Bản án số 230/2026/DS-PT ngày 27/03/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 230/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 230/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 230/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 230/2026/DS-PT ngày 27/03/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Cần Thơ |
| Số hiệu: | 230/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 27/03/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 230/2026/DS-PT
Ngày: 27- 3 -2026
V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Bà Mạc Thị Chiên.
Bà Lê Thị Thọ
Bà Đào Thị Thủy
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Tuấn – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Ông Bùi Trung
Nam - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 20, 27 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành
phố Cần Thơ, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:
410/2025/TLPT-DS ngày 14 tháng 11 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 25/2025/DS-ST ngày 24/6/2025 của Tòa án
nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng (nay là Toà án nhân dân khu vực 9 –
Cần Thơ) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 898/2025/QĐ-PT ngày
03 tháng 12 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số: 487/2025/QĐ-PT ngày
25/12/2025; Quyết định tạm ngừng phiên toà số: 02/2026/QĐ-PT ngày
27/01/2026 và Thông báo mở lại phiên toà số: 03/TB-TA ngày 13/3/2026, giữa
các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Lý H, sinh năm 1969 (Có mặt).
2. Bà Tè Thị Thu T, sinh năm 1980 (Có mặt).
Cùng địa chỉ: số nhà C, ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã T,
thành phố Cần Thơ).
- Bị đơn:
1. Ông Lý K, sinh năm 1943 (Vắng mặt).
2
2. Bà Triệu Thị S, sinh năm 1950 (Có mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã T, thành phố
Cần Thơ).
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Lý Thị Sà P, sinh ngày
05/10/1977. Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã T, thành
phố Cần Thơ) (Theo văn bản ủy quyền ngày 18/6/2025) (Có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Phạm Xuân
T1 - Văn phòng L sự tỉnh Tây Ninh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Lý S1, sinh năm 1948 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (nay là phường M, thành
phố Cần Thơ).
2. Bà Lý Thị S2, sinh năm 1963 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Đ, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã L, thành phố Cần
Thơ).
3. Ông Lý M, sinh năm 1975 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp L, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã L, thành phố Cần
Thơ).
4. Ông Lý K1, sinh năm 1977 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã T, thành phố Cần
Thơ).
5. Bà Lý Thị V, sinh năm 1971 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã T, thành phố Cần
Thơ).
6. Ông Lý V1, sinh năm 1950 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã T, thành phố Cần
Thơ).
7. Bà Lý Thị Sả P1, sinh năm 1963 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã T, thành phố Cần
Thơ).
8. Ông Lý B, sinh năm 1966 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã T, thành phố Cần
Thơ).
9. Ông Lý V2, sinh năm 1955 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (nay là phường M,
thành phố Cần Thơ).
Người đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan: Ông Lý H, sinh ngày 01/01/1969 và bà Tè Thị Thu T, sinh ngày
01/01/1980. Cùng địa: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (Theo văn bản ủy
quyền ngày 13/9/2024) (Có mặt).
10. Ngân hàng TMCP Đ
Đại diên theo ủy quyền: Ông Nguyễn Công T2 – Chức vụ Chuyên viên
phòng khách hàng doanh nghiệp B1- Chi nhánh T6. (có mặt)
11. Bà Thái Thị P2
Cùng trú tại: E. Đường số F, khu dân cư E, phường C, thành phố Cần Thơ.
3
Người đại diện theo ủy quyền của bà Thái Thị P2: Bà Nguyễn Ánh D, địa
chỉ số A, đương N, phường N, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 26/7/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết
án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:
Nguyên vào năm 2003 vợ chồng ông Lý H, bà Tè Thị Thu T có nhận
chuyển nhượng phần đất 6.500m², thửa đất số 193, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc ấp
T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng của vợ chồng ông Lý K, bà Triệu Thị S với giá
chuyển nhượng 45 chỉ vàng 24k (01 công là 9 chỉ vàng 24k), Việc chuyển
nhượng có lập tờ cam kết bán đất ruộng ngày 20/8/2003 có xác nhận của ban N,
ông Lâm T3 và xác nhận của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, ông Trần Văn T4.
Sau khi nhận chuyển nhượng vợ chồng ông H, bà T đã giao đủ 45 chỉ vàng
24k cho vợ chồng ông Lý K, bà Triệu Thị S và đã nhận đất canh tác ổn định đến
nay không ai tranh chấp.
Sau khi nhận chuyển nhượng vợ chồng ông H, bà T có yêu cầu vợ chồng
ông Lý K, bà Triệu Thị S tách Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần đất
6.500m², thửa đất số 193, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc
Trăng nhưng vợ chồng ông Lý K, Triệu Thị S cứ hứa hẹn cho qua lề, nay vợ
chồng ông Lý K, bà Triệu Thị S cố tình lật lộng không đồng ý tách giấy và cho
rằng không có việc chuyển nhượng. Sự việc phát sinh tranh chấp, ban N mời hai
bên hoà giải nhưng vợ chồng ông Lý K, bà Triệu Thị S cố tình vắng mặt không
tham gia.
Nay vợ chồng ông Lý H, bà Tè Thị Thu T yêu cầu Tòa án giải quyết như
sau:
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày
20/8/2003 phần đất diện tích 6.500m², thửa đất số 193, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc
ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng giữa vợ chồng ông Lý H, bà Tè Thị Thu T
với vợ chồng ông Lý K, bà Triệu Thị S là hợp pháp.
Tại biên bản hòa giải ngày 16/8/2024, các lời khai trong quá trình giải
quyết án, các bị đơn trình bày:
Vợ chồng ông Lý K, bà Triệu Thị S thừa nhận có chuyển nhượng phần đất
6.500m², thửa đất số 193, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc
Trăng cho vợ chồng ông Lý S3, bà Lý Thị S4 (cha mẹ ông Lý H). Không thừa
nhận có hợp đồng chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông Lý H, bà Tè Thị Thu T.
4
Vợ chồng ông K, bà S chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông Lý S3 phần
đất 6.500m², thửa đất số 193, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh
Sóc Trăng, hai bên có làm giấy tờ nhưng giao cho bên ông Lý S3 cất giữ. Phần
đất bên gia đình ông Lý S3 canh tác từ năm 2003 đến nay.
Vợ chồng ông K, bà S muốn làm sáng tỏ là tại sao người nhận chuyển
nhượng cho ông Lý S3 mà ông Lý H lại cho rằng vợ chồng ông chuyển nhượng.
Tờ cam kết bán đất ruộng ngày 20/8/2003 do phía ông Lý H cung cấp là tờ
giấy làm giả. Tờ thỏa thuận chuyển nhượng giữa bà S với ông Lý S3 chỉ có dấu
lăn tay. Bà S yêu cầu phía ông Lý H đưa ra tờ giấy gốc có dấu lăn tay của bà S.
Nay vợ chồng ông K, bà S yêu cầu đưa tờ giấy gốc chuyển nhượng giữa bà
S với ông Lý S3 thì vợ chồng ông K, bà S mới đồng ý cho làm thủ tục sang tên.
Tại bản tường trình ngày 20/8/2024, những người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan: Lý Sang, Lý Thị S2, L, L, Lý Thị V, Lý V1, Lý Thị Sả P1, Lý B, Lý V2
cùng trình bày:
Phần đất 6.500m², thửa đất số 193, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc ấp T, xã T,
huyện T, tỉnh Sóc Trăng do vợ chồng ông Lý S3, bà Lý Thị S4 (cha mẹ) trực tiếp
thỏa thuận chuyển nhượng với vợ chồng ông Lý K, bà Triệu Thị S nhưng khi lập
tờ cam kết bán đất ruộng thì cha mẹ tặng cho lại vợ chồng ông Lý H, bà Tè Thị
Thu T nên để ông H, bà T đứng tên nhận chuyển nhượng trên tờ cam kết bán đất
ruộng ngày 20/8/2003. Việc tặng cho đất các anh, em trong gia đình đều thống
nhất và không có tranh chấp gì về phần đất này.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 25/2025/DS-ST ngày 24/6/2025 của Tòa án
nhân huyện Trần Đề (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9) – Cần Thơ. Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
2. Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập 20/8/2003
giữa vợ chồng ông Lý H, bà Tè Thị Thu T với vợ chồng ông Lý K, bà Triệu Thị S
là hợp pháp.
3. Vợ chồng ông Lý H, bà Tè Thị Thu T được quyền sử dụng hợp pháp một
phần của thửa số 193, tờ bản đồ số 04, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc
Trăng, phần đất có vị trí, số đo như sau:
Hướng Đông giáp giáp kênh thủy lợi có số đo: 51,26m; Hướng Tây giáp
phần còn lại của thửa 193 có số đo 52,08m; Hướng Nam giáp phần còn lại của
thửa 193 có số đo: 6,45m + 0,73m + 53,14m + 29,70m + 30,45m; Hướng Bắc
giáp thửa 191 có số đo: 10,15m + 47,22m + 16,08m + 12,80m + 11,07m +
17,73m + 33,65m + 0,55m + 6,09m. Tổng diện tích: 6.500,0m
2
. Đất trồng lúa.
5
(Kèm theo sơ đồ đo vẽ).
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, vợ chồng ông Lý H, bà Tè Thị Thu
T có nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để được xem xét cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất theo quy định chung của pháp luật về đất đai.
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các
đương sự.
Ngày 04/7/2025, bị đơn ông Lý K và bà Triệu Thị S kháng cáo toàn bộ bản
án sơ thẩm, với các nội dung: Không thừa nhận có việc chuyển nhượng quyền sử
dụng đất cho vợ chồng ông Lý H, bà Tè Thị Thu T; cho rằng “Tờ cam kết bán đất
ruộng ngày 20/8/2003” là giả mạo; Cho rằng bản chất giao dịch là cố đất, không
phải chuyển nhượng; Yêu cầu không công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất.
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự trình bày:
Đại diện theo ủy quyền cuả bị đơn nhờ luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp cho mình trình bày ý kiến như sau: Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng
cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm, không đồng ý việc
công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất với nguyên đơn, bị đơn không sang
nhượng đất cho nguyên đơn. Trong tờ cam kết thời điểm ký và thời gian ký khác
nhau nên bị đơn không đồng ý. Khi giải quyết ở cấp sơ thẩm, bị đơn cũng trình
bày phần đất đã chuyển nhượng cho người khác và thế chấp ngân hàng nhưng vẫn
không được tòa cấp sơ thẩm ghi nhận và mời những người này tham gia tố tụng.
Mặt khác, trong tờ sang nhượng ông Lý K không thừa nhận chữ ký của mình
nhưng cấp sơ thẩm không tiến hành giám định chữ ký của ông Lý K là vi phạm
về đánh giá chứng cứ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm.
Nguyên đơn xác định ông lý K có ký tờ cam kết chuyển nhượng đất, sau khi
ký xong Lý K là người đi nhờ trưởng ấp ký giùm rồi mới lên xã xác nhận. Chúng
tôi là người dân chỉ biết là có chính quyền xác nhận là đã đảm bảo nên yêu cầu
công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất. Phần đất này nguyên đơn đã sử dụng ổn
định từ năm 2001 cho đến nay. Việc bị đơn nói có khai phần đất đã chuyển
nhượng và thế chấp tại ngân hàng là không đúng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP Đ trình bày: Đối
với phần đất mà nguyên đơn đang tranh chấp với bị đơn là phần đất nằm trong
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Lý K đã được ông Lý K ký bảo đảm
6
cho khoản vay 10.000.000.000đồng của ông Trần Quốc T5 tại Ngân hàng TMCP
Đ. Ngân hàng cũng đã ký kết với ông Lý K Hợp đồng thế chấp sau:
Hợp đồng thế chấp bất động sản số: 0022/2013/HĐ ký ngày 28/01/2013.
Bên thế chấp: Hộ ông Lý K - vợ là bà Triệu Thị S; Bên vay: ông Trần Quốc T5;
tài sản thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 868182 (vào sổ cấp
giấy chứng nhận số: 00085) do Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng (cũ)
cấp ngày 05/02/1996, đối với các thửa đất số: 101, 193, 194, 195, tờ bản đồ số:
04, diện tích: 31.460 m
2
, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (cũ),
gồm loại đất T + LNK + Mùa.
Hiện tại khoản vay đã quá hạn, Ngân hàng đang phối hợp với bên vay, bên
bảo đảm yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Tính đến ngày
09/02/2026, bên vay còn nợ Ngân hàng số tiền là: 23.211.020.361 đồng, cụ thể: -
Nợ gốc : 5.853.720.200 đồng; - Lãi trong hạn : 12.637.363.057 đồng; - Lãi trong
hạn : 4.719.937.104 đồng. Trường hợp bên vay, bên bảo đảm không trả nợ, trả
không tất nợ đề nghị Quý Tòa xét xử và tuyên giao tài sản thế chấp nêu trên cho
Ngân hàng để xử lý thu hồi nợ, vì đây là tài sản thế chấp hợp pháp để bảo đảm
cho khoản vay tại Ngân hàng. Đối với việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất” với nguyên đơn Lý H, Tè Thị Thu T với bị đơn Lý K, Triệu
Thị S”, Ngân hàng có ý kiến như sau:
- Tài sản tranh chấp trên đã được thế chấp hợp pháp tại Ngân hàng, nhưng
xét xử cấp sơ thẩm không đưa Ngân hàng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của ngân hàng. Do đó, đề
nghị Tòa cấp phúc thẩm hủy Bản án sơ thẩm số: 25/2025/DS-ST ngày
24/06/2025.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Thái Thí P3 trình bày: Phần đất các
đương sự đang tranh chấp thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Lý
K. Tuy nhiên, ông Lý K đã làm thủ tục chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất cho
vợ chồng bà từ năm 2012, đã ký hợp đồng đi công chứng, vợ chồng bà đã thanh
toán tiền cho bị đơn đầy đủ. Do đó, bị đơn đã ký thế chấp phần đất để bảo đảm
cho vợ chồng bà vay tiền tại ngân hàng. Khi Tòa án nhân dân khu vực 9 giải
quyết công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Lý H với ông Lý K bà hoàn
toàn không biết, không được đưa vào tham gia tố tụng. Việc thiếu sót của Tòa án
cấp sơ thẩm làm ảnh hưởng lớn đến quyền lợi ích hợp pháp của bà P3. Do đó, đề
nghị Hội đồng xét xử xem xét hủy bản án sơ thẩm đưa vụ kiện về giải quyết sơ
7
thẩm lại từ đầu để bà P3 được tham gia tố tụng nhằm bảo vệ quyền lợi ích hợp
pháp cho mình.
Luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn phát biểu quan điểm: Đối
với vụ kiện tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lý
H với ông Lý K được cấp sơ thẩm thụ lý và giải quyết chưa đảm bảo đúng quy
định của pháp luật. Cụ thể vi phạm những nội dung sau: Thứ nhất, phần đất tranh
chấp đã được bị đơn thế chấp để bảo đảm cho khoản vay của ông Trần Quốc T5
tại Ngân hàng Đ chi nhánh T6 nhưng chưa được cấp sơ thẩm làm rõ và mời ngân
hàng vào tham gia tố tụng. Thứ hai, phần đất do ông Lý K đứng tên đại diện hộ
mà gia đình ông Lý K có 6 thành viên trong hộ nhưng không được mời tham gia
tố tụng là cũng không đảm bảo quyền lợi cho các thành viên hộ của gia đình ông
Lý K. Thứ ba, Phần đất tranh chấp đã được gia đình ông Lý K chuyển nhượng
cho bà Thái Thị P2 và ông Trần Quốc T5, hợp đồng chuyển nhượng đã được lập
vào năm 2012 nhưng cấp sơ thẩm cũng không triệu tập bà P2 tham gia tố tụng.
Ngoài ra, cấp sơ thẩm không cho tiến hành thu thập chứng cứ đối với tờ cam kết
sang nhượng đất là chưa thu thập chứng cứ đầy đủ vì ông Lý K không thừa nhận
ký tên trong văn bản này.
Với những sai xót như đã phân tích ở trên nên đề nghị hội đồng xét xử hủy
bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về cấp sơ thẩm xét xử lại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu quan điểm:
Về tố tụng, từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử,
Thư ký, đương sự đã tiến hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét thấy vụ án có nhiều người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến
vụ án nhưng không được cấp sơ thẩm đưa vào tham gia tố tụng, vi phạm nghiêm
trọng thủ tục tố tụng, dẫn đến giải quyết sai nội dung làm ảnh hưởng đến quyền
lợi ích hợp pháp của Ngân hàng; của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà
P2. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, áp
dụng khoản 3, Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố
Cần Thơ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
8
[1.1] Đơn kháng cáo của bị đơn được nộp trong thời hạn luật định, đúng chủ
thể, đúng hình thức, nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm quy định tại các
Điều 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn cung cấp chứng cứ chứng minh phần
đất các bên đang tranh chấp đang được thế chấp tại Ngân hàng TMCP Đ chi
nhánh T6. Đại diện Ngân hàng có đơn yêu cầu độc lập và xác định bên bị đơn đã
thế chấp toàn bộ diện tích đất cho ngân hàng để bảo đảm cho khoản vay của ông
Trần Quốc T5.
[1.3] Ngoài ra, tại cấp phúc thẩm phát sinh thêm người liên quan là bà Thái
Thị P2 là vợ của ông Trần Quốc T5 cùng ông Trần Quốc T5 và vợ chồng ông Lý
K, bà Triệu Thị S đã ký hợp đồng chuyển nhượng đất vào ngày 11 tháng 9 năm
2012 toàn bộ phần đất của hộ ông Lý K, hợp đồng đã được công chứng hợp pháp.
Do chưa chuyển nhượng sang tên, nên ông Lý K làm thủ tục thế chấp để bảo đảm
cho khoản vay của ông Trần Quốc T5.
[1.4] Toàn bộ những người này ở cấp sơ thẩm chưa được tham gia tố tụng
với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Do đó, tại cấp phúc thẩm
chấp nhận cho họ tham gia và trình bày ý kiến để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp
cho mình là đúng quy định của pháp luật.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn: Bị đơn không thừa nhận có việc
chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Lý H, bà Tè Thị Thu T; tờ
giao kèo chuyển nhượng đất là giả mạo và kháng cáo về hình thức và hiệu lực
hợp đồng chuyển nhượng.
[2.1] Đây là nội dung liên quan đến tài sản thế chấp, hợp đồng chuyển
nhượng và liên quan đến nhiều người chưa được làm rõ và giải quyết ở cấp sơ
thẩm. Do đó, tại cấp phúc thẩm chưa xem xét các nội dung khác có liên quan đến
phần đất nên chưa giải quyết liên quan đến Tờ cam kết, chưa giải quyết đến việc
có chuyển nhượng hay cố đất giữa các bên mà xem xét đến việc liên quan đến
những người chuyển nhượng đất, ngân hàng cho thế chấp quyền sử dụng đất
nhằm đảm bảo vụ án được giải quyết đúng quy định của pháp luật.
[2.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn xác định đã trình bày phần đất tranh
chấp bị đơn đã chuyển nhượng cho người khác và thế chấp tại ngân hàng nhưng
không được cấp sơ thẩm chấp nhận mời ngân hàng và người chuyển nhượng đất
vào tham gia tố tụng, cấp sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng.
9
[2.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, phía đại diện ngân hàng TMCP Đ cung cấp
hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản liên quan đến toàn bộ phần đất
mà ông Lý K đang đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các
thửa đất số 101-193-194-195 tờ bản đồ số 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số E868182 vào số cấp GCN 00085 do Ủy ban nhân dân huyện M cũ cấp ngày
15/02/1996.
[2.4] Căn cứ theo hồ sơ ngân hàng cung cấp thì khoản nợ vay ngân hàng do
ông Trần Quốc T5 vay và được ông Lý K ký thế chấp bảo đảm tài sản. Số tiền
vay cộng chung cả nợ gốc và lãi hiện còn là 23.211.020.361 đồng, bên vay chưa
thanh toán cho ngân hàng. Đại diện ngân hàng cho rằng phần đất đã được bảo
đảm cho khoản vay nên việc cấp sơ thẩm xét xử căn cứ “Tờ cam kết bán đất
ruộng” đối với diện tích khoảng 05 công tầm cấy (6.500m²) để công nhận hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất buộc ông Lý K tách giấy chứng nhận
phần diện tích đất này cho nguyên đơn làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân
hàng. Xét thấy cấp sơ thẩm không đưa ngân hàng vào tham gia tố tụng với tư
cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong khi phần đất đang tranh chấp đã
được thế chấp tại ngân hàng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, làm thiệt
thòi quyền lợi của ngân hàng, tại cấp phúc thẩm không thể khắc phục được.
[2.5] Hơn nữa, phần đất này có bà Thái Thị P2 và ông Trần Quốc T5 cũng
đã ký hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ phần đất của ông Lý K được công chứng
vào ngày 11 tháng 12 năm 2012. Cho nên ông Lý K đã ký bảo đảm cho khoản
vay của ông T5 dựa trên hợp đồng chuyển nhượng. Tuy nhiên, vợ chồng ông T5
và bà P2 cũng không được cấp sơ thẩm đưa vào tham gia tố tụng mà giải quyết vụ
án theo hướng công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất thông qua tờ cam kết bán
đất ruộng giữa ông Lý S3 với cha mẹ ông Lý K là vi phạm tố tụng làm thiệt
quyền lợi ích hợp pháp của các đương sự.
[2.6] Từ những vi phạm thủ tục nêu trên, tại cấp phúc thẩm không thể khắc
phục được nên cần phải hủy bản án sơ thẩm giao hồ sơ về cấp sơ thẩm giải quyết
lại đưa đầy đủ người tham gia tố tụng, đảm bảo giải quyết vụ án một cách triệt để
vụ án, không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự.
[3] Từ những nhận định nêu trên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
[4] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ là có
căn cứ đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
10
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm và các chi phí tố tụng sẽ được xem xét lại ở
cấp sơ thẩm.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Lý K và bà Triệu Thị S là người
cao tuổi nên được miễn nộp án phí.
Bottom of Form
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ theo Khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Hủy Bản án dân sự sơ
thẩm số: 25/2025/DS-ST ngày 24/6/2025 của Tòa án nhân huyện T, tỉnh Sóc
Trăng (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ). Giao hồ sơ về Tòa án nhân
dân khu vực 9 – Cần Thơ xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.
Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: Chưa ai phải chịu.
Về án phí phúc thẩm: Bị đơn được miễn nộp án phí.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày
27/3/2026).
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND thành phố Cần Thơ; THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- TAND khu vực 9 - Cần Thơ;
- THA DS thành phố Cần Thơ; (Đã ký)
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Mạc Thị Chiên
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Mạc Thị Chiên
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 01/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 27/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 26/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 26/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 24/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 24/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 24/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 23/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 23/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 20/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 20/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 18/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 18/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 17/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 16/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 13/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 12/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm