phần diện
tích đất dùng vào việc làm nhà thờ chung, phần còn lại chia như nội dung bị đơn đã
đề nghị; Trường hợp giải quyết phân chia di sản của ông L để lại, bị đơn đề nghị làm
rõ công sức chăm sóc nuôi dưỡng của bị đơn đối với ông L.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Người đại diện hợp pháp của bà Lê Thị V1, chị Nguyễn Thị H1, chị Nguyễn
Thị H2, chị Nguyễn Thị P là ông Nguyễn Văn C1 - trong quá trình giải quyết vụ án
đã quan điểm: Thống nhất với lời khai của nguyên đơn như đã trình bày trên về
chia di sản thừa kế. Nếu trên phần diện tích được chia tài sản nhà trọ do bị đơn
xây dựng thì tất cả sẽ hoàn trả cho bị đơn giá trị bằng tiền theo mức giá Hội đồng
định giá đã xác định.
Anh Nguyễn Văn T1 trình bày: Anh là con đẻ của bà Nguyễn Thị T6; mẹ anh
đã chết năm 2019 con của cụ Nguyễn Văn C3 cụ Nguyễn Thị V; bà T6
chồng ông Nguyễn Văn B 05 người con gồm, Nguyễn Văn T1, chị Nguyễn Thị
T2, anh Nguyễn Văn D1, chị Nguyễn Thị T3, chị Nguyễn Thị T4. Anh xác nhận lời
khai của nguyên đơn và bị đơn về di sản thừa kế, ngày tháng năm chết của 02 cụ và
những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất là đúng. Anh đề nghị Tòa án phân chia di
sản thừa kế theo quy định của pháp luật có tính đến phần công sức bảo quản di sản
của ông Nguyễn Văn D đnghị được nhận kỷ phần thừa kế bằng hiện vật, nếu
trên phần diện tích được chia tài sản là nhà trọ do bị đơn xây dựng thì anh cùng
mọi người trong gia đình anh sẽ hoàn trả cho bị đơn giá trị bằng tiền theo mức giá
mà Hội đồng định giá đã xác định.
Riêng đối với phần tài sản của ông Nguyễn Văn L được hưởng trong khối di
sản thừa kế của cụ C3 và cụ V, do ông L đã chết, không có vợ con nên anh đề nghị
Tòa án chia cho ông Nguyễn Văn D được hưởng toàn bộ, ông D người công
chăm sóc và nuôi dưỡng ông L, do ông L bị bệnh tâm thần từ nhỏ.
Ông Nguyễn Văn B, chị Nguyễn Thị T2, anh Nguyễn Văn D1, chNguyễn
Thị T3, chị Nguyễn Thị T4 (chồng và con của bà Nguyễn Thị T6); Bà Nguyễn Thị
N2 (là vợ của ông Nguyễn Văn D) mặc đã được Tòa án Thông báo triệu tập
hợp lệ nhiều lần, nhưng không đến Tòa án cũng không gửi văn bản trình bày ý
kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn lại: yêu cầu Tòa án giải
quyết phân chia dứt điểm di sản của ông Nguyễn Văn L để lại cho những người
thuộc hàng thừa kế của ông L để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các đương sự
trong vụ án.
Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân phường B (nay là phường K):
Theo Hồ kỹ thuật thửa đất năm 1997 hiện Ủy ban nhân dân phường B, quận
K, thành phố Hải Phòng đang quản lý, lưu giữ: Thửa đất số 28, tờ bản đồ địa chính
số 303592-8 - (11), số hiệu mảnh bản đồ gốc F-48-118-C-b-1; địa chỉ: Tổ B cụm D
(nay C), phường B, quận K, thành phố Hải Phòng; mục đích sử dụng: Thổ cư;
diện tích: 896,1m
2
; tên chủ sử dụng: Nguyễn Văn C3; hiện chưa được cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Nguồn gốc thửa đất trên là của ông cha để lại.
Hiện thửa đất này do ông Nguyễn Văn D con đẻ của cụ Nguyễn Văn C3
đang quản lý sử dụng. Quá trình sử dụng đất, gia đình ông D sự hoán đổi ngõ cho
ông Nguyễn Duy C2 hiện ở số nhà A đường C, tổ C, phường B, quận K, thành phố
Hải Phòng (nay là phường K). Việc đổi đất của hai bên không được thể hiện trên sổ
sách quản lý đất đai lưu giữ tại Ủy ban phường. Tuy nhiên cho đến nay thửa đất trên
không có tranh chấp với các hộ liền kề về mốc giới mà chỉ có sự tranh chấp về thừa
kế của các anh chị em ông D với nhau.
Ông Nguyễn Duy C2 vợ Phạm Thị T5 quan điểm: Trước đây gia
đình ông phần diện tích đất hiện phần đất đi vào khu đất của cụ Nguyễn Văn
C3 do ông Nguyễn Văn D (con đẻ của cụ C3) đang quản lý, sử dụng. Đến khoảng
năm 2017 (ông không nhớ cụ thể thời gian), gia đình ông đã đổi phần diện tích
đất này cho anh chị em gia đình bà N - D để lấy phần diện tích lối đi vào đất của c
C3 theo Hồ sơ kỹ thuật thửa đất; hai bên chỉ đổi cho nhau bằng miệng, không bằng
văn bản gì. Sau khi đổi đất, gia đình ông đã xây dựng nhà kiên cố như hiện nay.
Gia đình ông không có tranh chấp với diện tích đất đã đổi cho anh chị em ông D.
Theo văn bản trả lời của Văn phòng Đ - Chi nhánh quận K: Thửa đất trên hiện không
thông tin về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền
với đất (chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).
Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, xác định:
1. Về đất: Thửa đất số 28, tờ bản đồ địa chính số 303592-8 - (11), tại tổ B cụm
D (hiện là số 168 đường C, tổ C) phường B, quận K, thành phố Hải Phòng có diện
tích đất theo số đo thực tế là 791,7m
2
. Trị giá 11.000.000 đồng/m
2
.
2. Về tài sản trên đất: 01 dãy n01 tầng lợp tôn, tường chịu lực; 02 nhà 01
tầng hết niên hạn sử dụng; 01 cây nhãn to đường kính trên 60cm; 08 cây vải nhỏ gốc
từ 20cm đến 30cm; 01 cây bưởi gốc từ 20cm đến 30cm; 01 cây thị to gốc từ 30cm
đến 40cm; 01 cây dừa cao trên 5m. Diện tích kích thước thửa đất và công trình vật
kiến trúc trên đất có sơ đồ hiện trạng của đơn vị đo vẽ kèm theo. Tổng giá trị tài sản
trên đất là 359.505.000 đồng.
Tại Bản án sơ thẩm số 28/2025/DS-ST ngày 11/11/2025 Toà án nhân dân khu
vực 5 - Hải Phòng đã quyết định: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1. Xác định diện tích 791,7m
2
đất (trong đó có 747,5m
2
tại thửa đất số 28, tờ
bản đồ địa chính số 303592-8 - (11) tại tổ C, phường K thành phố Hải Phòng
44,5m
2
tại thửa đất số 20, tờ bản đồ địa chính số 303592-8 - (11) tổ C, phường K,
thành phố Hải Phòng do đổi đất) là của cụ Nguyễn Văn C3 và cụ Nguyễn Thị V để
lại, chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật, cụ thể:
- Giao cho ông Nguyễn Văn D được quyền sử dụng diện tích 233,45 m
2
đất
hiệu (S1) (trong đó 231,95m
2
tại thửa đất số 28, tờ bản đồ địa chính số
303592-8 - (11) tại tổ C, phường K thành phố Hải Phòng 1,5m
2
tại thửa đất số
20, tờ bản đồ địa chính số 303592-8 - (11) tại tổ C, phường K, thành phố Hải Phòng
do đổi đất) sở hữu các tài sản gắn liền với diện tích đất được quyền sử dụng
ngõ đi chung. Ông D trách nhiệm tháo dỡ 1,6m
2
công trình trên đất (1) theo các
mốc A-B-C-A, lán tôn (3), cổng nằm trên diện tích đất dùng làm ngõ đi chung, vị
trí, kích thước diện tích đất (có sơ đồ kèm theo).
- Giao cho ông Nguyễn Văn B, anh Nguyễn Văn T1, chị Nguyễn Thị T2, anh
Nguyễn Văn D1, chị Nguyễn Thị T3, chị Nguyễn Thị T4 được quyền sử dụng 96,6m
2
có ký hiệu là (S2) tại thửa đất số 28, tờ bản đồ địa chính số 303592-8 - (11) tại tổ C,
phường K thành phố Hải Phòng sở hữu các tài sản gắn liền với diện tích đất, vị
trí, kích thước diện tích đất (có đồ kèm theo) được quyền sử dụng ngõ đi chung.
Ông Nguyễn Văn B, anh Nguyễn Văn T1, chị Nguyễn Thị T2, anh Nguyễn
Văn D1, chị Nguyễn Thị T3, chị Nguyễn Thị T4 nghĩa vụ thanh toán cho ông
Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị N2 số tiền 58.671.000đ (năm mươi tám triệu, sáu
trăm bẩy mốt nghìn) đồng.
- Giao cho chị Nguyễn Thị H1, chị Nguyễn Thị H2, chị Nguyễn Thị P được
quyền sử dụng 96,6m
2
đất có ký hiệu là (S3) tại thửa đất số 28, tờ bản đồ địa chính
số 303592-8 - (11) tại tổ C, phường K thành phố Hải Phòng sở hữu các tài sản
gắn liền với diện tích đất, vị trí, kích thước diện tích đất (có đkèm theo) được
quyền sử dụng ngõ đi chung.
Chị Nguyễn Thị H1, chị Nguyễn Thị H2, chị Nguyễn Thị P phải có nghĩa vụ
thanh toán cho ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị N2 số tiền 57.511.000đ (năm
mươi bẩy triệu, năm trăm mười một nghìn) đồng, tương ứng với 24,8m
2
diện tích
nhà trọ.
- Giao cho ông Nguyễn Văn H được quyền sử dụng diện tích 124,8m
2
đất có
hiệu (S4) tại thửa đất số 28, tờ bản đồ địa chính số 303592-8 - (11) tại tổ C,
phường K thành phố Hải Phòng sở hữu các tài sản gắn liền với diện tích đất, vị
trí, kích thước diện tích đất (có đồ kèm theo) được quyền sử dụng ngõ đi chung.
Ông Nguyễn Văn H phải nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Văn D
Nguyễn Thị N2 số tiền 91.833.000đ (chín mươi mốt triệu, tám trăm ba mươi ba
nghìn) đồng.
- Giao cho Nguyễn Thị N được quyền sử dụng diện tích 124,8m
2
đất có ký
hiệu (S5) tại thửa đất số 28, tờ bản đồ địa chính số 303592-8 - (11) tại tổ C, phường
K thành phố Hải Phòng sở hữu các tài sản gắn liền với diện tích đất, vị trí, kích
thước diện tích đất (có sơ đồ kèm theo) và được quyền sử dụng ngõ đi chung.
2. Các đương sđược quyền sử dụng chung ngõ đi diện ch 115,5 m
2
(trong đó 72,5m
2
đất tại thửa đất số 28, tờ bản đồ địa chính số 303592-8 - (11) tại
tổ C, phường K thành phố Hải Phòng 43,0m
2
tại thửa đất số 20, tờ bản đđịa
chính s303592-8 - (11) tổ C, phường K, thành phố Hải Phòng do đổi đất), vị trí,
kích thước diện tích đất (có đồ kèm theo) và phải tự tháo dỡ các vật, kiến trúc
khác trên phần diện tích làm ngõ đi chung.
Ngoài ra bản án tuyên về chi phí tố tụng, án phí, lãi suất chậm trả, quyền
kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của đương sự.
Ngày 19/11/2025 bđơn ông Nguyễn Văn D, kháng cáo toàn bộ bản án với
nội dung: Các đồng thừa kế đã tài sản riêng nên phải dành một phần tài sản chung
vào việc làm nơi thờ cúng tổ tiên, bố mẹ. Đnghị tính lại phần công sức của ông
trong việc chăm sóc, lo ma chay cho bố mvà cho ông L, đề nghị xem xét lại vgiá
với khu nhà trọ do ông xây dựng.
Ngày 20/11/2025 nguyên đơn bà Nguyễn Thị N nộp đơn kháng cáo một phần
bản án sơ thẩm. N đề nghị sửa Bản án thẩm theo hướng chia đều di sản thửa
kế của cụ C3, cụ V, ông L bằng hiện vật những người được hưởng thừa kế nhận kỷ
phần thừa kế bằng nhau, không tính công sức chăm sóc cho ông D. Buộc ông D phải
tháo dỡ khu nhà trọ trên phần di sản thừa kế.
Tại phiên tòa phúc thẩm: N, ông D những người bảo vệ quyền lợi
ích hợp pháp, người đại diện theo ủy quyền vẫn giữ nguyên toàn bộ yêu cầu kháng
cáo và đề nghị HĐXX miễn án phí dân sự phúc thẩm (nếu có).
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến: Về
việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền
nghĩa vụ của mình theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị
HĐXX không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số
28/2025/DS-ST ngày 11/11/2025 của a án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng. Về
án phí: Bà N, ông D là người cao tuổi nên được miễn án phí phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được xem xét
tại phiên tòa. Ý kiến của các đương sự, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
thành phố Hải Phòng đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đương sự kháng cáo trong thời hạn quy định nên được xem
xét giải quyết theo trình tphúc thẩm; Tại phiên tòa một số người quyền lợi nghĩa
vụ liên quan đã được toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ
Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N, HĐXX xét thấy: Về tài
sản của cụ C3, cụ V được cấp thẩm chia làm 06 phần cho những người trong hàng
thừa kế thứ nhất của các cụ. Trong đó có những người con đã chết trước khi vụ án
được xét xnên phần tài sản của họ đã được giao cho người thừa kế của họ. Đối với
phần di sản của ông Nguyễn Văn L, đã được chia cho 03 người thuộc hàng thừa kế
thứ hai của ông L (do ông L, không vợ, con bố mẹ đều đã chết trước đó) anh
chị, em ruột đang còn sống. Tất cả những người được thuộc diện được hưởng di sản
thừa kế đều được chia bằng hiện vật. Tuy nhiên xét về việc sử dụng thực tế, công
sức đóng góp trong việc quản lý, duy trì di sản nên Toà án đã quyết định trích một
phần tài sản bằng hiện vật cho ông D là phù hợp quy định tại Điều 618 của Bộ luật
Dân sự. Trong quá trình quản lý, sử dụng ông D cũng đã xây dựng một số công trình
là nhà kiên cố, Toà án cấp sơ thẩm đã chia di sản thừa kế cho các đương sự bằng
hiện vật nhưng đã cân nhắc vviệc đảm bảo việc sử dụng đất ổn định, vị trí, đặc
điểm của thửa đất tạo điều kiện thuận lợi cho các đương sự trong việc sử dụng
đất, đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau này. Bên nhận
phần tài sản bằng hiện vật nhiều hơn sẽ phải thanh toán cho bên nhận di sản ít hơn
được tính bằng tiền. Việc chia di sản thừa kế như trên là đúng quy định tại các Điều
649, 650, 651, 660 của Bộ luật Dân sự. Đối với yêu cầu kháng cáo về việc buộc ông
D phải phá dỡ khu nhà trọ để trả diện tích đất mặt bằng cho các đương sự, HĐXX
xét thấy, khu nhà trọ trên do ông Nguyễn Văn D xây dựng trên thửa đất ông
đang quản lý, sdụng, ông D con đẻ của cụ C3 cụ V sinh sống cùng hai cụ trên
phần di sản nói trên nên khi di sản thừa kế chưa được chia quan nhà nước chưa
giao cho ai, thì ông D quyền xây dựng trên đất. Hiện nay tài sản là khu nhà trọ
vẫn đang có giá trị sử dụng và được chia cho những người thừa kế, nên phần di sản
của người nào được nhận có diện tích nhà trọ thì phải thanh toán giá trị tài sản bằng
tiền cho ông D. Do vậy, yêu cầu kháng cáo của bà N không có căn cứ chấp nhận.
[3] Đối với yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn D, HĐXX xét thấy: Theo
điều 645 Bộ luật Dân sự thì trường hợp di sản dùng vào việc thờ cúng chỉ phát sinh
trong trường hợp người để lại di sản có di chúc, ngoài ra các đương sự cũng có thể
thoả thuận, thống nhất trích một phần di sản được hưởng làm nơi thờ cúng. Trong
vụ án này cụ C3 cụ V, ông L chết đều không để lại di chúc các đương sự trong
vụ án là người được hưởng di sản thừa kế không thoả thuận được về việc trích một
phần di sản làm nơi thờ cúng nên không căn cứ để chấp nhận yêu cầu trên. Về
việc đnghị tính toán lại phần ng sức của ông trong việc chăm sóc cụ C3, cụ V và
ông L và lo ma chay, thờ cúng. Toà án cấp sơ thẩm đã xác định ông D có công sức
duy trì, tôn tạo thửa đất trích cho ông một phần di sản thừa kế tương đương với
01 suất thừa kế bằng hiện vật là căn cứ. Đối với yêu cầu đề nghị xem xét lại về
giá với khu nhà trọ do ông xây dựng. Toà án cấp sơ thẩm đã quyết định phần giá trị
tài sản của khu trọ do ông xây dựng căn cứ vào kết quả định giá do Hội đồng định
giá trong tố tụng dân sự xác định, trong quá trình chuẩn bị xét xử ông không ý
kiến hay khiếu nại về kết quả định giá. Trong qtrình chuẩn bị xét xử phúc thẩm
ông D cũng không yêu cầu về định giá lại tài sản nên HĐXX không chấp nhận
yêu cầu kháng cáo này của ông.
[4] Tại cấp phúc thẩm các đương sự không cung cấp thêm chứng cứ, tài liệu
mới để chứng minh yêu cầu kháng cáo căn cứ. HĐXX không căn cứ chấp
nhận toàn bộ kháng cáo của các đương sự. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố
tụng dân sự, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 28/2025/DS-ST ngày 11/11/2025
của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng.
[5] Về án phí phúc thẩm: Các đương sự kháng cáo không được chấp nhận t
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Do Nguyễn Thị N ông Nguyễn Văn D
người cao tuổi và đề nghị miễn án phí, do vậy HĐXX miễn án phí dân sự phúc thẩm
đối với ông D, bà N.
[6] Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ nội dung kháng cáo của Nguyễn Thị N, ông
Nguyễn Văn D.
2. Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 28/2025/DS-ST ngày 11 tháng 11
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng về việc Tranh chấp vthừa
kế tài sản.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn D được
miễn án phí dân sự phúc thẩm.
4. Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND TP Hải Phòng;
- Phòng GĐ,KT,TT&THA
TAND TP Hải Phòng;
- TAND khu vực 5 - Hải Phòng;
- Phòng THADS khu vực 5 - Hải Phòng;
- Các đương sự (để thi hành);
- Lưu: Hồ sơ, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Minh Tân
Tải về
Bản án số 115/2026/DS-PT Bản án số 115/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 115/2026/DS-PT Bản án số 115/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất