Bản án số 221/2026/DS-PT ngày 17/08/2026 của TAND tỉnh Gia Lai về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 221/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 221/2026/DS-PT ngày 17/08/2026 của TAND tỉnh Gia Lai về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Gia Lai
Số hiệu: 221/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Pham Thi Hoa - Le Thi Tre
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 221/2026/DS-PT Bản án số 221/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 221/2026/DS-PT Bản án số 221/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
Bản án số: 221/2026/DS-PT
Ngày 17 - 8 - 2026
V/v tranh chấp đòi lại tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHNGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Sỹ
Các Thẩm phán: Bà Đỗ Thị Thắm
Ông Lưu Anh Tuấn
- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Trang là Thẩm tra viên Toà án nhân dân tỉnh
Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Kim Cúc - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc
thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 158/2026/TLPT-DS ngày 06 tháng 7 năm
2026 về việc tranh chấp đòi lại tài sản.
Do Bản án dân sthẩm số 63/2026/DS-ST ngày 19 tháng 5 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 7 - Gia Lai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử s298/2026/QĐ-PT ngày 29 tháng 7 năm
2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Phạm Thị H, sinh năm 1974; trú tại: Thôn T, S, tỉnh
Quảng Ngãi.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Các bà Vũ Thị H1, sinh năm 1974;
Đỗ Minh N, sinh năm 1997; Đặng Thị Hồng V, sinh năm 1980; Trần Linh C, sinh
năm 2001. Địa chỉ liên hệ: Số A đường H, phường N, tỉnh Phú Thọ (địa chỉ cũ: Số
B, đường H, phường N, tỉnh Phú Thọ). (Bà H1 có mặt và các bà N, V, C vắng mặt)
- Bị đơn: Lê Thị T, sinh năm 1963 và ông Nguyễn Cảnh T1, sinh năm 1962;
đồng ttại: Hẻm B T, Tổ G, phường T, tỉnh Gia Lai. địa chỉ liên lạc: Tổ C,
phường T, tỉnh Gia Lai. (Bà T và ông T1 có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Thanh H2,
sư của Văn phòng sư Ngọc Quang thuộc Đoàn sư tỉnh G; địa chỉ: Số B đường P, xã
T, tỉnh Gia Lai. (Có mặt)
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Phạm Thị L, sinh năm 1972; địa
: Thôn T, xã S, tỉnh Quảng Ngãi. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Lê Thị T và ông Nguyễn Cảnh T1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Phạm Thị H người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn
thống nhất trình bày:
Năm 2022, Phạm Thị H đến công chứng làm hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và được cấp
thẩm quyền đóng dấu xác nhận Phạm Thị H người sử dụng đất, chủ sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 141, tờ bản đồ số 104,
diện tích: 144,4m
2
tại tổ C, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai (viết tắt là thửa đất
số 141). Do chưa có nhu cầu để sử dụng căn nhà nên bà H chưa dọn đến để và sau
khi nhận chuyển nhượng, bà H mới biết vợ chồng Thị T, ông Nguyễn Cảnh
T1 đã ngang nhiên xâm phạm chỗ ở, chiếm giữ tài sản trái phép là nhà ở, quyền sử
dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 141. Bà H đã làm đơn tới
quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh G, Trưởng Công an thành phố P, Công an
phường Y Chủ tịch ban nhân dân phường Y để yêu cầu giải quyết việc vợ chồng
T, ông T1 đã xâm phạm chỗ ở, chiếm giữ tài sản trái phép nhưng không đạt kết
quả. Bà H đã nhiều lần yêu cầu bà T, ông T1 phải trả lại tài sản là căn nhà và quyền
sử dụng đất đã chiếm giữ trái phép nhưng bà T, ông T1 còn thách thức pháp luật và
cố tình không trả.
H cho rằng tại thời điểm bà nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số
141 với lý do bà Phạm Thị L chuyển nhượng, H hoàn toàn không biết bà L có nợ
tiền của T, ông T1 số tiền 873.000.000 đồng bà L đã mượn của bà T để cấn trừ
nợ tài sản. Sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất với L, đã được
quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lúc nàyH mới biết
vợ chồng bà T, ông T1 đã tự ý đến ở tại căn nhà và quyền sử dụng đất nêu trên.
Đề nghị Toà án buộc bà T và ông T1 phải trả lại tài sản là căn nhà và quyền sử
dụng đất số DA 421682 do Sở Tài nguyên và trường tỉnh G cấp ngày 08/4/2022 đã
được chỉnh lý sang tên cho bà Phạm Thị H vào ngày 11/05/2022.
Về chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản và án phí dân sự thẩm đề nghị
Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.
Bị đơn Lê Thị T và ông Nguyễn Cảnh T1 thống nhất trình bày:
Bà Phạm Thị L có vay vợ chồng ông bà với số tiền 873.000.000 đồng, do L
không tiền để trả nợ nên giữa ông bà với L đi đến thoả thuận L chuyển
nhượng cho ông bà thửa đất và tài sản trên đất là căn nhà tại tổ F, phường Y, thành
phố P, tỉnh Gia Lai theo giấy sang nhượng nhà và đất ở ngày 03/12/2018 để trừ nợ.
Ông bà đã đưa đủ số tiền cho bà L và bà L đã bàn giao nhà và đất cho vợ chồng ông
từ năm 2019, ông đã quản sử dụng ổn định từ đó đến nay, không xảy ra
tranh chấp. Tuy nhiên sau đó L không thực hiện việc sang nhượng nvà đất cho
3
ông bà mà tiếp tục chuyển nhượng căn nhà và đất cho bà Phạm Thị H em gái ruột
L.
Vợ chồng ông bàkhông đồng ý với hành vi của bà L nên từ năm 2021, ông bà
làm đơn tố cáo L về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản số tiền
873.000.000 đồng của ông bà đến Cơ quan sát điều tra Công an tỉnh G tiếp đến
ngày 29/8/2022 ông lại tiếp tục làm đơn tố giác tội phạm đối với L đến
quan sát điều tra Công an tỉnh G. Ngày 24/6/2025, quan sát điều tra Công an
tỉnh G có Thông báo số 6854/TB-CSĐT-Đ3 về việc không khởi tố vụ án hình sự
hướng dẫn ông làm đơn khởi kiện gửi đến Toà án nhân dân thành phố Pleiku (nay là
Toà án nhân dân khu vực 7 Gia Lai) đnộp đơn giải quyết theo trình tự tố tụng
dân sự. Hiện nay Toà án nhân dân khu vực 7 Gia Lai đã thụ lý vụ án số 108/TB-
TLVA ngày 01/8/2025 về việc Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất” (do Thẩm phán Hoàng Thị S người được phân công trực tiếp giải quyết).
Như vậy, bà L không thực hiện chuyển nhượng nhà đất cho vợ chồng ông
bà thì phải trả lại số tiền 873.000.000 đồng cho ông bà, ông bà sẽ trả lại căn nhà và
đất vì việc thực hiện chuyển nhượng giữa ông bà với bà L được xảy ra trước khi bà
L chuyển nhượng cho bà H. Còn riêng bà H khi nhận chuyển nhượng tài sản của
L thì H không đến trực tiếp tài sản nhận chuyển nhượng để xem xét hiện trạng về
tài sản nên mới dẫn đến tranh chấp như hôm nay. vậy vợ chồng ông đề nghị
Toà án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H.
Tại phiên tòa thẩm, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn
các ông Đặng Ngọc B và Trần Phước C1 đồng ý với ý kiến trình bày của bị đơn và
có ý kiến bổ sung: Trong nội dung Giấy sang nhượng đất ở vào ngày 03/12/2018
Hợp đồng thoả thuận sang nhượng nhà đất ở ngày 13/01/2019 thì tại Hợp đồng thỏa
thuận sang nhượng nhà đất ngày 13/01/2019, Phạm Thị L cam kết sau khi
được vợ chồng ông K, X sang nhượng quyền sử dụng đất xong, L sẽ làm thủ
tục chuyển nhượng lại cho vợ chồng T, ông T1 cam đoan chịu trách nhiệm;
nhưng sau khi có được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nđã nêu trên L lại
đi chuyển nhượng cho em gái ruột Phạm Thị H, trong khi đó vợ chồng T,
ông T1 đã ở, quản sử dụng tài sản từ năm 2019 cho đến nay không ai tranh
chấp; nvậy bà L đã vi phạm hành vi lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của vợ
chồng T, ông T1. Còn H phải khởi kiện bà L về tội lừa đảo, nhưng H không
khởi kiện L mà lại khởi kiện đòi nhà bà T, ông T1; trong vụ án này L là người
vi phạm còn bà T, ông T1, H là bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xxem xét và nhập
vụ án thụ lý số 295/2023/TLST-DS ngày 05/10/2023 vào giải quyết cùng vụ án thụ
số 108/TB-TLVA ngày 01/8/2025 để giải quyết khách quan. Hơn nữa vụ án
dấu hiệu hình sự, đnghị Toà án chuyển hồ sang quan Cảnh sát Điều tra để
làm rõ hành vi vi phạm của bà Phạm Thị L.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị L trình bày:
Nguồn gốc tài sản do nguyên đơn khởi kiện tại Toà án là thuộc tài sản của
nhận chuyển nhượng hợp pháp vào năm 2019 theo Quyết định công nhận sự thoả
thuận của các đương sự số 61/2019/QĐST-DS ngày 24/10/2019 của Toà án nhân
4
dân thành phố Pleiku (nay Toà án nhân dân khu vực 7 Gia Lai), cho đến ngày
08/4/2022, Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh G cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho bà để sử dụng.
cũng trình bày thêm tại sao bà lại chuyển nhượng thửa đất số 141 cho em
gái bà là Phạm Thị H bởi vì trước đó bà bị buộc phải thi hành án đối với các Quyết
định công nhận sự thoả thuận của các đương sự số 61/2019/QĐST-DS; Quyết định
công nhận sự thoả thuận số 59/2023/QĐST-DS ngày 19/6/2023 và Quyết định công
nhận sự thoả thuận số 46/2029/QĐST-DS ngày 15/8/2019 vì vậy Chi cục Thi hành
án dân sự thành phố Pleiku (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 Gia Lai)
đề nghị phát mãi tài sản của bà để thi hành các khoản nợ án phí theo các quyết định
nêu trên. Sau đó bên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku đồng ý cho
được bán tài sản này cho người nhà mua để lấy tiền nộp cho Chi cục Thi hành án
dân sự nên bà đã gọi em gái bà là H đến để mua tài sản, sau khi H mua xong
thì vợ chồng ông bà T, T1 đã chiếm giữ trái phép nhà của bà trước đó, chính vì vậy
đã xảy ra tranh chấp về việc bà H có đơn kiện đòi lại tài sản do vợ chồng ông T,
T1 chiếm giữ.
Riêng về khoản nợ với vợ chồng ông T, T1 thì chỉ nợ tiền gốc 150.000.000
đồng và tiền lãi 200.000.000 đồng, tổng cộng cả gốc và lãi là 350.000.000 đồng; về
thời gian vợ chồng T, ông T1 tính tiền lãi lên rồi tự đánh ra Giấy sang nhượng
đất vào ngày 03/12/2018 Hợp đồng thoả thuận sang nhượng nhà đất ngày
13/01/2019 cùng các giấy nợ tiền rồi ép phải vào các giấy tờ này và buộc bà
phải chuyển nhượng tài sản để cấn trừ nợ cưỡng đoạt tài sản của bà. Do đó, lời trình
bày của vợ chồng T, ông T1 cho rằng đã chuyển nhượng căn nhà đất cho
vợ chồng ông bà T, T1 không đúng sự thật, bà đã trình bày tại Cơ quan sát Điều
tra Công an tỉnh G; nếu thật sự bà là người lừa đảo thì việc tố giác tội phạm của vợ
chồng bà T, ông T1, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh G đã khởi tố bà. Việc
tranh chấp hợp đồng sang nhượng đất ở giữa vợ chồng bà T, ông T1 với bà đã được
Toà án nhân dân khu vực 7 Gia Lai đã thụ vụ án số 108/TB-TLVA ngày
01/8/2025 (do Thẩm phán Hoàng Thị S người được phân công trực tiếp giải
quyết).
Vợ chồng T, ông T1 tự ý phá khoá cửa nhà và tự ý chuyển đồ đạc đến ở khi
chưa có sự đồng ý của chủ sở hữu tài sản là xâm phạm chỗ ở bất hợp pháp. Đề nghị
Toà án xem xét việc chiếm giữ tài sản trái phép của vợ chồng ông T, ông T1 phải
trả lại tài sản quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 141 cho bà
Phạm Thị H theo quy định.
Tại bản án dân sự thẩm số 63/2026/DS-ST ngày 19/5/2026, a án nhân
dân khu vực 7 – Gia Lai đã quyết định:
Căn cứ khoản 2 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 các Điều
91, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 101, 104, 147, 157, 158, 165, 166 và Điều 271, Điều 273
của Bộ luật tụng dân snăm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 (Quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí
5
lệ phí Tòa án); các Điều 163, 164 166 của B luật Dân sự năm 2015; Điều 188
Luật Đất đai năm 2013.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị H.
- Buộc bđơn bà Thị T ông Nguyễn Cảnh T1: Giao trả lại quyền sử dụng
đất tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 141, tờ bản đồ số 104, diện tích
144,4m²; địa chỉ: tổ C, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai (nay là phường T, tỉnh
Gia Lai) cho Phạm Thị H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản gắn liền số DA 421682 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh G đã
cấp cho chủ sở hữu Phạm Thị L được chỉnh sang tên cho Phạm Thị H
vào ngày 11/5/2022.
- Ngoài ra bản án thẩm còn tuyên nghĩa vchịu án phí, nghĩa vụ chịu chi p
tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Kháng cáo: Ngày 02/6/2026, bị đơn Thị T ông Nguyễn Cảnh T1
đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Sửa Bản án dân sự sơ thẩm
số 63/2026/DS-ST ngày 19/5/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 Gia Lai theo
hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H về việc yêu cầu Tòa án
buộc vợ chồng bà T và ông T1 giao trả lại quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với
đất thuộc thửa đất số 141 cho H.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ginguyên yêu cầu khởi kiện.
- Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; bị đơn người bảo vệ quyền lợi
ích hợp pháp của bị đơn trình bày: Việc L nợ vchồng bà T, ông T1 thật
nên L đã thống nhất viết Giấy sang nhượng đất vào ngày 03/12/2018 Hợp
đồng thoả thuận sang nhượng nhà đất ngày 13/01/2019, chuyển nhượng lại nhà đất
tại thửa đất số 141 cho vchồng T, ông T1 và quản sử dụng tài sản từ năm
2019 cho đến nay không có ai tranh chấp; việc bà L lén lút chuyển nhượng nhà đất
cho bà H là không đúng quy định pháp luật.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ
khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy toàn bộ bản án dân sự thẩm số
63/2026/DS-ST ngày 19/5/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 Gia Lai do việc
thu thập chứng cứ và chứng minh chưa được thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa phúc
thẩm không thể thực hiện bổ sung được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Kháng cáo của bà Lê Thị T ông Nguyễn Cảnh T1 đảm bảo đúng thủ tục,
nội dung và trong thời hạn theo quy định của pháp luật nên đủ điều kiện để xem xét
giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nguồn gốc thửa đất số 141 tài sản trên đất của ông Văn K
Phạm Thị X. Năm 2016, ông K, bà X bán thửa đất này cho bà Phạm Thị L. Bà L
6
đã giao đủ tiền cho ông K, X đã nhận đất, tuy nhiên các bên mua bán bằng
giấy viết tay không có hợp đồng công chứng chứng thực theo quy định.
Ngày 03/12/2018, giữa bà L với Thị T ông Nguyễn Cảnh T1 kết
“Giấy nhượng nhà đất ở”; ngày 13/01/2019 các bên tiếp tục ký kết “Hợp đồng thỏa
thuận nhượng nđất ở”. Theo đó, bà L đồng ý chuyển nhượng cho bà T ông T1
phần nhà đất đã mua của ông K, X tnăm 2016 để cấn trừ nợ với số tiền
873.000.000 đồng mà bà L nợ của vợ chồng bà T, ông T1.
Ngày 24/10/2019 a án nhân dân thành phố Pleiku (nay Tòa án nhân dân
khu vực Lai) ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số
61/2019/QĐST-DS, công nhận nội dung thỏa thuận chuyển nhượng phần đất ông
K, bà X đã bán cho L từ năm 2016 (bút lục 43-47). L đã được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất 421682 ngày 08/4/2022 đối với thửa đất 141.
Ngày 26/4/2022, bà L lập hợp đồng chuyển nhượng để chuyển nhượng toàn bộ
thửa đất số 141 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 421682 cho em gái ruột
là bà Phạm Thị H và bà H đã được chỉnh lý sang tên vào ngày 11/5/2022.
cho rằng quyền sở hữu hợp pháp đối với thửa đất số 141 nên bà H đã làm
đơn khởi kiện vụ án tranh chấp đòi lại tài sản để yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà
T và ông T1 trả lại nhà đất tại thửa đất số 141. Bị đơn T ông Thám K1 đồng
ý với khởi kiện của bà H, không yêu cầu phản tố trong vụ án này khởi kiện
bằng một vụ án khác, đã được Tòa án nhân dân khu vực Lai thụ số
108/2025/TLST-DS ngày 01/8/2025 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất” đối với bà L (chưa được đưa ra xét xử) để yêu cầu bà L tiếp tục
thực hiện hợp đồng chuyển nhượng.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị T và ông Nguyễn Cảnh T1, thấy rằng:
[3.1] Tại Giấy san nhượng nhà đất ở” ngày 03/12/1018 “Hợp đồng thỏa
thuận san nhượng nhà đất ở” ngày 13/01/2019 thể hiện nội dung các bên thỏa thuận
L chịu trách nhiệm sang tên bìa đỏ cho bên A (bà T ông T1) sau khi tách quyền
sử dụng đất của ông K. Giấy nhượng ngày 03/12/2018 có sự làm chứng của con gái
con rể L Phạm Kim A Huỳnh Văn Á (bút lục 274). Hợp đồng ngày
13/01/2019 nội dung ông K, X m chứng việc bà L ợn tiền của bà T để trả
tiền mua đất cho vợ chồng bà. Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ “Giấy nhượng nhà
đất ở” ngày 03/12/1018 và “Hợp đồng thỏa thuận nhượng nhà đất ở” ngày
13/01/2019 hiệu lực hay không, các hợp đồng này thuộc trường hợp giả tạo
nhằm che giấu giao dịch vay mượn tiền giữa các bên hay không là thiếu sót.
Ngoài ra cần làm rõ lý do tại sao bà T, ông T1 lại sinh sống tại thửa đất 141 từ
năm 2019, L giao nhà đất cho T hay không? (Biên bản phiên tòa sơ thẩm
ngày 19/11/2025 thể hiện: File usb do đương sự cung cấp được công khai tại
phiên tòa thể hiện không có việc vợ chồng bà T, ông T1 đập phá cửa để vào nhà bà
L như lời trình bày của L (bút lục số 272). Tòa án cấp thẩm chưa làm
trường hợp cho rằng bà T, ông T1 chiếm giữ nhà và đất bất hợp pháp thì bà L đã có
7
ý kiến biện pháp như thế nào để phản đối, thời điểm 2018-2023 trước khi H
khởi kiện vụ án thì bà L có báo chính quyền địa phương can thiệp hay không.
Cần xác minh làm việc mua bán đất giữa ông K, X với L vào thời
điểm nào? Nếu vào thời điểm m 2016 các bên xác lập quan hệ mua bán, năm 2022
chính thức làm hợp đồng chuyển nhượng theo quy định của pháp luật thì kể từ khi
bán đất các bên đã giao nhận đất, giao nhận tiền xong chưa và có tranh chấp gì với
nhau hay không. Để từ đó xác định thời điểm bà L có quyền sở hữu trên thực tế đối
với thửa đất 141, xác định việc chuyển tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
có phải chỉ là thủ tục pháp lý.
[3.2] Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngày 26/4/2022,
L lập hợp đồng chuyển nhượng để chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 141 theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất 421682 cho em gái ruột là bà H. Tòa án cấp thẩm
tuy đã đưa đầy đủ người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án nhưng chưa
làm rõ việc khi L chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà H vào năm 2022 thì
các bên giao nhận đất trên thực tế hay không? H giao tiền cho L hay
không? Cần làm tại thời điểm L chuyển nhượng đất cho H thì ai người
đang quản lý sử dụng đất để xác định mâu thuẫn tại sao cấn nợ cho bà , ông T1 năm
2018 nhưng năm 2022 bà L lại chuyển nhượng đất cho em gái là H.
[3.3] Hội đồng xét xử xét thấy, lẽ ra trong vụ án này bị đơn T, ông T1 cần
yêu cầu phản tố về việc ng nhận hiệu lực của Giấy nhượng nhà đất ở” ngày
03/12/1018 và “Hợp đồng thỏa thuận nhượng nhà đất ở” ngày 13/01/2019 giữa bà
L với T, ông T1; yêu cầu tuyên hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất ngày 26/4/2022 giữa bà L và bà H. Tuy nhiên bà T, ông T1 khởi kiện mt vụ án
độc lập, sau đó đã đơn yêu cầu nhập vụ án. Mặc dù 02 vụ án quan hệ tranh
chấp khác nhau nhưng 02 vụ án đều chung một tài sản tranh chấp thửa đất số
141. Để có căn cứ giải quyết vụ án này, cần phải giải quyết toàn bộ nội dung tranh
chấp của ván dân sthụ lý s108/2025/TLST-DS ngày 01/8/2025 về “Tranh chấp
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa T, ông T1 với L với các
nội dung cần c định như đã phân tích tại mục [3.1] [3.2]. Sau khi xác định được
hiệu lực ca các hợp đồng chuyển nhượng năm 2018, 2019 (giữa L với T, ông
T1, hợp đồng chuyển nhượng năm 2022 (giữa L với H) thì mới giải quyết được
vụ án này. Vậy, yêu cầu nhập vụ án của bà T, ông T1 là phù hợp. Lẽ ra, Tòa án cấp
thẩm phải nhập vụ án này vào ván dân sự thụ số 108/2025/TLST-DS ngày
01/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7- Gia Lai thì mới xem xét giải quyết khách
quan, toàn diện, triệt để toàn bộ các nội dung tranh chấp của các đương sự theo đúng
quy định của pháp luật.
[4] Từ những phân tích nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy chưa
đủ căn cứ vững chắc để quyết định đối với bản án; tại cấp phúc thẩm không thbổ
sung, khắc phục được. Do đó căn cứ vào khoản 3 Điều 308 và khoản 1 Điều 310 của
Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy toàn bộ bản án thẩm, chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp
sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
8
[5] Về án phí dân sự sơ thẩmchi phí tố tụng được xác định lại khi giải quyết
vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án để xét
xử sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Điều 148, khoản 3 Điều 308 khoản 1 Điều 310 của Bộ luật Tố
tụng dân sự.
Căn cứ khoản 3 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
2. Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 63/2026/DS-ST ngày 19/5/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 7 Gia Lai; giao hồ vụ án cho Tòa án nhân dân khu
vực Lai giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng được xác định lại khi giải quyết
vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
4. Án phí dân sự phúc thẩm:Lê Thị T ông Nguyễn Cảnh Thám K1 phải
chịu. Hoàn trả cho Thị T và ông Nguyễn Cảnh T1 300.000 đồng (ba trăm
nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu số
0006022 ngày 08/6/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Gia Lai
- Tòa án nhân dân khu vực 7 – Gia Lai;
- Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Gia Lai;
- Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7, tỉnh Gia Lai;
- Các đương sự;
- Lưu: HCTP, Tòa Dân sự, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Tiến Sỹ
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 221/2026/DS-PT Bản án số 221/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 221/2026/DS-PT Bản án số 221/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất