Bản án số 993/2026/DS-PT ngày 20/05/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 993/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 993/2026/DS-PT ngày 20/05/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 993/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất nguyên đơn đang sử dụng mà bị đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 993/2026/DS-PT Bản án số 993/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 993/2026/DS-PT Bản án số 993/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 993/2026/DS-PT
Ngày: 20-5-2026
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất
và yêu cầu hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thương
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Trí Thức
Ông Trương Văn Tâm
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Vy Thư Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Ông Thái Quốc Bảo – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh sở 1, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số
394/2026/TLPT-DS ngày 06 tháng 02 năm 2026 về việc “Tranh chấp quyền sử
dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sthẩm số 98/2025/DSST ngày 26-9-2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực X, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2732/2026/QĐ-PT ngày
21 tháng 4 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa số 6354/2026/QĐ- PT ngày 05
tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Tấn L, sinh năm 1948 (đã chết ngày 22/7/2025)
và bà Trần Thị Thanh L1, sinh năm 1953 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp H, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông L:
+ Bà Trần Thị Thanh L1, sinh năm 1953 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp H, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Ông Hà Tấn Trần Q, sinh năm 1973 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp P, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Bà Hà Thị Trần G, sinh năm 1976 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp H, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Bà Hà Thị Trần H, sinh năm 1978 (vắng mặt);
2
Địa chỉ: Ấp H, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Bà Hà Thị Trần D, sinh năm 1981 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp H, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Ông Hà Tấn Trần A, sinh năm 1983 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp H, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Bà Hà Thị Trần L2, sinh năm 1985 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp P, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Bà Hà Thị Trần H1, sinh năm 1989 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp H, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Trần Thị Thanh L1
những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Tấn L: Ông Phùng
Văn H2, sinh năm 1980 (có mặt);
Địa chỉ: Số A N, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn:Nguyễn Thị H3, sinh năm 1968 (vắng mặt);
Địa chỉ: Số E T, tổ F, ấp H, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn:
+ Bà Dương Ngọc N, sinh năm 2002 (vắng mặt);
+ Hoặc bà Trần Thị Ngọc H4, sinh năm 2004 (vắng mặt);
+ Hoặc ông Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1990 (có mặt);
Cùng địa chỉ: D M, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đặng Đ1, sinh năm 1957 (có mặt) và Trần Thị P, sinh năm 1959
(có mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp H, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Đ1: Ông Phùng Văn H2, sinh năm
1980 (có mặt);
Địa chỉ: Số A N, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Thạch Bảo G1, sinh năm 1992 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp H, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Trương Thị G2, sinh năm 1969 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp H, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo uquyền của G2: Ông Phùng Văn H2, sinh năm
1980 (có mặt);
Địa chỉ: Số A N, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Thị N1, sinh năm 1947 (có mặt) và ông Trần Ngọc H5, sinh năm
1943 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp H, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh.
3
Người đại diện theo ủy quyền của N1: Ông Phùng Văn H2, sinh năm
1980 (có mặt);
Địa chỉ: Số A N, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Nguyễn Việt Q1, sinh năm 1985 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
và bà Hà Thị Trần L2, sinh năm 1985 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp H, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Sở Nông nghiệp i trường tỉnh B (nay Sở Nông nghiệp Môi
trường Thành phố H).
Địa chỉ: F L, phường S, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Toàn T Giám đốc (vắng
mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Khắc B Phó Giám đốc Chi nhánh
Văn phòng đăng ký đất đai huyện L (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Người kế thừa quyền nghĩa vụ ttụng của Ủy ban nhân dân huyện L:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Thanh P1 Chủ tịch (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Mạch Văn L3 Trưởng phòng Kinh tế
xã L (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị H3.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Theo đơn khởi kiện quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn
người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Năm 1978, vợ chồng ông Tấn L Trần Thị Thanh L1 khai phá được
một mảnh đất ở phần chân gò có diện tích khoảng 500m² thuộc thửa đất số 27 tờ
bản đồ 19 (cũ) tại L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là ấp H, xã L, Thành
phố Hồ Chí Minh) (sau đây gọi tắt thửa đất số 27). Sau khi khai phá thì ông
Hà Tấn LTrần Thị Thanh L1 dựng căn nhà tạm trên đất để ở.
Năm 1988, ông Tấn L Trần Thị Thanh L1 cho cậu ruột của ông
Tấn L là ông Văn B1 một phần diện tích đất. Năm 1991, ông Văn B1 xây
căn nhà cấp 4 đến năm 1998 ông Văn B1 tách phần đất được ông Tấn
L cho thành 03 phần: Một phần ông Văn B1 cho cháu Phan Thị C (sau
này bà Phan Thị C bán lại cho vợ chồng ông Đặng Đ1 Trần Thị P), một phần
bán cho vợ chồng bà Trương Thị G2, phần còn lại có căn nhà thì ông Lê Văn B1
cho con gái ruột Thị Ngọc Á. Năm 2010, Thị Ngọc Á bán lại
phần nhà đất của mình cho vợ chồng ông Trần Ngọc H5Lê Thị N1.
Sau khi cho ông Văn B1 một phần diện tích đất thì diện tích đất còn lại
của ông Tấn L Trần Thị Thanh L1 khoảng 200m², hiện nay thuộc thửa
đất số 265 và thửa đất số 37, tờ bản đồ số 106, tọa lạc tại ấp H, xã L, Thành phố
4
Hồ Chí Minh (sau đây gọi tắt là thửa đất số 265 và thửa đất số 37). Quá trình s
dụng phần còn lại của thửa đất số 265 và thửa đất số 37 như sau:
- Năm 1988, ông nội của ông Tấn L ông Quý C1 chết được
chôn cất tại phần đất khai phá này. Đến năm 2022 thì dời mộ đi nơi khác.
- Năm 1997, ông Tấn L Trần Thị Thanh L1 sửa chữa lại nhà tạm
thành nhà cấp 4 tiếp tục sinh sống trên căn nhà đó cho đến nay, chưa từng
phát sinh tranh chấp với ai.
- Năm 2001, ông Hà Tấn L cho em ruột là bà Hà Thị N2 (là người tàn tật) ở
nhờ một phần trên đất để Ủy ban nhân dân thị trấn L xây dựng nhà tình thương
cho bà Hà Thị N2. Sau khi bà Hà Thị N2 chết thì ông Hà Tấn L cho cháu ruột là
ông Thạch Bảo G1 (con trai bà Hà Thị N2) tiếp tục ở nhờ tại nhà tình thương đó.
- m 2022, sau khi di dời mộ của ông Hà Quý C1 đi, thì ông Hà Tấn L đã
xây mới lại căn nhà cấp 4, bao gồm cả phần đất trước đây phần mộ của ông
Quý C1. Sau khi xây nhà xong được vài tháng thì do sức khỏe của ông
Tấn L yếu đi nên ông Hà Tấn L chuyển sang sống với gia đình con trai ở gần đó
để tiện chăm sóc cho vợ chồng con gái là Thị Trần L2 ông Nguyễn
Việt Q1 đến nhờ trên căn nhà cấp 4 của ông Tấn L Trần Thị Thanh L1,
cũng là để trông coi nhà.
Trong quá trình sử dụng đất ông Tấn L Trần Thị Thanh L1
khai vào sổ mục kê đất đai và đóng thuế đất đầy đủ cho Nhà nước. Tuy nhiên do
không am hiểu pháp luật nghĩ rằng đất do ông sử dụng ổn định từ xưa đến
nay nên ông chủ quan, không đi làm thủ tục để xin cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất.
Năm 2023, khi thấy hàng xóm sống đối diện được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất thì ông Hà Tấn LTrần Thị Thanh L1 mới làm đơn xin cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích khoảng 200m² này. Tuy
nhiên khi nộp hồ sơ vào thì ông Hà Tấn L mới biết diện tích đất của ông Tấn
L Trần Thị Thanh L1 đã được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh B cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số DL 347544 cho Nguyễn Thị H3 vào ngày
15/5/2023 trong khi ông Tấn L Trần Thị Thanh L1 không bất kỳ giao
dịch hay tranh chấp về diện tích đất liên quan đến Nguyễn Thị H3
Nguyễn Thị H3 cũng không phải người dân trong xóm nhưng lại được cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất này. Diện tích đất theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị H3 bao gồm toàn bnhà đất
của ông Hà Tấn L và 03 hộ liền kề là hộ ông Đặng Đ1, hộ Trương Thị G2
hộ Thị N1. Cả 03 hộ này cũng không giao dịch liên quan đến đất đai
với Nguyễn Thị H3. Do đó, ông Tấn L Trần Thị Thanh L1 khởi kiện
Nguyễn Thị H3 để yêu cầu Tòa án công nhận diện tích đất này cho ông
Tấn LTrần Thị Thanh Lê .
Quá trình giải quyết ván, ngày 22/7/2025 ông Tấn L chết. Ông
Tấn L vợ là Trần Thị Thanh L1 và 07 người con gồm: Ông Tấn Trần
Q, bà Hà Thị Trần G, bà Thị Trần H, Thị Trần D, ông Tấn Trần A,
Thị Trần L2, bà Thị Trần H1. Cha ông Tấn L ông Văn G3,
đã chết năm 1969; mẹ ông L bà Nguyễn Thị T1, đã chết năm 1976. Ngoài
5
những người tên trên thì ông Tấn L không người vợ, con chung, con
riêng, con nuôi nào khác.
Nay Trần Thị Thanh L1 những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố
tụng của ông Hà Tấn L yêu cầu Tòa án giải quyết những nội dung sau:
- Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất số DL 347544, số vào sổ cấp GCN CS 16019 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 15/5/2023 mang tên bà Nguyễn Thị H3.
- Công nhận diện tích đất theo đo vẽ thực tế 208,1m² thuộc thửa đất số
37 thửa đất số 265 (trong đó diện tích 192,3m² thuộc thửa đất số 265 diện
tích 15,8m² thuộc thửa đất số 37) thuộc quyền sử dụng của ông Tấn L và
Trần Thị Thanh Lê .
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bổ sung yêu cầu Tòa án hủy một phần
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 7844898 do Ủy ban nhân dân huyện L
cấp cho ông Nguyễn N3 ngày 06/11/1997 đối với diện tích 668m² thuộc thửa đất
số 27 hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 068751 do Ủy
ban nhân dân huyện L cấp cho Thị M ngày 04/9/2002 đối với diện tích
668m² thuộc thửa đất số 27.
Nguyên đơn xác định phần diện tích đất đã cho ông Văn B1 thì nay
nguyên đơn không yêu cầu nữa, nguyên đơn chỉ yêu cầu giải quyết phần
đất còn lại theo đo vẽ thực tế là 208,1m².
[2] Quá trình t tng b đơn người đại din theo y quyn ca b đơn
thng nht trình bày:
Về nguồn gốc đất: Năm 1970, ông Nguyễn N3 khai hoang được diện tích
đất khoảng hơn 5.000m² tại H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Rịa - Vũng Tàu (nay
ấp H, L, Thành phố Hồ Chí Minh). Đến ngày 06/11/1997, ông Nguyễn N3
được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sK
7844898 với diện tích 5.343m² thuộc thửa đất số 27 thửa đất số 28. Trong đó
diện tích đất thuộc thửa đất số 27 668m² diện tích đất thuộc thửa đất số 28
là 4.675m².
Năm 2000, ông Nguyễn N3 chuyển nhượng diện tích 295m² thuộc một
phần thửa đất số 28 cho ông Trần Thanh H6. Sau đó ông Trần Thanh H6 được
Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu cấp sổ số R 438358 ngày 11/02/2000
với diện tích 295m² như trên.
Đến năm 2002, Thị M được ông Nguyễn Ngọ T2 cho diện tích còn
lại của thửa đất số 28 và toàn bộ thửa đất số 27. Ngày 04/9/2002, Thị M
được Ủy ban nhân dân huyện L cấp sổ số V 068751 với diện tích 5.048m² thuộc
thửa đất số 27 thửa đất số 28. Trong đó diện tích đất thuộc thửa đất số 27
668m² và diện tích đất thuộc thửa đất số 28 là 4.380m².
Sau khi được cấp sổ thì từ năm 2002-2004 bà Tô Thị M đã chuyển nhượng
cho rất nhiều người, cụ thể:
- Chuyển nhượng cho Thị N4, diện tích 191,6m² thuộc thửa đất số
28;
6
- Chuyển nhượng cho ông Trần C2 diện tích 153m² thuộc thửa đất số 28;
- Chuyển nhượng cho Phạm Thị H7 diện tích 125m² thuộc thửa đất số
28;
- Chuyển nhượng cho ông Nguyễn Minh T3 diện tích 127m² thuộc thửa
đất số 28;
- Chuyển nhượng cho Đào Thị Kim L4 diện tích 156m² thuộc thửa đất
số 28;
- Chuyển nhượng cho bà Lê Thị N5 diện tích 144m² thuộc thửa đất số 28;
- Chuyển nhượng cho ông Đinh Tấn H8 diện tích 209m² thuộc thửa đất số
28;
- Chuyển nhượng cho bà Trần Thị Thanh V diện tích 275m² thuộc thửa đất
số 28;
- Chuyển nhượng cho ông Đoàn Văn L5 diện tích 164m² thuộc thửa đất số
28;
Diện tích còn lại của thửa đất số 27 thửa đất số 28 sau chuyển nhượng
3.667,4m². Trong đó diện tích thửa đất số 27 668m² diện tích thửa đất số
28 là 2.999,4m².
Đến năm 2015Tô Thị M chết. Sau khi bà Thị M chết thì bà Nguyễn
Thị H3 được nhận thừa kế toàn bộ di sản của Thị M do các anh em trong
gia đình (ông Nguyễn Thanh T4, Nguyễn Thị H9, ông Nguyễn N6) đã lập văn
bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, văn bản từ chối nhận di sản và hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất lại cho bà Nguyễn Thị H3. Sau khi nhận di sản thừa
kế thì ngày 15/12/2022 Nguyễn Thị H3 đ nghị cấp đổi Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Đến ngày 15/5/2023, Nguyễn Thị H3 được cấp các Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất mới, trong đó có diện tích 484,3m² thuộc thửa đất
số 265 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DL 347544. Đến nay
Nguyễn Thị H3 người đang đứng tên quyền sử dụng đất này chưa chuyển
nhượng, tặng cho, cầm cố, thế chấp cho bất kỳ ai khác.
Về quá trình sdụng đất: Sau khi được cấp sổ thì ông Nguyễn N3, bà
Thị M đã chuyển nhượng rất nhiều phần đất thuộc thửa đất s27 thửa đất số
28 cho nhiều người khác nhau, điều này chứng minh việc ông Nguyễn N3, bà
Thị M có sử dụng đất. Cách đây một thời gian, bà Nguyễn Thị H3 thấy có một số
hộ dân đến làm nhà trên thửa đất số 265 nhưng do bà Nguyễn Thị Hồng N7
rằng sổ rồi nên cho họ đó một thời gian cũng không sao. Tuy nhiên đến
năm 2023 thì hai bên xảy ra tranh chấp nên vợ chồng ông Tấn L mới khởi
kiện bà Nguyễn Thị H3 đến Tòa án.
Nay trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu độc lập của
những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Nguyễn Thị H3 không đồng
ý và đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị H3, cụ thể:
- Công nhận cho Nguyễn Thị H3 được quyền sử dụng đối với phần đất
diện tích 484,3m² thuộc thửa đất số 265 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền
7
sử dụng đất số DL 347544 số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 16019 ngày
15/5/2023 và phần diện tích 15,8m² thuộc thửa đất số 37.
- Buộc ông Tấn L Trần Thị Thanh L1 những người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trên phần đất thuộc
quyền sử dụng hợp pháp của Nguyễn Thị H3, hoàn trả nguyên trạng diện tích
đất mà ông Tấn L Trần Thị Thanh L1 những người quyền lợi nghĩa
vụ liên quan đang chiếm giữ trái pháp luật nằm trong tổng diện tích đất 484,3m²
thuộc thửa đất số 265 và phần đất có diện tích 15,8m² thuộc thửa đất số 37.
[3] Quá trình t tng, những người quyn lợi nghĩa vụ liên quan trình
bày:
- Người đại diện theo ủy quyền của những người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan có yêu cầu độc lập là ông Phùng Văn H2 trình bày:
+ Đối với diện tích đất của ông Đặng Đ1 và bà Trần Thị P đang sử dụng:
Ông Đặng Đ1 Trần Thị P hiện nay đang sử dụng một phần thửa đất số 265.
Nguồn gốc diện tích đất này là do ông Tấn L khai phá, sau đó ông Tấn L
cho ông Văn B1 sử dụng một phần đất đến năm 1998 thì ông Văn B1
cho cháu ruột bà Phan Thị C phần đất này. Đến năm 1999 thì Phan Thị C
bán lại cho vợ chồng ông Đặng Đ1 theo giấy sang nhượng đất viết tay ngày
30/6/1999. Từ năm 1999 vợ chồng ông Đặng Đ1 xây nhà cấp 4, sinh sống ổn
định trên thửa đất này cho đến nay, không xảy ra tranh chấp với ai. Thửa đất của
ông Tấn L giáp ranh với thửa đất của Thị M (mẹ ruột của bị đơn
Nguyễn Thị H3). Giữa thửa đất của bà Tô Thị M với thửa đất của ông Tấn L
con đường xe bò, bên này đường xe bò là đất của ông Tấn L, bên kia
đường xe đất của Thị M. Gia đình Nguyễn Thị H3 chưa bao giờ
sử dụng phần đất thuộc thửa đất số 265 nhưng không hiểu tại sao lại được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất này.
Do đó, nay ông Đặng Đ1 Trần Thị P đơn yêu cầu độc lập đề nghị Toà án
giải quyết những vấn đề sau:
* Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số DL 347544, số vào sổ cấp GCN CS 16019 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 15/5/2023 mang tên bà Nguyễn Thị H3.
* Công nhận phần đất diện tích theo đo vẽ thực tế là 101,4m² thuộc một
phần thửa đất số 265 thuộc quyền sử dụng của ông Đặng Đ1 và bà Trần Thị P.
+ Đối với diện tích đất của Trương Thị G2 đang sử dụng:
Trương Thị G2 hiện nay đang sử dụng phần thửa đất số 265. Nguồn gốc diện
tích đất này do ông Tấn L khai phá, sau đó ông Tấn L cho ông Văn
B1 sử dụng một phần và đến năm 1998 thì ông Văn B1 bán lại cho vợ chồng
Trương Thị G2 ông Văn C3 phần đất này theo giấy sang nhượng đất viết
tay ngày 11/3/1998. Từ năm 1998 thì vợ chồng Trương Thị G2 xây nhà, sinh
sống ổn định trên thửa đất cho đến nay, không xảy ra tranh chấp với ai. Thửa đất
của ông Tấn L giáp ranh với thửa đất của Thị M (mẹ ruột của bị đơn
Nguyễn Thị H3). Giữa thửa đất của Tô Thị M với thửa đất của ông Hà Tấn
L con đường xe bò, bên này đường xe đất của ông Tấn L, bên kia
8
đường xe đất của Thị M. Gia đình Thị M, Nguyễn Thị H3
chưa bao giờ sử dụng phần đất thuộc thửa đất số 265 nhưng không hiểu tại sao
lại được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất này.
Chồng Trương ThG2 là ông Văn C3 đã bỏ nhà đi biệt tích khoảng
07-08 năm nay, không liên lạc với gia đình. Do đó, nay Trương Thị G2
đơn yêu cầu độc lập đề nghị Toà án giải quyết những vấn đề sau:
* Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số DL 347544, số vào sổ cấp GCN CS 16019 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 15/5/2023 mang tên bà Nguyễn Thị H3.
* Công nhận phần đất diện tích theo đo vẽ thực tế 86,3m² thuộc một
phần thửa đất số 265 thuộc quyền sử dụng của bà Trương Thị G2.
+ Đối với diện tích đất bà Lê Thị N1 ông Trần Ngọc H5 đang sử dụng:
Thị N1 ông Trần Ngọc H5 hiện nay đang sử dụng một phần thửa đất số
265. Nguồn gốc diện tích đất này do ông Tấn L khai phá, sau đó ông
Tấn L cho ông Văn B1 sdụng một phần đến năm 1998 thì ông Văn
B1 cho vợ chồng con gái Thị Ngọc Á ông Nguyễn Văn Đ2 phần đất
này. Năm 2010, vợ chồng bà Thị Ngọc Á bán lại cho vợ chồng bà Lê Thị N1
theo giấy sang nhượng nhà đất ngày 23/7/2010, lúc đó trên đất đã có sẵn căn nhà
cấp 4 do ông Văn B1 xây dựng tnăm 1991. Từ năm 2010 thì vợ chồng
Thị N1 sinh sống ổn định trên thửa đất này cho đến nay, không xảy ra tranh
chấp với ai. Thửa đất của ông Tấn L giáp ranh với thửa đất của Thị M
(mẹ ruột của bị đơn Nguyễn Thị H3). Giữa thửa đất của Thị M với
thửa đất của ông Tấn L con đường xe , con đường này giáp đất của vợ
chồng Thị N1, bên này đường xe bò đất của ông Tấn L, bên kia
đường xe đất của Thị M. Hiện nay đường xe này không còn nữa
đã được người dân sdụng để ở. Gia đình Thị M, Nguyễn Thị H3
chưa bao giờ sử dụng phần đất thuộc thửa đất số 265 nhưng không hiểu tại sao
lại được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất này.
Do đó, nay ông Trần Ngọc H5 bà Thị N1 đơn yêu cầu độc lập đề
nghị Toà án giải quyết những vấn đề sau:
* Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số DL 347544, số vào sổ cấp GCN CS 16019 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 15/5/2023 mang tên bà Nguyễn Thị H3.
* Công nhận phần đất diện tích theo đo vẽ thực tế 104,3m² thuộc thửa
đất số 265 thuộc quyền sử dụng của ông Trần Ngọc H5 Lê Thị N1.
- Ông Thạch Bảo G1 trình bày:
Ông Thạch Bảo G1 con trai của Thị N2 cháu của ông
Tấn L (ông Tấn L anh ruột của Thị N2). Năm 2001, Ủy ban nhân
dân thị trấn L cấp cho Thị N2 một khoản tiền đxây nhà tình thương nên
ông Tấn L đã cho bà Thị N2 mượn một phần đất để xây nhà tình thương,
chính là phần đất thuộc một phần khu D trên sơ đồ vị trí ngày 21/4/2025 của Chi
nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện L. Từ đó đến nay mẹ con ông Thạch
Bảo G1 xây nhà sinh sống trên phần đất này. Hiện nay Thị N2 đã chết,
9
chỉ còn ông Thạch Bảo G1 sinh sống trên căn nhà tình thương này.
Ông Thạch Bảo G1 xác định diện tích đất căn nhà tình thương ông
đang ở là đất của vợ chồng ông Tấn L, gia đình ông Thạch Bảo G1 chỉ ở nhờ
trên đất nên không có bất cứ yêu cầu gì. Ông Thạch Bảo G1 đề nghị Tòa án chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nếu trường hợp Toà án không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông Thạch Bảo G1 sẽ tự nguyện di
dời để trả lại đất cho chủ đất không bất cứ yêu cầu bồi thường về công
trình trên đất.
- Sở Nông nghiệp và Môi trường Thành phố HCMinh trình bày:
Quá trình cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DL 347544 do
Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (nay Sở Nông nghiệp
và Môi trường Thành phố HChí Minh) cấp ngày 15/5/2023 cho bà Nguyễn Thị
H3 được thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục quy định. Do đó, đối với yêu cầu
của nguyên đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về việc yêu cầu
hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên thì đnghị Tòa án giải quyết
theo quy định của pháp luật.
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L trình bày:
Thửa đất số 265 trước đây thửa đất số 27. Ủy ban nhân dân huyện L
(cũ) cấp Giấy chứng nhận quyền s dụng đất lần đầu số K 78489 cho ông
Nguyễn N3 ngày 06/11/1997 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V
068751 cho Thị M ngày 04/9/2002 là đúng theo trình tự, thủ tục tại thời
điểm giải quyết hồ sơ nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.
- Ông Nguyễn Việt Q1 và bà Hà Thị Trần L2 trình bày:
Thị Trần L2 con của ông Tấn L Trần Thị Thanh .
Hiện nay Thị Trần L2 ông Nguyễn Việt Q1 đang sống trên căn nhà cấp 4
của vợ chồng ông Hà Tấn L thuộc thửa đất số 265 và thửa đất số 37 để trông coi
nhà cho vợ chồng ông Tấn L. Do đây tài sản của vợ chồng ông Tấn L,
vợ chồng bà Thị Trần L2 chỉ nhờ trông coi nhà hộ cha mẹ nên trong vụ
án này, bà Thị Trần L2 ông Nguyễn Việt Q1 không bất cứ yêu cầu gì. Đề
nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
[4] Quá trình t tng, nhng người làm chứng trình bày:
- Ông Nguyễn T5 trình bày: Ông Nguyễn T5 sinh sống cạnh khu đất
tranh chấp từ năm 1986 đến nay. Khi ông Nguyễn T5 đến đây thì đã thấy ông
Tấn L quản khu đất tranh chấp. Do khu vực đó đất cát nên lúc đầu
không canh tác gì, sau đó một thời gian thì ông Tấn L một số hộ dân khác
mới m nhà sinh sống trên đất. Ông Nguyễn T5 xác nhận biết vợ chồng
ông Nguyễn N3 Thị M nhưng đất của họ nằm khu vực bên kia đường,
còn khu vực bên này đường (tức phần đất tranh chấp) là đất của ông Tấn
L. Ông Nguyễn T5 xác nhận chưa bao giờ thấy vợ chồng ông Nguyễn N3
Thị M sử dụng, quản diện tích đất tranh chấp người sử dụng đất txưa
đến nay các hộ ông Tấn L, bà Thị N2, ông Đặng Đ1, Trương Thị
G2, ông Trần Ngọc H5. Từ trước đến nay ông Nguyễn T5 cũng chưa bao giờ
10
thấy giữa gia đình ông Nguyễn N3 với các hộ dân này xảy ra tranh chấp về
thửa đất này.
- Ông Trần Thế P2 trình bày: Ông Trần Thế P2 tới khu vực ấp H tnăm
1978 đến nay. Khi về đây thì ông Trần Thế P2 thấy ông Ba L6 (ông Tấn L)
đang quản khu đất tranh chấp, còn xung quanh không ai ở, sau đó mấy
năm có thêm một số hộ dân khác tới ở như hộ ông Nguyễn T5, hộ ông Trần K.
Ông nội của ông Hà Tấn L ông Quý C1 chết cũng được chôn cất trên
thửa đất tranh chấp, sau đó em gái của ông Tấn L Thị N2 cũng xây
căn nhà tình thương trên phần đất đó, rồi tiếp đến ông Văn B1 sau này
là một số hộ dân khác lần lượt xây các căn nhà cấp 4 trên thửa đất này để ở. Ông
Trần Thế P2 chưa bao giờ thấy vợ chồng ông Nguyễn N3 bà Thị M canh tác,
quản lý hay sinh sống trên thửa đất này vì đất của vợ chồng họ ở bên kia đường,
không liên quan đến phần đất bên này.
- Nguyễn Thị T6 trình bày: Nguyễn Thị T6 là vợ của ông Văn
B1, ông Văn B1 đã chết từ lâu. Nguyễn Thị T6 xác nhận ông Văn B1
là cậu ruột của ông Hà Tấn L nên vào năm 1991 thì ông Tấn L cho vợ chồng
ông Văn B1 một phần đất đxây nhà ở. Phần đất này nguồn gốc do vợ
chồng ông Tấn L khai phá vào năm 1978. Sau khi được ông Tấn L cho
đất thì năm 1998 ông Văn B1 bán một phần đất trên cho vợ chồng ông
Văn C3Trương Thị G2. Năm 1999, ông Văn B1 cho cháu ruột là bà Phan
Thị C một phần, sau này bà Phan Thị C bán lại cho vợ chồng ông Đặng Đ1.
Đến năm 2010, vợ chồng Nguyễn Thị T6 chuyển đi nơi khác sống nên
cho vợ chồng con gái Thị Ngọc Á phần đất căn nhà này để sau
này bà Thị Ngọc Á bán lại cho vợ chồng Thị N1. Nguyễn Thị T6
khẳng định chưa bao giờ thấy gia đình Nguyễn Thị H3 sinh sống, quản
thửa đất tranh chấp cũng không biết tại sao gia đình họ lại được cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Nguyễn Thị T6 xác nhận phần đất ông
Tấn L đã cho vợ chồng ông Văn B1 Nguyễn Thị T6 thì vợ chồng ông
Văn B1 đã bán lại cho những người khác như đã trình bày trên, nên nay v
chồng bà Nguyễn Thị T6 không còn liên quan gì đến thửa đất tranh chấp nữa.
- Trần Thị Bích P3 trình bày: Gia đình Trần Thị Bích P3 sống gần
thửa đất tranh chấp nên Trần Thị Bích P3 biết về nguồn gốc thửa đất. Cụ
thể là thửa đất này được gia đình Nguyễn Thị H3 khai phá vào năm 1985
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2013. Từ trước đến nay
gia đình Nguyễn Thị H3 chủ thể duy nhất sử dụng liên tục, ổn định thửa
đất này không bị tranh chấp với ai. Do đó việc những người khác tý lấn
chiếm và xây dựng nhà trên đất của Nguyễn Thị H3 hành vi vi phạm pháp
luật.
Tại Bản án dân sự thẩm số 98/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân Khu vực X, Thành phố Hồ Chí Minh, đã tuyên xử:
1. Chp nhn yêu cu khi kin của nguyên đơn Trn Th Thanh L1,
ông Tn L (người kế tha quyền, nghĩa v t tng ca ông Tn L gm:
Trn Th Thanh L1, ông Tn Trn Q, Th Trn G, Th Trn
H, Th Trn D, ông Tn Trn A, Th Trn L2, bà Th Trn
11
H1). Chp nhn yêu cầu độc lp của người quyn lợi nghĩa vụ liên quan ông
Đặng Đ1, Trn Th P; Trương Thị G2; Th N1, ông Trn Ngc H5
đối vi bà Nguyn Th H3 v vic tranh chp quyn s dụng đất và Yêu cu hy
giy chng nhn quyn s dụng đất, c th:
- Công nhn cho Trn Th Thanh L1 những người kế tha quyn,
nghĩa vụ t tng ca ông Tn L gm: Trn Th Thanh L1, ông Tn
Trn Q, Th Trn G, Th Trn H, Th Trn D, ông Tn
Trn A, Th Trn L2, Th Trn H1 đưc quyn s dng din tích
đất 208,1m² thuc tha 265 t bản đồ 106 (tương ng vi Khu D) din tích
15,8m² thuc tha 37 t bản đồ 106 ta lc ti xã L, Thành ph H Chí Minh
cùng công trình, kiến trúc trên đt có tọa độ 10,5,6,7,9,10 theo Sơ đồ đo vẽ ngày
21/4/2025 ca Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyn L.
- Công nhn cho Th N1 ông Trn Ngc H5 đưc quyn s dng
diện tích đất 104,3m² thuc tha 265 t bản đ 106 (tương ng vi Khu A) ta
lc ti L, Thành ph H Chí Minh cùng công trình, kiến trúc trên đất ta
độ 1,2,3,12,1 theo đồ đo v ngày 21/4/2025 ca Chi nhánh Văn phòng đăng
ký đất đai huyn L.
- Công nhn cho ông Đặng Đ1 và Trn Th P đưc quyn s dng din
tích đất 101,4m² thuc tha 265 t bản đ 106 (tương ng vi Khu B) ta lc ti
L, Thành ph H Chí Minh cùng công trình, kiến trúc trên đất tọa độ
3,4,11,12,3 theo Sơ đồ đo vẽ ngày 21/4/2025 ca Chi nhánh Văn phòng đăng
đất đai huyn L.
- Công nhn cho Trương Thị G2 đưc quyn s dng diện tích đất
86,3m² thuc tha 265 t bản đồ 106 (tương ng vi Khu C) ta lc ti L,
Thành ph H Chí Minh cùng công trình, kiến trúc trên đất có tọa độ 4,5,10,11,4
theo đồ đo vẽ ngày 21/4/2025 ca Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai
huyn L.
- Hy Giy chng nhn quyn s dụng đt, quyn s hu nhà tài sn
khác gn lin với đt s DL 347544, s vào s cp GCN CS 16019 do S Tài
nguyên và Môi trường tnh B cp ngày 15/05/2023 mang tên bà Nguyn Th H3.
- Hy mt phn Giy chng nhn quyn s dụng đt s K 7844898 do
UBND huyn L (nay UBND L) cp cho ông Nguyn N3 ngày 06/11/1997
đối vi din tích 668m² thuc tha 27 t bản đồ s 19.
- Hy mt phn Giy chng nhn quyn s dụng đất s V 068751 do
UBND huyn L cp cho Th M ngày 04/9/2002 đối vi din tích 668m²
thuc tha 27 bản đồ s 19.
2. Không chp nhn toàn b yêu cu phn t ca b đơn Nguyn Th H3
v việc đề ngh Tòa án công nhn cho H3 đưc quyn s dng hợp pháp đi
vi phần đất din tích 484,3m² thuc thửa đất s 265, t bản đồ s 106
phn din tích 15,8m² thuc tha 37 t bản đồ s 106 ta lc ti p H, L,
Thành ph H Chí Minh buc ông Tn L, Trn Th Thanh L1 cùng
những người quyn lợi nghĩa vụ liên quan tháo d toàn b công trình hin
hu trên phần đất tranh chp.
12
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền
kháng cáo theo luật định.
Ngày 30-9-2025, bị đơn Nguyn Th H3 (do bà Dương Ngọc N là người
đại din) đơn kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án thẩm,
giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định pháp luật.
Tại cấp phúc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố và yêu cầu kháng cáo.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan giữ nguyên yêu cầu độc lập.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
tại phiên tòa:
- Về tố tụng: Đơn kháng cáo của b đơn nộp trong thời hạn luật định.
Những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục tố
tụng theo quy định. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền
nghĩa vụ tố tụng.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 3 Điều 308;
Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy bản án thẩm, giao hồ về cho Tòa án
cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, trên sở kết
quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của bị đơn nộp trong thời hạn luật định nên được chấp
nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Đương sự vắng mặt thuộc trường hợp hoặc đơn đề nghị xét x
vắng mặt hoặc đã ủy quyền tham gia tố tụng hoặc được Tòa án triệu tập hợp lệ
đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không sự kiện bất khả kháng hoặc trở
ngại khách quan. Do vậy Hội đồng xét xử vụ án vắng mặt các đương sự này.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị H3 (do Dương
Ngọc N là người đại diện):
[2.1] Trong vụ án này có các yêu cầu của đương sự, cụ thể như sau:
Nguyên đơn có yêu cầu khởi kiện:
- Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 7844898 do Ủy
ban nhân dân huyện L cấp cho ông Nguyễn N3 ngày 06-11-1997 đối với diện
tích đất 668m² thuộc thửa đất số 27 và hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số V 068751 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp cho Thị M ngày
04-9-2002 đối với diện tích đất 668m² thuộc thửa đất số 27.
13
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất số DL 347544, số vào sổ cấp GCN CS 16019 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 15-5-2023 cho bà Nguyễn Thị H3.
- Công nhận diện ch đất theo đo vẽ thực tế là 208,1m² thuộc thửa đất s
37 thửa đất số 265 (trong đó diện tích đất 192,3m² thuộc thửa đất s265
diện tích đất 15,8m² thuộc thửa đất số 37) thuộc quyền sử dụng của ông Tấn
L và bà Trần Thị Thanh Lê .
Bị đơn có yêu cầu phản tố:
- Công nhận cho Nguyễn Thị H3 được quyền sdụng đối với phần đất
diện tích 484,3m² thuộc thửa đất số 265 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số DL 347544 số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 16019 ngày 15-5-
2023 và phần diện tích đất 15,8m² thuộc thửa đất số 37.
- Buộc ông Tấn L Trần Thị Thanh L1 những người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trên phần đất thuộc
quyền sử dụng hợp pháp của Nguyễn Thị H3, hoàn trả nguyên trạng diện tích
đất mà ông Tấn L Trần Thị Thanh L1 những người quyền lợi nghĩa
vụ liên quan đang chiếm giữ trái pháp luật nằm trong tổng diện tích đất 484,3m²
thuộc thửa đất số 265 và phần đất có diện tích 15,8m² thuộc thửa đất số 37.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:
- Ông Đặng Đ1 Trần Thị P yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số DL 347544 do
Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh B cấp ngày 15-5-2023 cho Nguyễn Thị
H3; Công nhận phần đất diện tích theo đo vẽ thực tế 101,4m² thuộc một phần
thửa đất số 265 thuộc quyền sử dụng của ông Đặng Đ1Trần Thị P.
- Trương Thị G2 yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số DL 347544 do Sở Tài
nguyên Môi trường tỉnh B cấp ngày 15-5-2023 cho Nguyễn Thị H3; Công
nhận phần đất diện tích theo đo vẽ thực tế 86,3m² thuộc một phần thửa đất số
265 thuộc quyền sử dụng của bà Trương Thị G2.
- Lê Thị N1 ông Trần Ngọc H5 yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số DL 347544 do
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 15-5-2023 cho bà Nguyễn Thị H3;
Công nhận phần đất diện tích theo đo vẽ thực tế 104,3m² thuộc một phần thửa
đất số 265 thuộc quyền sử dụng của ông Trần Ngọc H5 Lê Thị N1.
Thấy rằng các yêu cầu nêu trên của đương sự đều là tranh chấp đất đai, bắt buộc
phải tiến hành hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã/phường nơi có đất, tuy nhiên
hồ vụ án chthủ tục hòa giải sở đối với tranh chấp đất đai liên quan
đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn phần yêu cầu phản tố
của bị đơn đối với nguyên đơn, còn tranh chấp theo yêu cầu phản tố của bị đơn
đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thì chưa được
tiến hành hòa giải tại Ủy ban nhân dân nơi có đất.
[2.2] Như mục [2.1] đã nêu về yêu cầu phản tố của bị đơn đối với người
quyền lợi nghĩa vụ liên quan yêu cầu độc lập. Những người quyền lợi
14
nghĩa vụ liên quan yêu cầu độc lập về việc công nhận quyền sdụng đất cho
họ.
Theo ông Đặng Đ1 Trần Thị P thì diện tích đất ông đang yêu cầu công
nhận nguồn gốc do ông Tấn L khai phá, sau đó ông Tấn L cho ông
Văn B1 sử dụng đến năm 1998 thì ông Văn B1 cho cháu ruột
Phan Thị C phần đất này. Đến năm 1999 Phan Thị C chuyển nhượng lại cho
vợ chồng ông Đặng Đ1 theo giấy sang nhượng đất viết tay ngày 30-6-1999. Từ
năm 1999 vợ chồng ông Đặng Đ1 xây ncấp 4, sinh sống ổn định trên phần
đất này cho đến nay, không xảy ra tranh chấp với ai.
Trương Thị G2 xác định diện ch đất đang yêu cầu công nhận
nguồn gốc do ông Tấn L khai phá, sau đó ông Tấn L cho ông Văn
B1 sử dụng và đến năm 1998 thì ông Văn B1 chuyển nhượng lại cho vợ
chồng Trương Thị G2 ông Văn C3 phần đất này theo giấy sang nhượng
đất viết tay ngày 11-3-1998. Từ năm 1998 vợ chồng Trương Thị G2 xây
dựng nhà, sinh sống ổn định trên đất cho đến nay, không xảy ra tranh chấp với
ai.
Về phía Thị N1 ông Trần Ngọc H5 cho rằng diện tích đất ông
đang yêu cầu công nhận nguồn gốc do ông Tấn L khai phá, sau đó ông
Tấn L cho ông Văn B1 sử dụng đến năm 1998 thì ông Văn B1 cho
vợ chồng con gái Thị Ngọc Á ông Nguyễn Văn Đ2 phần đất này. Năm
2010, vợ chồng Thị Ngọc Á chuyển nhượng lại cho vợ chồng Thị
N1 theo giấy sang nhượng nhà đất ngày 23-7-2010, lúc đó trên đất đã có sẵn căn
nhà cấp 4 do ông Văn B1 xây dựng từ năm 1991. Từ năm 2010 thì vợ chồng
Lê Thị N1 sinh sống ổn định trên diện tích đất này cho đến nay, không xảy ra
tranh chấp với ai.
Như vậy những người quyền lợi nghĩa vụ liên quan yêu cầu công
nhận quyền sdụng đất cho hxuất phát từ việc họ đã nhận chuyển nhượng
các phần đất này bằng giấy tay của người sdụng đất trước đó. Nên khi giải
quyết tranh chấp liên quan đến yêu cầu độc lập của những người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan cũng như yêu cầu của bị đơn đối với những người quyền
lợi nghĩa vụ liên quan yêu cầu độc lập thì cần phải đưa những người đã
chuyển nhượng (tặng cho) các diện tích đất này cho những người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan yêu cầu độc lập vào tham gia tố tụng. Trường hợp
người đã chết thì đưa những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ vào
tham gia để giải quyết triệt để vụ án.
[2.3] Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và qua kết quả đo đạc thực tế
thì diện tích đất nguyên đơn và bị đơn đang tranh chấp là 208,1m² thuc thửa đất
s 265 và diện tích đất 15,8m² thuc thửa đất s 37. Đối vi diện tích đất 15,8m
2
chưa được quan nhà c thm quyn cp Giy chng nhn quyn s
dụng đt cho ai. Tòa án cấp sơ thm công nhận cho nguyên đơn đưc quyn s
dng diện tích đất này nhưng chưa thực hin th tc xác minh tại quan nhà
c thm quyn v điu kin cp Giy chng nhn quyn s dụng đất đối
vi diện tích đất 15,8m
2
.
15
[2.4] Ngoài ra theo li khai ca bà Trương Thị G2 thì diện tích đất bà đang
yêu cu công nhn là tài sn chung ca bà cùng chng là ông Lê Văn C3, nhưng
cách đây 07-08 năm do ông Văn C3 mâu thun v chng, ông
Văn C3 b đi khỏi địa phương cho đến nay không tung tích. Tòa án cấp
thm công nhn quyn s dụng đt cho bà Trương Thị G2 nhưng cũng chưa làm
rõ các vấn đề liên quan đến vic ông Lê Văn C3 b đi khỏi địa phương.
Tòa án cấp thẩm có vi phạm về thủ tục tố tụng chưa thu thập đầy đủ
chứng cứ mà cấp phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được.
Từ phân tích nhận định trên, Hội đồng xét xphúc thẩm thống nhất chấp
nhận kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị H3, hủy toàn bộ bản án dân sự
thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo đúng quy định
của pháp luật.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm chi phí tố tụng: Được xem xét khi Tòa án cấp
sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của Nguyễn Thị H3 (do
Dương Ngọc N người đại diện) được chấp nhận nên không phải chịu án phí.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 3 Điều 308 và Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị H3 (do
Dương Ngọc N người đại diện).
1. Hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 98/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9
năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực X, Thành phố Hồ Chí Minh.
Giao hồ vụ án cho Tòa án cấp thẩm giải quyết lại theo đúng quy
định của pháp luật.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Nguyễn Thị H3 (do Dương Ngọc N người đại diện) không phải
chịu, hoàn trả cho Nguyễn Thị H3 số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm
ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001522 ngày 03 tháng 7 năm 2025
của cơ quan Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Bản án dân sự phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án
(ngày 20-5-2026).
Nơi nhận:
- VKSND TP. Hồ Chí Minh;
- TAND Khu vực X, TP. Hồ Chí Minh;
- Phòng THADS KV X, TP. Hồ Chí Minh;
- THADS TP. Hồ Chí Minh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án (17).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Bùi Thị Thương
16
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 993/2026/DS-PT Bản án số 993/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 993/2026/DS-PT Bản án số 993/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất