Bản án số 711/2026/DS-PT ngày 10/08/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 711/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 711/2026/DS-PT ngày 10/08/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 711/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơngiữ nguyên bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 711/2026/DS-PT Bản án số 711/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 711/2026/DS-PT Bản án số 711/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Trung
Các Thẩm phán: Bà Ngô Thị Kim Châu
Phạm Thị Thu Trang.
- Thư phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hồng Nhả, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông
Nguyễn Khắc Phiên - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 8 năm 2026, tại trụ sTòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long tiến
hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 435/2026/TLPT-DS, ngày 03 tháng
7 năm 2026 về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 50/2026/DS-ST, ngày 24 tháng 4 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 55/2026/QĐPT-DS, ngày
04 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm1953, CCCD số: ************.
2. Bà Hồ Thị B, sinh năm1948, CCCD số: ************.
Cùng địa chỉ: Số A, Khóm H, phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện hợp pháp của ông T B: Ông Nguyễn Thanh C, sinh
ngày 12/02/1976, địa chỉ: Số A, khóm H, phường N, tỉnh Vĩnh Long (Theo văn bản
ủy quyền ngày 08/01/2025).
- Bị đơn:Thạch Thị Sa P, sinh năm 1950, CCCD số: ************;
Địa chỉ: Khóm A, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
Người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bị đơn: Luật Nguyễn Hoàng V
Công ty L, Đoàn luật sư tỉnh Vĩnh Long.
- Người quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Thạch Thị C1, sinh năm 1967,
CCCD số: ************; Địa chỉ: Khóm A, phường T, tỉnh Vĩnh Long.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số:711/2026/DS-PT
Ngày 10 -8-2026
V/v tranh chp hợp đồng chuyn
nhượng QSD đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
2
Người đại diện hợp pháp của C1: Thạch Thị Sa P, sinh ngày
01/01/1950, CCCD số: ************, địa chỉ: Khóm A, phường T, tỉnh Vĩnh Long
(Theo văn bản ủy quyền ngày 27/02/2026).
- Người kháng cáo:Thạch Thị Sa P là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án,
ông Nguyễn Thanh C là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn Văn
T và bà Hồ Thị B trình bày:
Vào tháng 4/1993, ông Nguyễn Văn T Hồ Thị B thỏa thuận nhận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Thạch Thị Sa P. Theo đó, Sa P cam kết
chuyển nhượng cho ông T và bà B quyền sử dụng một phần thửa đất số 765 và toàn
bộ thửa đất số 766, tọa lạc tại khóm B, phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (nay
Khóm B, phường N, tỉnh Vĩnh Long). Tổng giá trị chuyển nhượng 05 (năm)
lượng vàng 24k và ông Nguyễn Văn T cùng Hồ Thị B đã giao đủ số vàng này cho
Sa P. Tuy nhiên, sau khi nhận đủ số vàng, bà Thạch Thị Sa P cố tình tìm mọi cách
kéo dài để không giao quyền sử dụng đất cho ông T và bà B. Ông T, bà B đã nhiều
lần liên hệ yêu cầu bà P tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật để chuyển
nhượng quyền sử dụng đất nhưng bà P không thực hiện. Nay ông T và bà B yêu cầu
Tòa án giải quyết: Hủy thỏa thuận chuyển nhượng quyền sdụng đất giữa ông T,
B với Thạch Thị Sa P; buộc Thạch Thị Sa P cùng Thạch Thị C1 hoàn trả
lại số tài sản đã nhận là 05 (năm) lượng vàng 24k cho ông T và bà B.
Bị đơn bà Thạch Thị Sa P trình bày:
o ngày 05/4/1993, ông Nguyễn Văn T đến nhà bà để hỏi mua phần đất
của đang tranh chấp với ông Ngô Văn D, hai bên thỏa thuận giá n là 05
(năm) cây vàng một công. Ông T nói đất này đang tranh chấp, nếu bà tự giải quyết
thì không thắng được ông D, nên để ông T lo liệu với điều kiện bà phải bán đất này
cho ông T. Trong thời gian đó, ông T làm nhiều giấy tờ mua bán cùng các loại giấy
tờ khác bắt tên. Ông T đặt cọc cho 0 (năm) cây vàng 24k nhưng trả thành
nhiều lần, đồng thời làm nhiều giấy mua bán và biên nhận vàng. Đến ngày
19/5/1995, Ủy ban nhân dân tỉnh T ban hành Quyết định số 354/QĐ-UBT buộc ông
Ngô Văn D bồi hoàn thành quả lao động cho ông D tiếp tục sử dụng phần đất
tranh chấp. Sau đó nhiều lần đến nhà ông T thì gặp B (vợ ông T), B
tuyên bố "Không mua bán gì nữa hết" cấm bà không được qua nhà nữa. Nay
không đồng ý trả lại 05 (năm) cây vàng 24k cho ông T, bởi đây vàng ông T đặt
cọc nhưng khi biết đất đó thuộc về ông D thì ông T tý bỏ cọc, từ chối thực hiện
hợp đồng mua bán ngày 05/4/1993.
3
Người đại diện hợp pháp của người quyền lợi nghĩa vụ liên quan (bà
Thạch Thị C1) trình bày: Thống nhất với lời trình bày của bị đơn và không bổ sung
gì thêm.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 50/2026/DS-ST, ngày 24 tháng 4 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long đã quyết định:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T,
Hồ Thị B.
Tuyên bố hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bao gồm: tờ
mua bán ngày 01 tháng 01 năm 1993, tờ ủy quyền và cam kết ngày 02 tháng 4 năm
1993 tờ mua bán với sự đồng ý của gia tộc ngày 05 tháng 4 năm 1993 giữa ông
Nguyễn Văn T, bà Hồ Thị B với bà Thạch Thị Sa P. Buộc bà Thạch Thị Sa P hoàn
trả lại số vàng đã nhận 05 (năm) lượng vàng 24k loại vàng 9999 (tương ứng giá
vàng tại thời điểm xét xử thẩm ngày 24 tháng 4 năm 2026 169.700.000
đồng/lượng) cho ông Nguyễn Văn THồ Thị B.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 05/5/2026, Thạch Thị Sa P đơn kháng cáo toàn bộ bản án thẩm,
yêu cầu không đồng ý trả cho ông T, bà B 05 lượng vàng 24k loại 9999.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện; bị đơn không
rút đơn kháng cáo. Các đương sự không cung cấp thêm chứng cứ mới và không thỏa
thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Ý kiến của Luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Đề nghị Hội
đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa bản án thẩm theo hướng bác
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bởi lẽ, svàng 05 lượng Sa P đã nhận
thực chất là tiền đặt cọc để đảm bảo giao kết hợp đồng, nguyên đơn (thông qua lời
nói của bà B) đã tý tuyên bố không mua bán nữa, tức nguyên đơn đã tchối tiếp
tục thực hiện hợp đồng. Theo quy định của pháp luật, bên đặt cọc từ chối giao kết,
thực hiện hợp đồng thì mất tài sản đặt cọc. Mặt khác ông T kêu S thuê người
trên đất để được giải quyết trả lại đất và thuê S chăn nuôi dê nên số vàng đã hết.
Sa P nhận vàng giá chỉ 350.000 đ một chỉ nay giá vàng tăng cao Tòa án cấp
sơ thẩm không tính chênh lệch giá trừ ra để bà Sa P trả cho ông T là không đúng.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long:
- Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên
tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và các đương sự đã tuân
thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ
vụ án cho thấy, cả 03 giấy thỏa thuận mua bán lập năm 1993 giữa các bên đều không
có nội dung nào thể hiện số vàng 05 lượng là tài sản đặt cọc. Đặc biệt, tại "Tờ tường
4
trình và giao ước" lập ngày 07/12/1995 sự xác nhận của chính quyền địa phương,
bà Sa P đã thừa nhận số vàng 05 cây bà nhận là tiền chuyển nhượng đất và cam kết
trách nhiệm trả lại số vàng này sau này do giao dịch không thành. Việc Tòa án
cấp sơ thẩm tuyên bố hợp đồng vô hiệu, buộc bà Sa P trả lại 05 lượng vàng 24k (50
chỉ) là hoàn toàn căn cứ, đúng pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng
khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo
của bà Sa P, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án, lời trình bày tranh
luận của các đương sự, cùng ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa; Hội đồng
xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo củaThạch Thị Sa P được làm đúng
hình thức và còn trong thời hạn luật định nên hợp lệ, Tòa án chấp nhận xem xét theo
trình tự phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo của Thạch Thị Sa P vviệc không đồng ý tr
cho ông Nguyễn Văn T và Hồ Thị B 50 chỉ vàng 24k: Ngày 01/01/1993, Thạch
Thị Sa Pông Nguyễn Văn T lập tờ giấy tay mua bán đất. Trong đó thể hiện
Sa P được cha em y quyền cho định đoạt thửa đất 766 diện tích 6.100 m
2
; hai
bên thỏa thuận chuyển nhượng với giá 3 cây 7 chỉ vàng 24k. Tiếp đó, ngày
02/4/1993, Thạch Thị Sa P làm tờ ủy quyền cam kết với nội dung: Do gia đình
Sa P đang tranh chấp thửa đất 766 với ông Ngô Văn D, phần diện tích 2.100 m
2
thửa cặp theo thửa số 765 sẽ được chuyển nhượng cho ông T, B với số vàng 1
lượng 3 chỉ. Đến ngày 05/4/1993, Sa P tiếp tục làm giấy bán đứt thửa đất 766 cho
ông T, bà B với số vàng 05 cây. Qua ba lần lập giấy tờ, thực tế ông T, bà B đã giao
cho Sa P 50 chvàng 24k (05 lượng). Đến năm 2011, Ủy ban nhân dân tỉnh T giải
quyết xong việc tranh chấp quyền sdụng đất giữa Sa P với ông D, tuy nhiên các
bên không thể tiếp tục thực hiện thủ tục chuyển nhượng đất cho nhau. Nay ông T,
B yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng yêu cầu Sa P trả lại số vàng đã
nhận; trong khiSa P cho rằng 50 chỉ vàng là vàng đặt cọc, việc giao dịch không
thực hiện là do ông T, bà B không mua nữa nên bà không đồng ý trả lại.
[3] Xét thấy, ba giấy thỏa thuận mua bán lập năm 1993 giữa các bên đều
thỏa thuận mua bán đất đai (thực hiện nghĩa vụ thanh toán), không bất kỳ nội
dung hay điều khoản nào ghi nhận đây hợp đồng đặt cọc để bảo đảm giao kết hợp
đồng. Do đó, quan điểm của phía bị đơn và Luật bảo vquyền lợi cho bị đơn cho
rằng nguyên đơn phải chịu chế tài mất cọc là không có cơ sở pháp lý. Hơn thế nữa,
tại "Tờ tường trình và giao ước" do Thạch Thị Sa P lập ngày 07/12/1995, bà Sa
P đã trình bày: Do Ủy ban nhân dân tỉnh T giải quyết việc tranh chấp đất giữa bà với
5
ông D chưa thỏa đáng và bà còn đang khiếu nại, nên bà làm tờ tường trình nhờ các
ban ngành xác nhận hủy btờ mua bán ký ngày 7/11/1994 với ông T. Tại chính văn
bản này, Sa P cam kết số vàng 05 cây nhận thì trách nhiệm trả lại sau
này. Tờ tường trình và giao ước này đã được Ban N xác nhận và bà Sa P cũng thừa
nhận chữ của mình trong tờ tường trình. Việc các hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất lập bằng giấy viết tay vi phạm vhình thức, nội dung, không thể thực
hiện được do đất có tranh chấp dẫn đến bị vô hiệu, hủy bỏ thì các bên phải hoàn trả
cho nhau những gì đã nhận. Tòa án cấp sơ thẩm xử buộc Sa P trả lại cho ông T,
B 50 chỉ vàng 24k (loại vàng 9999, tính theo giá trị tương đương tại thời điểm xét
xử thẩm) đúng quy định của pháp luật, phù hợp với chứng cứ "Tờ tường
trình giao ước" của Sa P lập ngày 07/12/1995. Do vậy, không sở để chấp
nhận yêu cầu kháng cáo của bà Sa P.
[4] Ý kiến của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn không
căn cứ để chấp nhận.
Ý kiến của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tại phiên
tòa là có căn cứ pháp luật, hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ trong hvụ án
cũng như nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án pphúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, lẽ ra bà Thạch
Thị Sa P phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, xét thấy bà Thạch Thị Sa P
sinh năm 1950, người cao tuổi đơn xin miễn án phí, Hội đồng xét xử chấp
nhận miễn án phí phúc thẩm cho bà Sa P.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 129, Điều 500, Điều 502 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 26, Điều 236, Điều 237 Luật Đất đai năm 2024;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Thạch Thị Sa P.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 50/2026/DS-ST, ngày 24 tháng 4 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long.
Tuyên xử:
Tuyên bố các thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn
Văn T, bà Hồ Thị B và bà Thạch Thị Sa P vô hiệu.
Buộc Thạch Thị Sa P trách nhiệm hoàn trả cho ông Nguyễn Văn T
Hồ Thị B 50 (năm mươi) chỉ vàng 24k loại 9999.
6
Về án phí phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Thạch Thị Sa P.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b
Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định
tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Vĩnh Long;
- TAND khu vực 10 –Vĩnh Long;
- Phòng THADS khu vực 10-Vĩnh Long;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Lê Thành Trung
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 711/2026/DS-PT Bản án số 711/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 711/2026/DS-PT Bản án số 711/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất