Bản án số 06/2025/DS-PT ngày 28/02/2025 của TAND tỉnh Bạc Liêu về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 06/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 06/2025/DS-PT ngày 28/02/2025 của TAND tỉnh Bạc Liêu về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản
Quan hệ pháp luật: Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bạc Liêu
Số hiệu: 06/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/02/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: ông M yêu cầu ông H bôig thường số tiền 96 triệu
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

A ÁN NHÂN DÂN CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
TNH BC LIÊU Đc lập Tdo Hạnh phúc
Bản án số: 06/2025/DS-PT
Ngày: 15/01/2025
V/v Bồi thưng thit hi v tài sản”
NHÂN DANH
C CỘNG HÒA XÃ HỘI CHNGHĨA VIỆT NAM
A ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phn Hi đồng t xử phúc thm gồm có:
Thẩm phán Chta phn tòa: Lê Th Th Linh
c Thẩm pn: Giang Th Cm Thuý
Ông Trương Thanh Dũng
- Thư ký phiên a: Ông Đặng ng Hậu Thư Tòa án nhân n tỉnh
Bạc Liêu.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bc Liêu tham gia phiên tòa:
Nguyễn Nguyệt Hân - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 01 m 2025, tại trụ sở a án nhân dân tỉnh Bạc Liêu t
xử phúc thẩm ng khai vụ án n sự thsố: 157/2024/TLPT-DS ngày 12
tháng 11 m 2024 về việc tranh chấp Bồi thường thiệt hại v tài sản”
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 135/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 m 2024
của a án nhân n thị G Rai, tỉnh Bạc Lu bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra t x phúc thẩm số 167/2024/QĐ-PT ngày
02 tháng 12 năm 2024, quyết định hoãn phiên toà số 173/2024/-PT ngày
24/12/2024 giữa các đương sự:
* Đồng nguyên đơn: Ông Phan Trọng N, sinh năm 1994 Nguyễn
Hồng C, sinh năm 1995
Cùng địa chỉ: Khóm 5, phường H, thị xã G, tỉnh B.
Người đại diện theo ủy quyền của ông N và bà C:
1/ Ông Sơn Chúc P, sinh năm 1990 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khóm 5, phường H, thị xã G, tỉnh B
2/ Ông Nguyễn Huỳnh Đ, sinh năm 1999 (Vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Bào H, xã Quách P, huyện Đ, tỉnh C
* Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1987 (Có mặt)
Địa chỉ: Khóm 5, phường H, thị xã G, tỉnh B
2
*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Minh L, sinh
năm 1982.(Vắng mặt)
Địa chỉ: Khóm 5, phường 1, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ý kiến trình bày của người đại diện theo ủy
quyền của đồng nguyên đơn ông Phan Trọng N bà Nguyễn Hồng C ông
Sơn Chúc P trình bày: Vào khoảng cuối năm 2022, nguyên đơn thuê ông
Nguyễn Văn H xây dựng quán kinh doanh ăn uống nhậu, sàn xi măng,
tông, trên là tắm bạc, kết cấu nhà tiền chế. Khi thuê thỏa thuận bằng miệng, giá
thuê trọn gói 200.000.000 đồng, thời gian bảo hành 12 tháng kể từ ngày hoàn
thành, ông N đã thanh toán cho ông H 180.000.000 đồng. Tổng diện tích công
trình 300m
2
, không đăng giấy phép xây dựng, thời hạn hoàn thành đúng
30 ngày, nguyên đơn đã đưa đtiền cho bị đơn. Gần 6 tháng sau khi hoàn
thành thì nước mưa động một phần diện ch trên mái hiên, tấm bạc ngang
9,2m và dài 6m. Nguyên đơn có báo cho bị đơn, thì ngày 18/06/2023 bị đơn
cử người đến sửa chữa, trong quá trình sửa chữa dẫn đến sàn bị sập hoàn toàn
ngay lúc đó (có ghi lại hình ảnh). Sau đó, nguyên đơn liên hệ bị đơn khắc
phục lại nhưng bị từ chối dẫn đến việc sở kinh doanh ngừng hoạt động từ
ngày 18/06/2023 đến ngày 24/07/2023. Nay nguyên đơn yêu cầu bđơn bồi
thường tiền mất thu nhập từ ngày 18/06/2023 đến 24/07/2023 36.000.000
đồng, tiền thuê quyền sử dụng đất 10.000.000 đồng/tháng, tiền tháo dỡ
10.00.000 đồng, tiền công sửa lại 15.000.000 đồng; tiền sửa đường dây diện
8.000.000 đồng tiền kết nối dây điện mới 7.806.000 đồng; tiền sửa la
phông 7.518.000 đồng; tiền sắt 19.296.000 đồng; tiền thạch cao
3.024.000đồng. Tổng số tiền yêu cầu bị đơn bồi thường là 116.644.000 đồng.
Bị đơn ông Nguyễn Văn H trình bày: Ông H nhận lãnh công trình của
vợ chồng ông Phan Trọng N, Nguyễn Hồng C, khi thoả thuận chỉ bằng
miệng không làm hợp đồng, không thỏa thuận việc bảo hành bảo trì.
Ông làm theo bản vẽ thiết kế của ông N, khi ông N báo nước đọng thì do
tình nghĩa nên ông mới qua sữa chửa. Ông chỉ thi công, làm công cho ông N
theo yêu cầu của ông N, vật tư là ông N mua nên ông không biết về chất lượng
của vật tư. Ông N kêu người khác sửa chữa mà ông không hay biết, ông không
biết việc thay đổi kết cấu, mở rộng thêm và thay đổi chất lượng vật tư. Ông xác
định việc hỏng không phải lỗi của ông, hoàn thành công việc đã hơn 06
tháng rồi mới hư hỏng do mưa lớn. Việc nhân viên của ông nhúng một đầu mái
hiên để cho nước chảy ra, nhưng hôm đó trời mưa rất lớn, lượng nước đè
nặng xuống tường làm sập. Từ vị trí người nhúng cho đến vị trí sập cách nhau
4m nên việc sập không do người nhúng mà do nước mưa động quá nhiều. Nên
ông không đồng ý yêu cầu của ông N C. Việc ông N nói trả cho ông
3
200.000.000 đồng thì không đúng, ông N còn thiếu ông 20.000.000 đồng. Khi
bàn giao thì không có việc đọng nước, khoản 20 ngày sau thì nghe nói kéo tấm
bạc bị nặng, ông đến kiểm tra giúp thì do dây bản tròn lớn nên bị nặng,
khó kéo. Diện tích tấm bạc quá lớn 120m
2
cộng với mưa lớn nên nước đọng
quá nhiều. Ông H không đồng ý đối với yêu cầu của ông N và bà C.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Minh L trình
bày: Gần tết năm 2022, ông ông H lãnh công trình của vợ chồng ông N,
C. Ông ông H làm thợ chính rủ thêm một số anh em khác làm thợ
phụ, các bên không làm hợp đồng, không thỏa thuận cụ thể, không
thỏa thuận về việc bảo hành và bảo trì. Ông và ông H làm theo thiết kế của ông
N, khi ông N báo nước động thì ông không tham gia sửa chữa. Mái bạc,
khung thép nền không phải do ông ông H phụ trách. Ông ông H chỉ
thi công nhà tiền chế, lộp mái cho ông N. Vật là do ông N mua nên ông
không biết chất lượng như thế nào. Ông không biết việc ông N thuê người
khác sửa chữa, không biết ông N thay đổi vật tư, kết cấu, mở rộng thêm so
với xây dựng ban đầu hay không. Ông L xác định việc hư hỏng không do lỗi
của ông ông H, công việc hoàn thành đã hơn 6 tháng rồi mới hỏng do
trời mưa lớn. Yêu cầu tòa án bác đơn khởi kiện của ông N và bà C.
Từ nội dung trên, Bản án số 135/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 ca a án
nhân n thị xã Giá Rai quyết định:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phan Trọng N,
Nguyễn Hồng C về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn H trách nhiệm bồi
thường thiệt hại về tài sản.
Buộc ông Nguyễn Văn H có trách nhiệm bồi thường thiệt hại tài sản cho
ông Phan Trọng N, bà Nguyễn Hồng C là 20.362.500đồng.
Không chấp nhận yêu cầu của Phan Trọng N, bà Nguyễn Hồng C về việc
yêu cầu ông Nguyễn Văn H bồi thường thiệt hại về tài sản số tiền
96.281.500đồng.
Ngoài ra, bn án còn tun án phí, chi p ttụng, quyền yêu cầu thi nh
án và quyền kháng o của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 14 tháng 10 m 2024, ông Phan Trọng N Nguyễn Hồng C
kháng cáo u cầu cấp phúc thẩm xem xét hu bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của ông N C đối với ông H. Do cấp thẩm đưa thiếu người
quyền lợi và nghĩa vụ liên quan như ông Lê Văn Kiệt, là nời bán và sửa cha la
phong, cửa ng Ba Kiệt i mua sắt, cửa hàng Nguyễn ơng nơi mua
thạch cao. Cấp thẩm không xemt khoản mất thu nhập thc tế do phải ngừng
hoạt động 36.000.000đồng tiền th quyền sử dụng đất để kinh doanh là
10.000.000đồng.
4
Tại phiên a phúc thẩm:
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Phan Trọng N và bà Nguyễn Hồng
C vẫn giữ nguyên u cầu kháng cáo có đơn xin t xử vắng mặt..
Đại diện Viện kiểm t nhân n tỉnh Bạc Lu phát biểu quan điểm:
Về thtục tố tụng: Thông qua kiểm t việc giải quyết vụ án từ khi th
vụ án đến tớc khi Hội đồng xét xửo phòng nghị án, Thẩm phán chủ toạ phiên
toà, c Thẩm phán, Thư phiên toà c đương s đã chấp nh đúng quy
định của Bộ luật Tố tụng n sự.
Về nội dung: Đề nghHội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ
luật Tố tụng n sự, giữ nguyên bản án n sự sơ thẩm số 135/2024/DS-ST ngày
30/9/2024 của Toà án nhân n thị Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.
Về án phí dân sự phúc thẩm ông N C phải chịu theo quy định pháp
luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA A ÁN:
Sau khi nghiên cứu toàn bộ các tài liệu chứng c có u trong hồ sơ ván
đã được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến tranh luận của các đương sự và ý kiến
phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu, sau khi thảo luận,
nghị án, Hội đồng xét xnhận định:
[1] Về tố tụng:
Đơn kháng o của ông Phan Trọng N Nguyễn Hồng C về nh thức
nội dung được thực hiện đúng quy định được nộp trong thời hạn luật định
tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem t giải quyết theo thủ tục
phúc thẩm.
[2] Về nội dung: t kháng o của ông Phan Trọng N Nguyễn
Hồng C thấy rằng giữa ông N, C và ông Nguyễnn H o cuối năm 2022 thì
giữa hai bên có thoả thuận với nhau về việc xây dựng công trình quán kinh doanh
ăn uống. Phía ông H là người thc hiện việc xây dựng theo u cầu của ông N và
C. Tuy việc thothuận giữa hai bên không giấy tờ nhưng phía ông H tha
nhận sau khi hoàn thành ng trình xong khoảng 6 tháng thì đến ngày 18/6/2023
phía ông N gọi điện cho ông Ho là tấm bạc y che của quán bị đọngớc do
trời mưa ớc bị đọng, từ đó nên ông H cử người đến để khắc phục và xảy ra
thiệt hại. Sau khi thiệt hại xảy ra trong quá trình khắc phục hậu quả sửa chửa lại
quán thì phía ông N, C tự mua vật , u thợ sửa chửa và u cầu ông H
phải nga vụ bồi thường tổng c khoản chi phí với số tiền 116.644.000
đồng. Tuy nhiên ông N C không chứng minh diện tích bthiệt hại bao
nhiêu, chỉ cung cấp cho Toà án vi bằng số 895/2023/VB-TPL ngày 27/6/2023, tại
c trang 28, 29, 30 của vi bằng tn hình ảnh thhiện có một người đứng trên
5
tấm bạc, sau đó có một đoạn tấm bạc bị thủng xuống nng không thể hiện cụ th
diện tích bị thiệt hại và thiệt hại cthể gồm c tài sản gì. Tuy nhiên phía ông H
thừa nhận thiệt hại do phía ông H gây ra có diện tích chiều ngang 4,8m, chiều i
6,9m; tồng diện tích thiệt hại 33,12m
2
. Do đó cấp thẩm n cứ o sự thừa
nhận của phía bị đơn để xem xét c khoản chi phí bồi thường thiệt hại cho ông
N, bà C là hoàn toàn phù hợp.
Đối với khoản tiền u cầu bồi thường về tiền th mặt bằng kinh doanh
10.000.000đồng đã được cấp sơ thẩm xem xét giải quyết chấp nhận một phần với
số tiền 3.333.000đồng. Tuy ông N, C có yêu cầu bồi thường nng không
chứng minh được số ngày ngừng hoạt động của quán. Tại biên bản ghi lời khai
ngày 20/9/2024 của ông i Đình Nhuận người trực tiếp tháo dở y dựng
sửa lại quán cho ông N, C đã c định thời gian sửa chửa lại quán cho ông N
C 10 ngày đã hoàn thành n kng n cứ để chấp nhận stiền bồi
thường 10.000.00ồng. Do đó chỉ có căn cứ chấp nhận số tiền thuê mt bằng 10
ngày 3.333.000 đồng (theo hợp đồng th đất ngày 24/11/2022 g th là
10.000.000đồng/tháng).
Riêng đối với số tiền yêu cầu bồi thường 36.000.000đồng do quán ngừng
hoạt động, phía nguyên đơn có cung cấp các báo cáo chốt ca trong đó chỉ thể hiện
ngày quán n được bao nhu khách ng tổng stiền thu trong ngày. Tuy
nhiên phía ông N, C không thhiện trong ngày doanh thu của quán được số
tiền bao nhu sau khi trđi c khoản chi phí số tiền lợi nhuận của qn
trong ngày bao nhiêu. Đồng thời trong quá trình xét xử phúc thẩm t nguyên
đơn cũng không cấp thêm chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình. Do đó
không có n cứ để xem xét chấp nhận yêu cầu của ngun đơn đối với s tiền
mất thu nhập 36.000.000đồng.
Đối với ý kiến của ngun đơn cho rằng Toà án cấp thẩm đưa thiếu
những nời quyền lợi nga vụ liên quan trong vụ án những người n
vật , vật liệu, dụng cụ khi ông N, bà C liên hệ mua để sửa chửa quán. t thấy
trong vụ án này họ không có quyền lợi và nghĩa vụn cấp sơ thẩm không đưa
tham gia tố tụng là đúng quy định.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không căn cứ chấp nhận
kháng cáo của nguyên đơn ông Phan Trọng N và bà Nguyễn Hồng C; có căn cứ
chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên. Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số
135/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân thị Giá Rai, tỉnh Bạc
Liêu.
[3] Các phần khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
6
[4] Về án phí dân s phúc thẩm: Do u cầu kháng o của ông Phan
Trọng N bà Nguyễn Hồng C không được chấp nhận nên ông N và C phải
chịu án phí theo quy định của pháp luật.
các lẽ tn;
QUYẾT ĐỊNH
n cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật T tụng n sự;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Phan Trọng N Nguyễn Hồng C.
Ginguyên bn án n sự thẩm số 135/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa
án nhân dân th Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.
Căn cứ khoản 6 Điều 26, Điều 35, Điều 39, 147, 228 Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015
Căn cứ các Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự năm 2015
Căn cứ khoản 3 điều 26 của Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội 14.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phan Trọng N,
Nguyễn Hồng C về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn H trách nhiệm bồi
thường thiệt hại về tài sản.
Buộc ông Nguyễn Văn H trách nhiệm bồi thường thiệt hại tài sản
cho ông Phan Trọng N, bà Nguyễn Hồng C là 20.362.500đồng.
Không chấp nhận yêu cầu của Phan Trọng N, bà Nguyễn Hồng C về việc
yêu cầu ông Nguyễn Văn H bồi thường thiệt hại về tài sản số tiền
96.281.500đồng.
2/ Về án phí dân sự giá ngạch: Ông Phan Trọng N, Nguyễn Hồng
C cùng chịu là 4.814.000đồng, ông N và bà C đã dự nộp số tiền 2.916.000đồng
theo biên lai thu số 0008089 ngày 16/10/2023 được chuyển thu án phí số tiền
đã nộp 2.916.000đồng, ông N C còn phải tiếp tục nộp 1.898.000đồng tại
Chi cục thi hành án dân sự thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.
Ông Nguyễn Văn H phải nộp án phí 1.018.000đồng tại Chi cục thi hành
án dân sự thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.
Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phan Trọng N, Nguyễn Hồng C mỗi
người phải chịu 300.000đồng; ông N C đã dự nộp tại các biên lai thu số
0009256, 0009255 ngày 14/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị Giá
Rai được chuyển thu án phí.
7
3/ Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn H phải nộp 450.000đồng tại Chi
cục thi hành án dân sự thị GRai, tỉnh Bạc Liêu để hoàn lại cho ông N
bà C.
4/ c phần khác của bản án số 135/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của
a án nhân dân thị xã G Rai, tỉnh Bạc Liêu kng bị kng cáo, kng ngh
đã pt sinh hiệu lực pháp luật ktừ ngày hết thời hạn kháng o, kháng nghị.
5/ Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc đơn yêu cầu thi hành
án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền hàng
tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành
án theo mức lãi suất bản do Ngân hàng nhà nước quy định tương ứng với
thời gian chưa thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
6/. Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b
9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
7/ Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ktừ ngày tuyên án.
Nơi nhận TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TANDCC tại TP. Hồ CMinh; THẨM PN CHỦ TỌA PHN A
- VKSND tỉnh Bạc Lu;
- TAND thị xã GRai;
- CCTHADS th Giá Rai;
- Đương sự;
- Tổ HCTP;
- Lưu: Hvụ án, TDS
LÊ THỊ TH LINH
8
Tải về
Bản án số 06/2025/DS-PT Bản án số 06/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 06/2025/DS-PT Bản án số 06/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất