Bản án số 546/2026/DS-PT ngày 04/06/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 546/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 546/2026/DS-PT ngày 04/06/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 546/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận Quyết định kháng nghị số 06/QĐ-VKS-DS ngày 13/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Cần Thơ. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 546/2026/DS-PT Bản án số 546/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 546/2026/DS-PT Bản án số 546/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN T
Bản án số: 546/2026/DS-PT
Ngày: 04 - 6 - 2026
V/v tranh chấp di sản thừa kế
theo di chúc
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Bà Mạc Thị Chiên
Bà Lê Thị Minh Trang
Bà Hà Thị Phương Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Thông – Thư ký viên Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Bà Huỳnh Thị Mỹ
Liên Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 04 tháng 6 m 2026, tại trụ sTòa án nhân dân thành phố Cần Thơ,
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sthụ số 463/2026/TLPT-DS ngày 01
tháng 4 năm 2026 về việc: “Tranh chấp di sản thừa kế theo di chúc”.
Do Bản án dân sthẩm số 197/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 2 – Cần Thơ bị kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 609/2026/QĐ-PT ngày 14
tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:Nguyễn Thanh D, sinh năm 1965. (Vắng mặt).
Địa chỉ: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ (nay phường Ô,
thành phố Cần Thơ).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Châu Chí C,
sinh năm 1982, địa chỉ: khu V, phường Ô, thành phố Cần Thơ; Ông Trần Chí D1,
sinh năm 1986, địa chỉ: Khu V, phường Ô, thành phố Cần Thơ; Nguyễn Thị
Kiều T, sinh năm 1986, địa chỉ Tổ A, ấp B, xã V, tỉnh An Giang. (Theo giấy uỷ
quyền ngày 25/3/2025). (Ông D1 có mặt; ông C và bà T vắng mặt).
2
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn P, sinh năm 1962. (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số D L, Khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ (nay
phường Ô, thành phố Cần Thơ).
Người đại diện theo uỷ quyền: Lê Thị C1, sinh năm 1959, địa chỉ: Khu V,
phường Ô, thành phố Cần Thơ. (Theo hợp đồng uỷ quyền ngày 14/4/2025). (Vắng
mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1955. (Có mặt).
Địa chỉ: Số C L, Khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ (nay phường
Ô, thành phố Cần Thơ).
3.2. Ông Nguyễn Tấn T1, sinh năm 1957. (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số A L, Khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ (nay
phường Ô, thành phố Cần Thơ).
3.3. Bà Ngô Thị Thu V, sinh năm 1950. (Có mặt).
Địa chỉ: ấp T, Đ, huyện C, thành phố Cần Thơ (nay làĐ, thành phố Cần
Thơ).
4. Viện kiểm t kháng nghị: Theo Quyết định kháng nghị phúc thẩm số
06/QĐ-VKS-DS ngày 13/10/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực
2 - Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 10 tháng 9 năm 2025, trong quá trình giải quyết vụ
án và tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện nguyên đơn trình bày:
con của ông Nguyễn Văn C2 Đỗ Thị B (mất ngày 05/5/2004),
trước khi qua đời thì cha D lập di chúc ngày 10/7/2012, đã được chứng thực
hợp pháp tại UBND phường C, quận Ô, theo đó cha để lại 1 thửa ruộng cho
để dùng huê lợi vào việc đám tang, xây mồ mả cho cha; còn 01 thửa lớn là thửa 177
thì chia làm 03 phần cho 03 chị em Nguyễn Tấn P, Nguyễn Thanh D Nguyễn
Thị H.
Sau khi cha qua đời vào ngày 04/5/2013, do điều kiện khó khăn nên ông
không làm thủ tục thừa kế được, tất cả đất đai, giấy tờ đất, di chúc đều do trực
tiếp quản lý, không ai tranh chấp.
Đến nay, do tuổi các anh chị em cũng già nên để làm giấy tờ phân chia ổn
định về lâu dài nên bà có liên hệ với các anh chị em để làm thủ tục phân chia, bà H
3
thì đồng ý thực hiện theo di chúc nhưng còn anh Nguyễn Tấn P thì nại nhiều
do tránh mặt, không tham gia thực hiện hồ thủ tục để chia thừa kế như di chúc
cha bà để lại mà cũng không nói lý do gì chính đáng.
Xét thấy việc ông Nguyễn Tấn P không tham gia thực hiện hồ sơ thủ tục để
chia thừa kế như di chúc cha để lại cho chị em bà theo đúng quy định pháp luật
sẽ gây ra nguy cơ thiệt hại quyền và lợi ích hợp pháp ca bà về lâu dài.
1. Yêu cầu tuyên bố di chúc được lập ngày 10/7/2012 của ông Nguyễn Văn
C2 là hợp pháp và có hiệu lực kể từ ngày 05/5/2013.
2. Yêu cầu chia di sản thừa kế theo di chúc được lập ngày 10/7/2012 của ông
Nguyễn Văn C2, cụ thể chia Nguyễn Thanh D, sinh năm 1965, được nhận 1/3
diện tích đất, tương đương 2.819m
2
đất thuộc thửa đất số 177 theo Giấy CNQSDĐ
số BĐ077467 do UBND huyện C cấp cho ông Nguyễn Văn C2 ngày 29/8/2011 (gọi
tắt thửa 177) toàn bộ thửa đất 1019 theo Giấy CNQSDĐ số BĐ077467 do
UBND huyện C cấp cho ông Nguyễn Văn C2 ngày 29/8/2011 (gọi tắt là thửa 1019).
Về tài sản các cây xoài trên đất gồm 97 cây do ông T1 trồng, nguyên đơn
thống nhất sẽ mua lại các cây xoài với giá 45.000.000 đồng.
Đối với việc ông P, ông T1 đã tự chuyển nhượng một phần thửa đất 177 cho
Ngô Thị Thu V thì nguyên đơn ý kiến nếu V yêu cầu công nhận, tách
thửa thì nguyên đơn thống nhất giao bà V là 2.819m
2
. Còn nếu bà V không mua đất
nữa thì nguyên đơn sẽ trả lại cho V số tiền 210.000.000 đồng yêu cầu được
nhận phần diện tích V đã mua. Còn V không đồng ý thì đề nghị Tòa án
tuyên bố vô hiệu việc mua bán đất giữa ông T1, ông P với bà V.
- Bị đơn ông Nguyễn Tấn P trình bày:
Vào ngày 10/7/2012 cha ông ông Nguyễn Văn C2, sinh năm 1925 (Chết
ngày 21/02/2013) có lập di chúc để lại tài sản cho 03 người con gồm:
1/ Nguyễn Tấn P, Nguyễn Thanh DNguyễn Thị H được chia đều phần đất
diện tích 9.190,3m
2
- thửa 177, tờ bản đồ số 04 (loại 2L) - Giấy CN QSDĐ số
CH00531 do UBND huyện C cấp ngày 29/8/2011. Đất toạ lại tại ấp T, xã Đ, huyện
C, thành phố Cần Thơ.
2/ Phần đất diện tích 1.575m
2
- thửa 1019, tờ bản đồ số 04 (loại 2L) - Giấy
CN QSDĐ số CH00530 do UBND huyện C cấp ngày 29/8/2011. Đất toạ lại tại ấp
T, xã Đ, huyện C, thành phố Cần Thơ sẽ giao lại cho bà Nguyễn Thanh D sử dụng
4
để lo việc đám tang xây mồ mả chôn cất cha ông. Các con còn lại không được
quyền tranh chấp hay ngăn cản.
Phần đất diện tích 9.190,3m
2
thuộc thửa 177 cha ông chỉ chia cho 03 người
con mà không chia cho đứa em thứ 7 là ông Nguyễn Tấn T1, người ở chung với cha
ông nên ông đã làm đơn gởi đến xã Đ để nhờ giải quyết. Sau khi tiếp nhận đơn thì
cán bộ xã Đ đã chia phần đất thửa 177 ra làm bốn phần thay vì 03 phần theo di chúc
(Thời điểm đó Nguyễn Thanh D đồng ý) Nguyễn Thanh D đã nhận phần
đất được chia là 2.297,6m
2
.
Riêng phần đất 1.575m
2
của thửa 1019 theo di chúc thì Nguyễn Thanh D
phải có trách nhiệm lo việc đám tang và xây mồ mả chôn cất cha ông. Tuy nhiên khi
cha ông chết thì Nguyễn Thanh D không lo, nên em thứ chín của ông ông
Nguyễn Thanh D2 nước ngoài (Úc) đã lo toàn bộ đám tang cũng như lo mồ mả
cho cha mẹ ông, còn đất thì để trống không ai quản lý.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bị đơn có ý kiến như sau:
- Đối với yêu cầu chia thửa 1019 của nguyên đơn theo di chúc thì bị đơn thống
nhất thực hiện theo di chúc lập ngày 10/7/2012 của ông Nguyễn Văn C2. Nhưng khi
Nguyễn Thanh D nhận thửa 1019 thì phải dùng vào việc lo mồ mả cho ông bà vì
đây tài sản do ông bà để lại. Hoặc nếu sau này bà D có sang bán thửa 1019 thì phải
dùng số tiền bán được vào việc chăm lo mồ mả cho ông bà.
- Đối với yêu cầu chia thửa 177, thì trước đây ông P với ông T1, bà H, bà D
đã chia thửa 177 làm bốn phần, sau đó ông với ông T1 đã bán 02 phần cho bà Ngô
Thị Thu V với giá 210.000.000 đồng, với diện tích 3.900m
2
(03 công tầm lớn).
Nên nay nếuV có yêu cầu tách thửa đất thì bị đơn thống nhất và thống nhất phần
còn của thửa 177 sẽ giao cho bà D, bà H.
- Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan trình bày:
Nguyễn Thị H trình bày; con của ông Nguyễn Văn C2 (mất ngày
04/5/2013) và Đỗ Thị B (mất ngày 05/5/2004), trước khi qua đời thì cha ông
lập di chúc ngày 10/7/2012, theo đó cha bà để lại 01 thửa ruộng cho Nguyễn
Thanh D để dùng huê lợi vào việc đám tang, xây mồ mả cho cha; còn 01 thửa lớn
thì chia làm 03 phần cho 03 chị em Nguyễn Tấn P, Nguyễn Thanh D và bà.
Việc cha bà để lại di chúc thì tất cả anh chị em trong gia đình đều biết rõ và không
ai tranh chấp đây tài sản của riêng cha chkhông phải tài sản chung
của hộ gia đình.
5
Sau khi cha qua đời vào ngày 04/5/2013, do điều kiện khó khăn nên không
làm thủ tục thừa kế được và không ai tranh chấp. Thống nhất với trích đo bản đồ địa
chính số 05 ngày 05/9/2025.
- Yêu cầu Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên
bố di chúc được lập ngày 10/7/2012 của ông Nguyễn Văn C2 là hợp pháp có hiệu
lực kể từ ngày 05/5/2013.
- Yêu cầu chia di sản thừa kế theo di chúc được lập ngày 10/7/2012 của ông
Nguyễn Văn C2, cụ thể thống nhất chia thửa 177, yêu cầu được nhận bằng hiện
vật là diện tích 2.819m
2
. Và chia cho bà Nguyễn Thanh D toàn bộ thửa 1019.
- Đối với việc ông P, ông T1 đã tự chuyển nhượng một phần thửa 177
3.900m
2
cho bà Ngô Thị Thu V thì không có ý kiến.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tấn T1 trình bày:
Cha mẹ ông 09 người con Nguyễn Văn N (đã mất), Nguyễn Chí H1
(đang sinh sống Úc), Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị L (đã mất), Nguyễn Tấn P,
Nguyễn Tấn T1, Nguyễn Thanh D, Nguyễn Thành D3 (đang sinh sống Úc),
Nguyễn Thị T3 (đang sinh sống ở Úc).
Sau năm 1975 thì mẹ ông Đỗ Thị B cùng anh ông Nguyễn Chí H1, chị
Nguyễn Thị L, Nguyễn Thành D3, Nguyễn Thị T3 đã vượt biên định cư ở Úc.
Gia đình còn lại 05 anh em Nguyễn Hữu N1, Nguyễn Tấn P, Nguyễn Tấn
T1, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thanh D Việt Nam đã gia đình sống riêng,
chỉ còn ông Nguyễn Tấn T1 con trai út trong gia đình, nên sống chung với cha
ông là ông Nguyễn Văn C2, sinh năm 1925 (đã chết).
Lúc cha mẹ còn sống thì cha ông có sở hữu sử dụng phần đất ruộng, diện tích
9.190,3m
2
, tại thửa 177, tờ bản đồ số 04, loại đất lúa (2L), đã được UBND huyện C
cấp giấy chứng nhận QSD đất số CH00531, ngày 29/8/2011, đất tọa lạc tại ấp T, xã
Đ, huyện C, thành phố Cần T do cha ông Nguyễn Văn C2 đứng tên.
Đến năm 2000 thì mẹ ông về Việt Nam thăm gia đình, do đó cha mẹ ông
họp lại 05 anh em còn sinh sống tại Việt Nam để thỏa thuận đồng ý anh Nguyễn Tấn
P sẽ ở nhà thờ để phụng dưỡng cha già và lo đám giỗ sau này, còn phần ruộng ở
Đ thì giao cho ông sử dụng và tất cả anh em đều đồng ý. Và ông cũng có hứa trước
mặt cha mẹ và anh em là số đất này ông sẽ chia cho Nguyễn Thị H, Nguyễn Thanh
D, mỗi người được 01 công đất. Đến khi cha ông mất ngày 21/02/2013 thì cháu con
anh thứ hai Nguyễn Thanh P1 mướn từ trước, ông vẫn để cho mướn 100 giạ
6
lúa mỗi năm này ông chia cho Nguyễn Thanh D Nguyễn Thị H thì 02 người được
nhận 50 giạ lúa, còn ông nhận 50 giạ. Chỉ là lời nói miệng anh em trong gia đình
đều biết rõ chứ không có giấy tờ.
Vài tháng sau khi cha ông qua đời, thì chị H em D lại phát đơn kiện thưa
ông UBND Đ, buộc ông phải chia cho mỗi người 1,5 công ruộng của thửa 177,
tờ bản đồ số 04, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C100531, do UBND huyện
C cấp ngày 29/8/2011, đất tọa lạc tại ấp T, xã Đ, huyện C, thành phố Cần Thơ do
cha ông Nguyễn Văn C2 đứng tên đưa ra di chúc cha ông lập lúc 87 tuổi m
2012 trong khi lúc này tinh thần cha ông không còn minh mẫn sáng suốt, nên khi UBND
xã Đ mời đến giải quyết vào năm 2013 thì ông cũng đã đồng ý cắt chia cho mỗi người
1,5 công đất xong, số đất này thì hai người H D đã bỏ hoang cho đến nay. Còn
phần đất của ông và đất của ông Nguyễn Tấn P cho ông, ông đã bán số đất của ông và
ông P cho chị dâu thứ hai của ông (vợ ông Nguyễn Văn N), nên đất của thửa 177 này
ông không còn.
- Còn phần đất diện tích 1.575m
2
thửa 1019, tờ bản đồ 04 đất 2L, giấy chứng
nhận QSD đất số CH00530, do UBND huyện C cấp ngày 29/8/2011, đất tọa lạc tại ấp
T, xã Đ, huyện C, thành phố Cần T do cha ông đứng tên, thì lúc sinh tiền cha ông có
nói là đất này không chia cho ai cả, chỉ để lại sau này bán mà lấy tiền lo mồ mả nhà thờ
cho cha mẹ ông, nên sau đó ông đã trồng xoài để lấy hoa lợi cho gia đình ông.
- Đối với yêu cầu chia thửa 1019 của nguyên đơn theo di chúc thì bị đơn thống
nhất thực hiện theo di chúc lập ngày 10/7/2012 của ông Nguyễn Văn C2. Nhưng khi
Nguyễn Thanh D nhận thửa 1019 thì phải dùng vào việc lo mồ mả cho ông bà vì
đây tài sản do ông bà để lại. Hoặc nếu sau này bà D sang bán thửa 1019 thì phải
dùng số tiền bán được vào việc chăm lo mồ mả cho ông bà.
- Đối với yêu cầu chia thửa 177, thì trước đây ông với ông P, H, D đã
chia thửa 177 làm bốn phần, sau đó ông với ông P đã bán 02 phần cho Ngô Thị
Thu V với giá 210.000.000 đồng, với diện tích 3.900m
2
(03 công tầm lớn). Nên
nay, nếu V yêu cầu tách thửa đất thì ông thống nhất thống nhất phần còn
lại của thửa 177 sẽ giao cho bà D, bà H được nhận.
Về 97 cây xoài trên đất, trước đây ông là người trồng nên nay nếu bà D nhận
thửa 1019 thì các cây xoài trên đất do ông trồng thì D phải trả lại ông số tiền
45.000.000 đồng.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị Thu V trình bày:
Trước đây năm 2015 bà có nhận chuyển nhượng mua một phần thửa 177 của
7
ông P, ông T1 với diện tích là 3.900m
2
(03 công tầm lớn) với giá 210.000.000 đồng,
do anh em trong gia đình nên không lập hợp đồng chuyển nhượng công
chứng chứng thực mà chỉ lập giấy mua bán viết tay.
Sở dĩ bà mua của ông P, ông T1 là nghĩ đất của gia đình thì ông T1, ông P có
quyền bán nên mua, hiện đang quản lý, sử dụng đất từ năm 2015 đến nay
đang trồng lúa trên đất.
Đối với việc nguyên đơn đề nghị mua lại 3.900m
2
với giá 210.000.000 đồng
thì bà không đồng ý.
Còn tên chị Hai N2 trong giấy tay mua bán chồng tên N2, thứ hai
trong gia đình cũng là anh thứ hai của ông P, ông T1, bà D, bà H nên ông P, ông T1
gọi là chị Hai N2.
Tại Bản án dân sự thẩm số 197/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 2 - Cần Thơ. Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thanh D và yêu
cầu độc lập của bà Nguyễn Thị H:
Tuyên bố di chúc ngày 10/7/2012 của ông Nguyễn Văn C2 hợp pháp và chia
thừa kế theo di chúc như sau:
- Bà D được nhận toàn bộ quyền sử dụng đất thửa 1019 theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số BĐ077467 do Ủy ban Nhân dân huyện C cấp cho ông Nguyễn
Văn C2 ngày 29/8/2011. Bà D có nghĩa vụ thanh toán cho ông T1 giá trị cây trồng
trên đất là 45.000.000 đồng.
- Bà D được nhận 2.819m
2
thuộc thửa đất 177 (theo Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số C100531, do UBND huyện C cấp ngày 29/8/2011, vị trí B của sơ đồ
đo đạc hiện trạng thửa đất).
- H được nhận 2.819m
2
thuộc thửa 177 (theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số C100531, do UBND huyện C cấp ngày 29/8/2011, vị trí C của sơ đồ đo
đạc hiện trạng thửa đất).
2. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của Ngô Thị Thu V: Công nhận
một phần Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 2015 giữa V với ông
P, tuyên bố hiệu một phần Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm
2015 giữ bà V với ông T1, cụ thể:
8
- V được nhận một phần thửa đất 177 diện tích 2.819m
2
(theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số C100531, do UBND huyện C cấp ngày 29/8/2011,
vị trí A của sơ đồ đo đạc hiện trạng thửa đất).
- Ông T1 nghĩa vụ trả lại V số tiền 76.090.000 đồng (bảy mươi sáu triệu
không trăm chín mươi nghìn đồng). Kể từ khi bà V có đơn có đơn yêu cầu thi hành
án, nếu ông T1 không thanh toán số tiền trên thì ông T1 phải chịu lãi suất chậm trả
theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền
chậm trả.
Ngoài ra bản án có tuyên về quyền kháng cáo, chi phí tố tụng và tiền án phí.
Ngày 13/10/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 Cần Thơ
ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 06/QĐ-VKS-DS ngày 13/10/2025
kháng nghị toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số: 197/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của
Toà án nhân dân khu vực 2 - Cần Thơ đề nghị cấp phúc thẩm xét xử theo hướng hủy
toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự trình bày:
Nguyên đơn yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án thẩm
phần đất nguyên đơn đã được chia theo di chúc của ông Nguyễn Văn C2. B vợ
của ông C2 cùng những người con gồm Nguyễn Chí H1, chị Nguyễn Thị L,
Nguyễn Thành D3, Nguyễn Thị T3 đã vượt biên đi nước ngoài từ lâu khoảng hơn
ba chục năm rồi, không có về Việt Nam. Phần đất ông C2 chỉ chia cho bà D, ông P
và bà H nhưng những người này đã thống nhất chia lại cho ông T1 một phần vì ông
T1 người chăm sóc, nuôi dưỡng ông C2 lúc tuổi già.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H trình bày: Mẹ
B cùng Nguyễn Chí H1, chị Nguyễn Thị L, Nguyễn Thành D3, Nguyễn Thị T3
đi qua Úc từ khoảng năm 1977, sau giải phóng miền N 02 năm. Hiện tại không
về Việt Nam, cũng không biết địa chỉ, thỉnh thoảng mẹ về Việt Nam. Năm
2004 mẹ bà chết, các anh chị em không về, thỉnh thoảng liên lạc qua điện thoại.
Phần đất của cha ông Nguyễn Văn C2 ttrước khi mẹ đi nước ngoài
nhưng thời điểm đó chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi ông C2
được cấp giấy chứng nhận thì thành viên trong hộ không ai. Sau này Nguyễn Tấn
T1 mới về ở chung đến nay. Bản án sơ thẩm giải quyết đã đảm bảo quyền lợi cho bà
do đó bà yêu cầu Tòa giữ nguyên bản án sơ thẩm.
9
Ngô Thị Thu V trình bày: Bà có chuyển nhượng một phần trong phần đất
các bên đang tranh chấp. Bản án sơ thẩm giải quyết xong bà đồng ý. Đất của cha
chồng nên không tranh chấp chỉ yêu cầu được công nhận phần đất đã
chuyển nhượng như bản án thẩm đã tuyên. xác định, B đi nước ngoài từ
nhiều năm trước, thỉnh thoảng có về Việt nam chơi. Nay bà B đã chết, nhưng người
con ở nước ngoài cũng không về Việt Nam tranh chấp phần đất.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật
của những người tiến hành ttụng, những người tham gia tố tụng trong quá trình
giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự.
Đối với Kháng nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm Quan điểm của
Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên kháng nghị đề nghị hủy bản án thẩm: Do bản án
sơ thẩm xác định tài sản thừa kế là của ông C2 và công nhận di chúc của ông C2
chưa đúng. Thứ nhất, các con ông C2 xác định phần đất là có từ khi bà B còn ở Việt
Nam nên đây là tài sản chung của ông C2 bà B, nên ông C2 không có quyền định
đoạt toàn bộ diện tích đất chỉ định đoạt một phần, phần còn lại chia theo pháp
luật. Thứ hai, bản án sơ thẩm còn chưa thu thập đầy đủ chứng cứ về nguồn gốc phần
đất, đưa thiếu người quyền lợi nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng như ông
Nguyễn Chí H1, Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Thành D3, Nguyễn Thị T3 là con
của ông Nguyễn Văn C2 đang sinh sống tại nước ngoài và những người con của ông
Nguyễn Chí Nghĩa L1 vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Do đó, đề nghị Hội
đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, hủy bản án sơ
thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ vụ án, qua kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ,
Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Sau khi xét xử thẩm, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Cần Thơ Quyết
định kháng nghị bản án sơ thẩm đúng quy định của pháp luật về quyền kháng nghị,
thời hạn kháng nghị, hình thức, nội dung kháng nghị theo quy định của các điều 278,
279, 280 và 282 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử phúc
10
thẩm xem xét yêu cầu kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Cần Thơ
theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông
Nguyễn Tấn T1 vắng mặt, bị đơn và người quyền lợi liên quan được triệu tập hợp
lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không do, Hội đồng xét xử áp dụng Điều
227, 228 xét xử vắng mặt đối với họ.
[2] Vnội dung: Xét yêu cầu kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực
2 Cần Thơ đề nghị Hội đồng xét xử hủy toàn bộ bản án thẩm do vi phạm
nghiêm trọng thủ tục tố tụng, đưa thiếu người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tham
gia tố tụng và công nhận hiệu lực của di chúc là chưa đúng vì di sản là tài sản chung
của ông C2 và bà B:
[2.1] Xét về hiệu lực của di chúc do ông Nguyễn Văn C2 lập ngày 10/7/2012,
về nội dung và hình thức đã đảm bảo theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát
nhân dân cho rằng đất cấp cho hộ ông C2 nên ông C2 không có quyền một mình tự
định đoạt đối với toàn bộ tài sản nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Xét
hồ đăng đất đai của ông C2 về đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất bút lục 129, Sổ mục kê cũng đất của ông C2 và S đăng ký ruộng đất cũng
là cá nhân ông C2. Việc cơ quan Nhà nước cấp giấy cho hộ ông C2 là chưa phù hợp
với nguồn gốc đất theo Sổ mục kê và Sổ đăng ký ruộng đất.
[2.2] Mặt khác, các con của ông C2 đều xác định phần đất di sản thừa kế
của ông C2 chứ không phải đất cấp cho hộ gia đình ông C2. Đây cũng chứng
cứ không cần phải chứng minh. Còn đối với vợ ông C2 Đỗ Thị B một số
người con của ông C2 gồm Nguyễn Chí H1, Nguyễn Thị T3, Nguyễn Thanh D2,
Nguyễn Thị L được các đương sự xác định đã vượt biên từ sau năm 1975 đến năm
1977 đến nay không về Việt Nam. Do vậy, những người này đương nhiên không
nằm trong thành viên hộ tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần
đầu cho ông C2 và cũng thuộc diện không được cấp quyền sdụng đất. Căn cứ theo
trích lục hộ khẩu năm 2011 của hộ ông Nguyễn Văn C2 gồm Nguyễn Văn C2,
Nguyễn Tấn T1, Nguyễn Thị Kim T2 sinh năm 1993 Nguyễn Thị Kim T3 sinh
năm 1988. Thời điểm cấp giấy lần đầu ông C2 được cấp GCNQSD đất số 001015
diện tích 10.920m
2
ngày cấp 03/12/1991 thì Nguyễn Thị Kim T2 còn chưa sinh ra
Nguyễn Thị Kim T3 mới 03 tuổi chưa được cấp quyền sử dụng. Năm 2011, ông
C2 được cấp giấy mới do bị mất giấy nên đã được làm thủ tục cấp giấy mới.
11
Đặc biệt, Nguyễn Tấn T1 con chung nhà, chung hộ khẩu với ông C2 cũng đã
xác định phần đất ông C2 chia theo di chúc lập ngày 10/7/2012 tài sản của ông C2
và đồng ý chia theo di chúc, không có tranh chấp.
[2.3] Về phần B, dù xác định phần đất có từ khi bà B còn ở nhà, nhưng các
đương sự đều khai khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C2 thì bà B
đã vượt biên đi nước ngoài từ sau khi giải phóng miền N theo lời trình bày của các
đương sự tại cấp thẩm tại phiên tòa phúc thẩm. Do đó, B không quyền
sử dụng đối với phần đấtông C2 đang đứng tên nên không thể xác định phần đất
tranh chấp là tài sản chung của ông C2 với bà B như quan điểm của Viện kiểm sát.
Do đó, cấp thẩm công nhận hiệu lực của di chúc mà ông C2 để lại hoàn toàn
đúng quy định của pháp luật.
[2.4] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ cho rằng: Ông C2
09 người con, cấp sơ thẩm chỉ xác định đưa 04 người Nguyễn Tấn T1, Nguyễn
Tấn P, Nguyễn Thị HNguyễn Thị D4 vào tham gia tố tụng mà không đưa những
người con đã vượt biên sang Úc gồm Nguyễn Chí H1, Nguyễn Thanh D2, Nguyễn
Thị L, Nguyễn Thị T3 con của ông Nguyễn Chí N3 vào tham gia tố tụng với
cách người quyền lợi nghĩa vụ liên quan vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố
tụng. Tuy nhiên, Hội đồng xét xnhận thấy, phần đất tranh chấp là tài sản riêng của
ông C2, ông C2 đã lập di chúc cho H, D4, ông P hợp pháp. Sau đó bà H ông
P, bà D4 thống nhất chia một phần cho ông T1, đây là sự tự nguyện thỏa thuận của
các đương sự, cấp sơ thẩm xác định những người này tham gia tố tụng thừa kế theo
di chúc quyền lợi nghĩa vụ liên quan hoàn toàn phù hợp, đúng quy định.
Ông H1, L, bà T3, ông D2 các con ông N3 không liên quan đến di chúc nên
cấp sơ thẩm không đưa họ vào tham gia tố tụng là phù hợp.
[3] Từ những căn cứ trên Hội đồng xét xử xác định được phần đất các đương
sự yêu cầu chia thừa kế theo di chúc là của nhân ông C2. Do đó, ông C2 quyền
tự định đoạt đối với tài sản của mình, lập di chúc chia đất cho các con là hợp pháp.
Bản án sơ thẩm đã giải quyết công nhận di chúc ông C2 lập để chia thừa kế theo di
chúc đúng quy định của pháp luật. Sau khi bản án đã tuyên, các đương sự trong
vụ kiện đều thống nhất không ai kháng cáo.
[4] Xét thấy, Quyết định kháng nghị số 06/QĐ-VKS-DS ngày 13/10/2025 của
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Cần Thơ chưa phù hợp, ảnh hưởng đến quyền
12
lợi ích hợp pháp của các đương sự, vi phạm quyền tự định đoạt về tài sản của
nhân nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Không ai phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ: Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận Quyết định kháng nghị số 06/QĐ-VKS-DS ngày
13/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Cần Thơ. Giữ nguyên Bản án
dân sự sơ thẩm số: 197/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực
2 - Cần Thơ.
2. Án phí dân sự phúc thẩm: Không ai phải chịu.
3. Bản án phúc thẩm này hiệu lực pháp luật ktừ ngày tuyên án (Ngày
04/6/2026).
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND thành phố Cần Thơ;
- TAND khu vực 2 - Cần Thơ;
- THADS thành phố Cần Thơ;
- Phòng THADS KV 2 - Cần Thơ;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Mạc Thị Chiên
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 546/2026/DS-PT Bản án số 546/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 546/2026/DS-PT Bản án số 546/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất