Bản án số 05/2025/DS-ST ngày 22/07/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 05/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 05/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 05/2025/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 05/2025/DS-ST ngày 22/07/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi |
| Số hiệu: | 05/2025/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 22/07/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Nguyễn Thị Thanh Nga - Võ Thị Thu Sương |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Kim Quyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thanh
2. Bà Nguyễn Thị Xuân Thương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Kim Chi – Thư ký Tòa án nhân dân Khu
vực 1 - Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi tham gia phiên
toà: Ông Võ Hồng Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 1 - Quảng
Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 318/2024/TLST-DS ngày 11 tháng
11 năm 2024, về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng mua bán tài sản”,
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2025/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 6
năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 136/2025/QĐST-DS ngày 25 tháng 6 năm
2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1979;
Địa chỉ: Tổ F, phường C, tỉnh Quảng Ngãi.
2. Bị đơn: Bà Võ Thị Thu S, sinh năm 1983;
Địa chỉ: Thôn B, phường T, tỉnh Quảng Ngãi.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Linh V, sinh năm 1972.
Địa chỉ: Thôn B, phường T, tỉnh Quảng Ngãi.
Tại phiên tòa: Bà N vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bà S, ông V
vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - QUẢNG NGÃI
Bản án số: 05/2025/DS-ST
Ngày: 22-7-2025
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
và hợp đồng mua bán tài sản.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
2
Theo đơn khởi kiện ngày 19/8/2024, đơn khởi kiện bổ sung ngày 18/10/2024,
ngày 24/10/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị
Thanh N trình bày:
Bà làm nghề bán thịt heo tại chợ Q còn bà Võ Thị Thu S thường xuyên mua
thịt heo của bà để bán lại cho các bếp ăn tập thể tại Khu công nghiệp V. Ngoài
buôn bán mặt hàng thịt heo thì bà S còn bán các mặc hàng khác như bia, nước
ngọt... cho các bếp ăn tập thể tại Khu công nghiệp V. Do bà S thường xuyên đến
chợ Q để lấy hàng nên giữa bà và bà S có mối quan hệ quen biết với nhau, bà
thường xuyên cho bà S mượn tiền và cho bà S nợ tiền mua thịt heo. Bà S mượn tiền
của bà để lấy thêm hàng bán lại cho các bếp ăn tập thể tại Khu công nghiệp V.
Những khoản tiền bà S mượn và nợ tiền thịt heo từ trước ngày 25/3/2024 (âm lịch)
bà S đã trả cho bà đầy đủ. Để giữ mối làm ăn và bà cũng tin tưởng bà S nên bà tiếp
tục cho bà S mượn tiền và cho bà S nợ tiền bán thịt heo. Cụ thể: Ngày 25/3/2024 bà
S mượn 2.000.000 đồng, không có lãi; ngày 08/6/2024 bà S mượn 50.000.000
đồng, hai bên thỏa thuận tiền lãi là 3.200.000 đồng/tháng; ngày 27/6/2024 bà S tiếp
tục mượn 50.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận tiền lãi là 3.200.000 đồng/tháng từ
ngày mượn đến nay bà S chưa trả tiền gốc và tiền lãi cho bà. Đối với khoản nợ tiền
mua thịt heo thì vào ngày 16/7/2024, bà S mua thịt heo của bà với số tiền
13.450.000 đồng; ngày 03/8/2024, bà S tiếp tục mua thịt heo của bà sau khi cấn trừ
khoản đã trả trước đó, bà S còn nợ lại số tiền 9.705.000 đồng, sau đó bà S có trả
cho bà 2.900.000 đồng, bà S còn nợ lại số tiền 6.805.000 đồng.
Từ sau khi trả số tiền mua thịt heo 2.900.000 đồng thì bà S không trả tiền cho
bà nữa, bà nhiều lần gặp trực tiếp và gọi điện thoại yêu cầu bà S trả khoản tiền vay
và khoản nợ tiền thịt heo với số tiền 122.225.000 đồng nhưng bà S không trả, bà S
nói không có khả năng trả một lần nên cho bà trả từ từ nhưng sau đó bà S không
mua thịt của bà và cũng không trả tiền nợ cho bà, bà cũng không còn gặp bà S tại
chợ Q. Sau khi không gặp bà S ở chợ Q thì bà tới nhà bà S ở đội 9 thôn B, xã T
nhiều lần để yêu cầu bà S trả nợ nhưng bà S và chồng là ông Phạm Linh V lẫn
tránh không gặp và không trả nợ cho bà. Trong số tiền 122.225.000 đồng thì số tiền
bà S mượn của bà là 102.000.000 đồng và tiền bà S mua thịt heo còn thiếu của bà
là 20.255.000 đồng.
Nay, bà N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng bà Võ Thị Thu S và ông
Phạm Linh V phải trả cho bà số tiền 122.225.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
Bị đơn bà Võ Thị Thu S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm
Linh V đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc và
cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án nên không có ý kiến trình bày
đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Quảng Ngãi tại phiên tòa
sơ thẩm:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết
vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đều đúng theo quy định của pháp luật về
thẩm quyền thụ lý, về quan hệ pháp luật tranh chấp, về tư cách những người tham
3
gia tố tụng, về thu thập chứng cứ, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu
và tống đạt các văn bản tố tụng cho những người tham gia tố tụng, về thời hạn
chuẩn bị xét xử đúng hạn theo quy định pháp luật. Các đương sự nguyên đơn chấp
hành đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan chưa chấp hành đầy đủ theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ các Điều 91, 92, 93, 94, 95, 96, 147 Bộ luật Tố tụng dân
sự; các Điều 117, 119, 463, 466, 469 Bộ luật Dân sự; Điều 37 Luật hôn nhân gia
đình năm 2014; Điều 26 Nghị quyết 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị
Hội đồng xét xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh N, buộc
bà Võ Thị Thu S và ông Phạm Linh V phảinghĩa vụ trả cho bà N số tiền gốc
122.225.000 đồng.
Bị đơn phải chịu án phí và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, căn cứ
kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân, Hội
đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Bà Nguyễn Thị Thanh N khởi kiện yêu cầu bà Võ Thị Thu S và ông
Phạm Linh V trả số tiền nợ còn thiếu, căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1
Điều 35; khoản 1 Điều 39; Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý,
giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi nay là Tòa
án nhân dân Khu vực 1 – Quảng Ngãi.
[1.2] Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, khi thụ lý vụ án Tòa án xác
định quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Quá trình giải quyết vụ
án, bà Nguyễn Thị Thanh N xác định số tiền 122.225.000 đồng bà yêu cầu vợ
chồng bà S, ông L trả cho bà bao gồm tiền nợ vay và tiền mua thịt heo còn thiếu
nên Hội đồng xét xử xác định lại quan hệ tranh chấp là “tranh chấp hợp đồng vay
tài sản và tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”.
[1.3] Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh N vắng mặt có đơn đề
nghị xét xử vắng mặt, bị đơn bà Võ Thị Thu S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan ông Phạm Linh V vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản
1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt
nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn và người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan trả số tiền gốc 122.225.000 đồng:
[2.1.1] Bà Nguyễn Thị Thanh N trình bày thông qua mối quan hệ quen biết bà
có cho bà Võ Thị Thu S mượn số tiền 102.000.000 đồng, tại 3 giấy mượn tiền ngày
25/3/2024, ngày 08/6/2024 và ngày 27/6/2024. Ngoài ra, trong quá trình làm ăn
4
mua bán với nhau bà S còn nợ tiền mua thịt heo của bà với số tiền 20.255.000
đồng, cụ thể ngày 16/7/2024, nợ số tiền 13.450.000 đồng, ngày 03/8/2024, nợ số
tiền 6.805.000 đồng. Bà N yêu cầu vợ chồng bà Võ Thị Thu S và ông Phạm Linh V
phải trả cho bà số tiền 122.225.000 đồng.
[2.1.2] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về
việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ và hòa giải, Giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác nhưng bà S
và ông V không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện và các tình tiết, sự kiện mà
nguyên đơn đưa ra, không đến Tòa án để trình bày ý kiến, hòa giải, không đến
phiên tòa để trình bày. Căn cứ Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét
xử giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
[2.1.3] Căn cứ tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp Giấy mượn tiền ngày
08/6/2024 (bút lục 16) và ngày 27/6/2024 (bút lục 11) có nội dung tôi tên (vợ hoặc
chồng) Võ Thị Thu S, sinh ngày 06/4/1983, số CMND 051183014216, cấp ngày
10/8/2021, hộ khẩu thường trú: Phường T, thành phố Q; chỗ ở hiện nay: Đ, thôn B,
xã T; số tiền mượn 50.000.000 đồng (năm mươi triệu chẵn); mục đích sử dụng làm
ăn gia đình...Giấy mượn tiền ngày 08/6/2024 và ngày 27/6/2024 do bà Võ Thị Thu
S viết và ký tên. Tổng số tiền bà S mượn tại 02 Giấy mượn tiền ngày 08/6/2024 và
ngày 27/6/2024 là 100.000.000 đồng. Ngoài ra, tại 03 đoạn giấy vở học sinh tại các
bút lục số 13, 14, 15 có nội dung S mượn chị N 2.000.000 đồng ngày 25/3 âm lịch
(bút lục 15); S còn nợ của chị N 13.450.000 đồng (ngày 16/7/2024) DL (bút lục
14); ngày 3/8/2024 DL chín triệu bảy trăm năm mươi nghìn, bắt đầu đưa ngày
300.000...(bút lục 13) và trên giấy này còn thể hiện các thông tin phao, xay, thịt ba
chỉ....
[2.1.4] Tại Kết luận giám định số 360/KL-KTHS ngày 15/4/2025 của Phòng K
Công an tỉnh Q kết luận: chữ viết, bao gồm cả dòng chữ viết “Võ Thị Thu S” bên
dưới chữ ký ở cột mục “Người mượn tiền” trên tài liệu mẫu cần giám định “GIẤY
MƯỢN TIỀN” đề ngày 08/6/2024 (ký hiệu A1); chữ viết, bao gồm cả dòng chữ ký,
chữ viết “Sương” “Võ Thị Thu S” bên dưới cột mục “Người mượn tiền” trên tài
liệu mẫu cần giám định “GIẤY MƯỢN TIỀN” đề ngày 27/6/2024 (ký hiệu A2) với
chữ viết ở mặt trước của 03 đoạn (tờ) giấy vở học sinh mẫu so sánh (ký hiệu M1,
M2, M3) là do cùng một người viết ra. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định
có việc vay mượn tiền và nợ tiền mua thịt heo giữa bà Võ Thị Thu S với bà Nguyễn
Thị Thanh N.
[2.1.5] Giấy mượn tiền ngày 08/6/2024 và đoạn giấy vở học sinh đề ngày 25/3
âm lịch không thể hiện thời hạn trả nợ, theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự
thì đối với hợp đồng vay không kỳ hạn thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất
cứ lúc nào nhưng phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp lý. Khoản 2 Điều
440 Bộ luật Dân sự quy định thời hạn thanh toán tiền đối với hợp đồng mua bán
được xác định tương ứng với thời hạn giao tài sản, nếu các bên không thỏa thuận về
thời hạn giao tài sản và thời hạn thanh toán tiền thì bên mua phải thanh toán tiền tại
thời điểm nhận tài sản. Bà N xác định bà nhiều lần gọi điện thoại và trực tiếp gặp
bà S để yêu cầu bà S trả khoản tiền vay và khoản nợ tiền thịt heo 122.225.000
đồng, bà S nói không có khả năng trả một lần nên cho bà trả từ từ nhưng sau đó bà
5
S không mua thịt của bà và cũng không trả tiền nợ cho bà, bà cũng không còn gặp
bà S tại chợ Q. Sau khi không gặp bà S ở chợ Q thì bà tới nhà bà S ở đội I, thôn B,
xã T nhiều lần để yêu cầu bà S trả nợ nhưng bà S và chồng là ông Phạm Linh V lẫn
tránh không gặp và không trả nợ cho bà. Do đó, việc bà N khởi kiện yêu cầu vợ
chồng bà S trả số tiền vay là 102.000.000 đồng và tiền mua thịt heo còn thiếu là
20.255.000 đồng, tổng cộng 122.225.000 đồng là có cơ sở.
[2.1.6] Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định vợ chồng có nghĩa vụ
chung về tài sản khi nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu
thiết yếu của gia đình. Giấy mượn tiền ngày 08/6/2024 do bà S viết thể hiện mục
đích bà mượn tiền của bà N để làm ăn gia đình, mặc dù giấy mượn tiền có mình bà
S viết và ký tên. Tuy nhiên, theo bà N trình bày bà S vay tiền của bà để có vốn lấy
thêm hàng để bán lại cho các bếp ăn tập thể tại Khu công nghiệp V. Do đó, có căn
cứ xác định việc bà S vay mượn tiền và nợ tiền thịt heo của bà N là để phục vụ nhu
cầu thiết yếu cuộc sống hàng ngày của gia đình nên ông Phạm Linh V phải có trách
nhiệm cùng với bà S trả nợ cho bà N. Việc bà N khởi kiện yêu cầu ông V cùng với
bà S trả nợ cho bà là có căn cứ chấp nhận.
[3] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh N, buộc bà Võ Thị Thu S và ông Phạm Linh V
cùng có nghĩa vụ trả cho bà N số tiền gốc 122.225.000 đồng (một trăm hai mươi
hai triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn bà Nguyễn Thị Thanh N nên bà Võ Thị Thu S và ông Phạm Linh V phải chịu
6.111.250 đồng (122.225.000 đồng x 5%) án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại
Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Hoàn
trả lại cho bà Nguyễn Thị Thanh N 3.056.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp
theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0003723 ngày 07/11/2024 của
Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi.
[5] Về chi phí tố tụng: Chi phí giám định là 5.000.000 đồng, căn cứ Điều 161
Bộ luật Tố tụng dân sự bà Võ Thị Thu S và ông Phạm Linh V phải chịu, bà Nguyễn
Thị Thanh N đã nộp tạm ứng và đã chi phí xong nên bà S và ông V có nghĩa vụ
hoàn trả lại 5.000.000 đồng cho bà N.
[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Quảng Ngãi tại
phiên tòa đúng quy định pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39, Điều 91,
147, 227, 228, 266, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 430, 440, 463,
466, 470 Bộ luật Dân sự; Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 26 của Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
6
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh N,
buộc bà Võ Thị Thu S và ông Phạm Linh V cùng có nghĩa vụ trả cho bà N số tiền
gốc 122.225.000 đồng (một trăm hai mươi hai triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn
đồng).
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Võ Thị Thu S và ông Phạm Linh V phải
chịu án phí dân sự sơ thẩm là 6.111.250 đồng (sáu triệu một trăm mười một nghìn
hai trăm năm mươi đồng). Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị Thanh N 3.056.000
đồng (ba triệu không trăm năm mươi sáu nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp
theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0003723 ngày 07/11/2024 của
Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi.
3. Về chi phí tố tụng: Buộc bà Võ Thị Thu S và ông Phạm Linh V phải chịu
5.000.000 đồng (năm triệu đồng) chi phí giám định, bà Nguyễn Thị Thanh N đã
nộp tạm ứng và đã chi phí xong nên bà S và ông V có nghĩa vụ hoàn trả lại
5.000.000 đồng (năm triệu đồng) cho bà N.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu của người được thi hành án (đối với số tiền phải
trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền,
hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật
Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại
phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được
bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Quảng Ngãi;
- VKSND Khu vực 1 - Quảng Ngãi;
- THADS tỉnh Quảng Ngãi;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huỳnh Thị Kim Quyên
7
8
9
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 04/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 04/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 04/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm