Bản án số 836/2026/DS-PT ngày 23/06/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 836/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 836/2026/DS-PT ngày 23/06/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 836/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: THÁI PHAN L - NGUYỄN THỊ N
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 836/2026/DS-PT Bản án số 836/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 836/2026/DS-PT Bản án số 836/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thm phán - Ch ta phiên tòa:
Bà Hoàng Th Thuý Lành
Các Thm phán:
Bà Dương Thuý Hằng
Bà Đinh Thị Ngc Yến
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Phan Ngọc Nhẩn Thư ký Tòa án nhân
dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Đặng Thị Châu, Kiểm sát viên.
Ngày 17 23 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh
mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sthụ s357/2026/TLPT-
DS ngày 13 tháng 5 năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng nợ hụi.
Do Bản án dân sự thẩm số 61/2026/DS-ST ngày 19/3/2026 Tòa án nhân
dân Khu vực 11 - Tây Ninh, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 419/2026/QĐ-PT ngày
21 tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Thái Phan L, sinh năm: 1991.
Địa chỉ: Ấp C, xã T, tỉnh Tây Ninh; (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Thái Phan L:Lê Nguyễn
Kim H - Văn phòng Luật sư Lê Nguyễn Kim H- Đoàn luật sư tỉnh T.
Địa chỉ: Số F, khu phố L, phường H, tỉnh Tây Ninh; (có mặt).
Bị đơn: Nguyễn Thị N, sinh năm: 1969
Địa chỉ: Tổ F, ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh; (có mặt).
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 836/2026/DS-PT
Ngày: 23 - 6 - 2026
Về việc “Tranh chấp hợp đồng nợ
hụi”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Đỗ Thị M, sinh năm: 1962.
Địa chỉ: Tổ D, ấp D, T, tỉnh Tây Ninh (theo văn bản ủy quyền ngày
28/7/2025); (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Thái Văn P, sinh năm: 1956
Địa chỉ: Ấp C, xã T, tỉnh Tây Ninh; (có mặt)
Người kháng cáo: bà Nguyễn Thị N là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện đngày 02/7/2025 các lời khai trong quá trình giải
quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, ông Thái Phan L trình bày:
Giữa ông L và bà Nguyễn Thị N hàng xóm quen biết với nhau, ông L gọi
N bằng xưng cháu, ông tham gia góp hụi do Nguyễn Thị N làm chủ thảo
hụi từ năm 2021 đến năm 2025 thì ngưng do bị bể hụi, sau khi bể hụi ông L và N
tính toán chốt lại 12 phần hụi ông tham gia, ngày 25/4/2025 N viết giấy
chốt nợ với tổng số tiền 849.400.000 đồng và chuyển thành tiền vay, hẹn mỗi tháng
trả 70.000.000 đồng vào ngày 25 mỗi tháng nhưng không thực hiện nên ông L
làm đơn khởi kiện. Số tiền 849.400.000 đồng có nguồn gốc từ 12 phần hụi như sau;
1. Hụi khui ngày 06/2/2023, 3.000.000 đồng/ tháng 28 phần, ông lĩnh hụi
lần thứ 25, bà N viết giấy cho ông ghi số tiền còn nợ là 43.900.0000 đồng
2. Hụi khui ngày 13/01/2023, 3.000.000 đồng/ tháng (tham gia 02 phần) dây
thứ nhất 26 phần, trả tiền mua hụi cho N 43.720.000 đồng (mua lần thứ 21), kết
thúc hụi ngày 13/02/2025 thành tiền (25 kỳ x 3.000.000 đồng) 75.000.000 đồng
1.500.000 đồng tiền huê hồng, bà N phải đăng lại 73.500.000 đồng.
Đối với dây thứ hai gồm 25 phần đưa tiền mua hụi cho bà N 42.820.000 đồng
(mua lần thứ 21) mãn hụi ngày 13/01/2025, thành tiền đăng hụi khi kết thúc (24 kỳ
x 3.000.000) 72.000.000 đồng 1.500.000 đồng tiền huê hồng, phải đăng lại cho
ông L 70.500.000 đồng;
3. Hụi khui ngày 17/01/2023, 3.000.000 đồng/ tháng 26 phần đưa tiền mua hụi
cho bà N 46.410.000 đồng (mua lần thứ 22), mãn hụi ngày 17/02/2025 thành tiền là
(25 kỳ x 3.000.000 đồng) 75.000.000 đồng 1.500.000 đồng tiền huê hồng, còn phải
đăng lại 73.500.000 đồng;
4. Hụi khui ngày 18/01/2023, hụi 3.000.000 đồng/ tháng, gồm 25 phần đưa tiền
mua hụi cho N 41.290.000 đồng (mua lần thứ 20), kết thúc 17/01/2025 (24 kỳ x
3.000.000 đồng) 72.000.000 đồng 1.500.000 đồng tiền huê hồng, phải đăng lại
70.500.000 đồng;
5. Hụi khui ngày 08/02/2023, hụi 3.000.000 đồng/ tháng, gồm 24 phần đưa tiền
mua hụi cho N 42.070.000 đồng (mua lần thứ 20) kết thúc hụi ngày 08/01/2025
thành tiền đăng hụi là (23 kỳ x 3.000.000 đồng) 69.000.000 đồng 1.500.000 đồng
tiền huê hồng, phải đăng lại 67.500.000 đồng;
6. Hụi khui ngày 02/02/2023, hụi 3.000.000 đồng/ tháng, gồm 25 phần đưa tiền
mua hụi cho N hết 40.610.000 đồng (mua lần thứ 20), mãn hụi ngày 02/2/2025
thành tiền đăng hụi là (24 kỳ x 3.000.000 đồng) 72.000.000 đồng 1.500.000 đồng
3
tiền huê hồng, phải đăng lại 70.500.000 đồng;
7. Hụi khui ngày 04/02/2023, hụi 3.000.000 đồng, gồm 27 phần đưa tiền mua
hụi cho N 44.920.000 đồng (mua lần thứ 23), ngày 04/4/2025 kết thúc hụi (26 kỳ
x 3.000.000 đồng) 78.000.000 đồng 1.500.000 đồng tiền huê hồng, phải đăng lại
76.500.000 đồng;
8. Hụi khui ngày 29/02/2023, 3.000.000 đồng/ tháng, gồm 27 phần đưa tiền
mua hụi cho bà N 45.260.000 đồng (mua lần thứ 22), kết thúc hụi ngày 29/4/2025;
Do N ngưng không khui hụi nên ông L và N thống nhất với nhau N tính
tiền thành hụi mãn ghi giấy nợ ngày 25/4/2025 (26 kỳ x 3.000.000 đồng) nên thành
tiền đăng hụi là 78.000.000 đồng – 1.500.000 đồng tiền huê hồng, số tiền phải đăng
lại 76.500.000 đồng;
9. Hụi khui ngày 04/3/2023, 3.000.000 đồng/ tháng, gồm 27 phần đưa tiền mua
hụi cho N 43.790.000 đồng (mua lần thứ 22), kết thúc hụi ngày 04/5/2025; Do
N ngưng không tiếp tục khui hụi nên ông L N thống nhất với nhau ngày viết
giấy nợ 25/4/2025 N tính tiền hụi (26 kỳ x 3.000.000 đồng) 78.000.000 đồng
1.500.000 đồng tiền huê hồng, còn phải đăng lại 76.500.000 đồng;
10. Hụi khui ngày 28/3/2023, 3.000.000 đồng/ tháng gồm 26 phần trả tiền mua
hụi cho N hết 43.660.000 đồng (mua lần thứ 21), kết thúc hụi ngày 28/4/2025;
Do bà N ngưng không khui hụi nên ông và bà N thống nhất với nhau bà N tính hụi
mãn (25 kỳ x 3.000.000 đồng) 75.000.000 đồng 1.500.000 đồng tiền huê hồng,
còn phải đăng lại 73.500.000 đồng;
11. Đối với dây hụi khui ngày 28/3/2023, 3.000.000 đồng/ tháng gồm 27 phần
đưa tiền mua hụi cho bà N hết 42.830.000 đồng (mua lần thứ 21), hụi kết thúc ngày
28/5/2025, N ông L thống nhất tính tiền hụi (26 kỳ x 3.000.000 đồng)
78.000.000 đồng 1.500.000 đồng tiền huê hồng, còn phải đăng lại 76.500.000
đồng;
N tự viết giấy chốt nợ tính từng dây hụi vào ngày 25/4/2025 với số tiền
849.400.000 đồng, nên trên các tờ giấy tính hụi N mới viết chữ “xong” số tiền
tính từng dây hụi đúng với số tiền ghi chốt nợ mượn lại, stiền này không liên
quan đến số tiền nợ mà ông Thái Văn P đang khởi kiện trong một vụ án khác.
Nay ông L yêu cầu Nguyễn Thị N trách nhiệm trả số tiền nợ gốc
849.400.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
Tại bản biên bản lấy lời khai, biên bản đối chất người đại diện hợp pháp cho
bị đơn bà Đỗ Thị M và bà Nguyễn Thị N trình bày:
Ông L không tham gia góp hụi do bà N m chủ thảo hụi, chỉ có mình ông P là
cha ruột của ông L tham gia góp hụi. Bà xác nhận tờ giấy nợ ngày 25/4/2025 đối với
số tiền 849.400.000 đồng do viết ra nhưng không phải số tiền nợ bà nợ ông
Thái Phan L, giấy nợ bà viết cho 01 hụi viên khác khi đã thanh toán nợ xong bà lấy
về nhà cất, giấy nợ bà viết cho con của chị T (tên M1), việc tham gia góp hụi do chị
T trực tiếp tham gia, không gặp mặt anh M1 lần nào. Tổng số tiền nợ chị T
khoảng hơn 01 tỷ trả nhiều lần còn lại 849.400.000 đồng (thực tế viết trước
ngày 25/4/2025), giấy nợ này bà viết tại nhà riêng của bà (chỉ có mặt bà và bà T).
4
Chị T trực tiếp tham gia góp hụi đăng hụi cho chị T, sau khi tính tiền hụi của
các phần hụi thành số tiền cụ thể mới thỏa thuận với chị T xin vay lại tiền hụi chữ
“tôi có mượn của cháu lại số tiền nầy” mục đích ghi để biết ngày trả lãi, không biết
họ tên con của chị T để ghi, nên không ghi cụ thể cho ai. Do vậy nay ông L khởi
kiện số tiền 849.400.000 đồng không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông
Thái Văn L1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Thái Văn P trình bày:
Ông là cha ruột của Thái P, ông L1 có tham gia góp hụi do Nguyễn Thị
N làm chủ thảo hụi, N tuyên bố bể hụi nên ngày 25/4/2025 ông đến nhà bà N yêu
cầu tính toán tiền hụi của 15 phần hụi mà bà N còn nợ ông cụ thể là theo giấy chốt
nợ ngày 25/4/2025, N nông 1.096.500.000 đồng, số tiền này N viết giấy
mượn lại hẹn mỗi tháng trả 100.000.000 đồng; do ông L1 đi làm xa nên ông tới
nhà bà N trước yêu cầu bà N tính giấy chốt hụi, đến chiều L1 mới tới nhà bà N làm
giấy chốt nợ riêng; Do đó số tiền L1 đi khởi kiện 849.400.000 đồng nguồn gốc
cũng từ tiền hụi N viết giấy chốt nợ với L1 là khoản nợ không liên quan đến ông.
Đối với số nợ của ông đang làm đơn khởi kiện tại Toà án khu vực 11- Tây Ninh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Thái Phan L, bà Lê Nguyễn
Kim H trình bày:
thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn Thái P ông Thái Văn P,
trong vụ án này ông L khởi kiện bà N về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, có nguồn
gốc từ tiền hụi N và anh L đã chốt nợ với nhau từng phần hụi tính thành giấy nợ
ngày 25/4/2025 với số tiền 849.400.000 đồng, nên yêu cầu bà N có trách nhiệm trả
cho ông L số tiền gốc 849.400.000 đồng, không tranh chấp về tiền hụi;
Tại Bản án sơ thẩm 61/2026/DS-ST ngày 19/3/2026 Tòa án nhân dân Khu vực
11 - y Ninh quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Thái Phan L về việc “Tranh chấp Hợp
đồng vay tài sản” đối với bà Nguyễn Thị N.
Buộc bà Nguyễn Thị N trách nhiệm trả (thanh toán) cho ông Thái Phan L số
tiền vay gốc 849.400.000 (tám trăm bốn mươi chín triệu, bốn trăm ngàn đồng), ghi
nhận anh Thái Phan L không yêu cầu tính lãi.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong khoản tiền nêu trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải
chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãisuất quy định
tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyễn Thị N phải chịu: 37.482.000 (Ba mươi bảy triệu bốn trăm tám
mươi hai ngàn đồng).
Ông Thái Phan L không phải chịu tiền án phí dân sự thẩm. Thi hành án dân
sự tỉnh Tây Ninh hoàn trả cho ông Thái Phan L số tiền tạm ứng án phí 18.741.000
đồng theo biên lai thu số 0000518 ngày 11/7/2025.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án quyền kháng
cáo theo quy định của pháp luật.
5
Ngày 31/3/2026 bà Nguyễn Thị N kháng cáo theo hướng yêu cầu cấp sơ thẩm
không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn, bà Nguyễn Thị N giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Người đại diện theo uỷ quyền của N tiếp tục khẳng định ông L không tham
gia chơi hụi, mua hụi do bà N làm chủ hụi. Các tài liệu chứng cứ ông Long cung C
không rõ từ đâu ông L có. Riêng số tiền hụi đóng của 11 dây hụi số hụi ông Thái
Văn P tham gia chơi. Do các dây hụi này bà đã trả hết tiền cho ông P nên ghi chữ
“xong” trên mỗi phiếu. Các phần hụi này không phải các dây hụi hiện ông P đang
khởi kiện N tại cấp thẩm. Nội dung trên các phiếu của 11 dây hụi này chỉ
số tiền đóng của hụi viên từng tháng, không phải là tiền chốt nợ của từng dây hụi.
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên quan điểm trình bày
tại cấp sơ thẩm, không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Đề nghị Hội đồng
xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký
phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Các đương sự thực hiện đúng quyền nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật
Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp
nhận kháng cáo của bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được thẩm
tra tại phiên tòa; ý kiến Tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát,
Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị N nộp trong thời hạn luật định, vhình thức
và nội dung kháng cáo phù hợp với quy định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố
tụng dân sự nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn Thái P khởi kiện Nguyễn Thị N stiền
849.400.000 đồng căn cứ giấy nợ ngày 25/4/2025. Giấy nợ này không ghi tiền vay.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà N không thừa nhận vay tiền của ông L. Ông L
trình bày nguồn gốc số tiền nợ tiền ông L chơi hụi do N làm chủ hụi. N
không thanh toán tiền hụi cho ông L nên viết giấy nợ. N vậy, giấy nợ ngày
25/4/2025, ông L kiện N tranh chấp nợ hụi, không phải nợ vay. Cấp thẩm
xác định nợ vay là không chính xác, cần xác định lại quan hệ tranh chấp “Tranh
chấp hợp đồng nợ hụi”.
[3] Về nội dung:
Xét yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị N, Hội đồng xét xử xét thấy:
6
Nguyên đơn Thái Văn L1 khởi kiện bị đơn Nguyễn Thị N yêu cầu trả số tiền
849.400.000 đồng. Nguyễn Thị N không thừa nhận nợ số tiền ông L1 khởi
kiện, không thừa nhận các chứng cứ nguyên đơn cung cấp. Do tranh chấp v
chứng cứ nên Hội đồng xét xtiến hành xem xét chứng cứ do các đương sự cung
cấp.
[3.1] Chứng cứ ông Long cung C giấy ghi nợ ngày 25/4/2025 11 phiếu
ghi các phần hụi đóng hàng tháng 01 phiếu chốt hụi khui ngày 06-2-2023.
Nguyễn Thị N thừa nhận các chứng cứ ông Long cung C do N viết. Tuy nhiên,
giấy ghi nợ ngày 25/4/2025 bà N viết cho con Nguyễn Thị T, tên M1. Tại phiên
toà phúc thẩm N thay đổi lời khai, xác định không nhớ giấy ghi nợ viết cho ai,
không thừa nhận viết cho ông L1. Xét thấy, việc ông L1 sở hữu giấy nkhông đồng
nghĩa với việc giấy nợ viết cho ông L1.
Do giấy nhận nợ không ghi tên ông L1 nên Hội đồng xét xử tiến hành xem xét
tính phù hợp của giấy nợ với các chứng cứ khác.
[3.2] Xét số phiếu ghi các phần hụi đã đóng (11 phiếu). Bà N cho rằng đây là
phiếu thanh toán hụi cho ông Thái Văn P (cha của ông L1), các phần hụi đã thanh
toán xong nên viết chữ “xong” trên mỗi phiếu. N không thừa nhận có chơi hụi
với ông L1, không thừa nhận các chứng cứ ông Long cung C chứng cứ chứng
minh việc ông L1 tham gia hụi do N làm chủ thảo. Mặc không đủ chứng
cứ để xác định các phiếu này phần hụi của ông P nhưng cũng chưa đủ căn cứ để
xác định đây các phiếu viết cho ông L1. Do đó cần đánh giá tính logic, phù hợp
giữa các tài liệu này, thấy:
[3.2.1] Tại giấy ghi nợ ngày 25/4/2025 thể hiện: “Tôi có mượn của cháu lại số
tiền nầy 43.900.000
+ 805.500.000
849.400.000
Trả 25 mỗi tháng
Hẹn mỗi tháng trả 70.000.000
Tôi có hẹn lại tới tháng 11 dương lịch vào ngày 25 tôi sẽ giải quyết cho cháu”
Mặc giấy nhận nợ do ông L1 nộp cho Toà án làm chứng cứ khởi kiện nhưng
không thể hiện người cho nợ. Tại giấy nhận nợ có ghi “tới tháng 11 dương lịch vào
ngày 25 tôi sẽ giải quyết cho cháu” nhưng ngày 03/7/2025 ông L1 đã nộp đơn khởi
kiện N. Tuy nhiên, các bên không tranh chấp về điều kiện khởi kiện nên không
xem xét.
Tại thời điểm N viết giấy nợ ngày 25/4/2025 tổng số tiền 849.400.000
đồng (Bl số 48), trong đó 805.500.000 đồng ông L1 cho rằng được tổng hợp từ
11 dây hụi 3.000.000 đồng.
Tiến hành xem xét từng dây hụi thì chỉ có 06/11 dây hụi mãn với tổng số tiền
426.000.000 đồng, gồm có:
Dây hụi thứ 1 có 25 phần khui ngày 13/01/2023, mãn ngày 13/02/2025 số tiền
70.500.000 đồng (Bl số 59);
7
Dây hụi thứ 2 26 phần khui ngày 13/01/2023, mãn ngày 13/3/2025 số tiền
73.500.000 đồng (BI số 57);
Dây hụi thứ 3 26 phần khui ngày 17/01/2023, mãn ngày 17/3/2025 số tiền
73.500.000 đồng (BI số 56);
Dây hụi thứ 4 có 25 phần khui ngày 18/01/2023, mãn ngày 18/02/2025 số tiền
70.500.000 đồng (BL số 55);
Dây hụi thứ 5 25 phần khui ngày 13/01/2023, mãn ngày 13/3/2025 số tiền
70.500.000 đồng (Bl số 54)
Dây hụi thứ 6 có 24 phần khui ngày 08/02/2023, mãn ngày 08/02/2025 số tiền
67.500.000 đồng (Bl số 58).
Còn lại 05/11 dây hụi vẫn còn đang hoạt động, ông L1 khai hốt hụi gần cuối,
tổng số tiền 379.500.000 đồng, gồm có:
Dây hụi thứ 7 27 phần khui ngày 04/02/2023, mãn ngày 04/5/2025 số tiền
76.500.000 đồng (Bl số 53);
Dây hụi thứ 8 27 phần khui ngày 29/02/2023, mãn ngày 29/5/2025 số tiền
76.500.000 đồng (B1 số 51)
Dây hụi thứ 9 27 phần khui ngày 04/3/2023, mãn ngày 04/6/2025 stiền
76.500.000 đồng (Bl số 49);
Dây hụi thứ 10 26 phần khui ngày 28/3/2023, mãn ngày 28/5/2025 số tiền
73.500.000 đồng (B1 số 30)
Dây hụi thứ 11 27 phần khui ngày 28/3/2023, mãn ngày 28/6/2025 số tiền
76.500.000 đồng (Bl số 52).
Như vậy, tại thời điểm chốt giấy nợ ngày 25/4/2025 thì 05 dây hụi nêu trên
chưa kết thúc. Ông L1 nếu tham gia chơi hụi thì còn phải đóng hụi chết lại cho
N và không thể nào hốt được số tiền 379.500.000 đồng trong 5 dây hụi nêu trên
khi còn đang hoạt động. số tiền 379.500.000 đồng trong 5 dây hụi nêu trên
ông L1 khởi kiện bà N là ông L1 đã tính số tiền hốt kỳ cuối của mỗi dây hụi mới có
được, trong khi ông L1 khai hốt "gần cuối" trong 5 dây hụi nêu trên. Ông L1 khai
đối với những phần hụi chưa đến hạn, do N bvỡ hụi nên đồng ý tính hụi chết
cho ông L1 nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc N tính hụi
chết cho ông L1 đối với phần hụi chưa đến hạn. N không thừa nhận việc này.
Như vậy, ông L1 cho rằng giấy ghi nngày 25/4/2025 được viết sau khi mãn hụi,
hai bên tính hụi, N mới viết giấy chốt hụi không sở. (Biên bản đối chất
ngày 22/02/2026 BL 100).
[3.2.2] Ông L1 khai Giấy chốt nợ ngày 25/4/2025 được tổng hợp từ 11 giấy
tính hụi. Tuy nhiên, số tiền được ghi trong mỗi giấy tính hụi số tiền hụi sống được
đóng theo từng tháng, không phải số tiền chốt hụi theo con số cuối cùng N
phải trả cho ông L1 trong mỗi dây hụi như ông L1 trình bày. Ngoài ra:
Đối với Dây hụi thứ 1 25 phần khui ngày 13/01/2023 (Bl số 59): Ông L1
khai, đối với phần này ông L1 đưa tiền mua hụi 42.820.000 đồng (mua lần thứ 21,
đóng thêm 3 lần), thành tiền đăng hụi khi mãn là 72.000.000 đồng – 1.500.000 đồng
8
= 70.500.000 đồng (BL 82). Như vậy, lẽ ra khi chốt dây hụi này, ông L1 phải chốt
với bà N số tiền bà N phải trả cho ông L1 là 70.500.000 đồng. Tuy nhiên, tại BL 59
thể hiện: Số tiền đóng của 21 kỳ đóng hụi 42.820.000. Số tiền này tiếp tục cộng
với 43.720.000 đồng thành 86.540.000 đồng, sau đó trừ đi 60.000.000 đồng thành
số tiền cuối cùng 26.540.000 đồng. Ông L1 cho rằng, tại bút lục này thể hiện, tổng
cộng số tiền ông L1 mua hai dây hụi 86.540.000 đồng. Ông L1 trả cho N
60.000.000 đồng, số tiền 26.540.000 đồng ông L1 còn nợ N. Tuy nhiên, ông L1
không cung cấp được chứng cứ về việc ông đã trả cho N số tiền mua hụi còn thiếu
hoặc chứng cứ về việc cấn trừ số nợ này. Đối với dây hụi này ông L1 cho rằng N
phải trả cho ông L1 70.500.000 đồng là không có cơ sở.
Tương tự như trên, tại BL số 55, phần tiền được cộng từ dây hụi khui ngày
18/1/2023, 25 phần 41.290.000 đồng cộng thêm 42.190.000 đồng, tổng
83.480.000 đồng. Ông L1 cho rằng số tiền này được cộng từ hai dây hụi nhưng
không chứng minh được số tiền 42.190.000 đồng của dây hụi nào, không giải
được tại sao phiếu ghi hụi này chốt 83.480.000 đồng nhưng N lại phải trả cho ông
số tiền 70.500.000 đồng (Dây hụi thứ 4, Bút lục 82).
Tại BL 53, số tiền được chốt cuối phiếu 88.710.000 đồng, được cộng từ
44.920.000 đồng của dây hụi khui ngày 4/2/2023 gồm 27 phần và 43.790.000 đồng.
Ông L1 không lý giải được số tiền 43.790.000 đồng là tiền của dây hụi nào. Không
giải được tại sao phiếu chốt số tiền cuối cùng 88.710.000 đồng nhưng N lại
phải trả cho ông L1 số tiền 76.500.000 đồng (Dây hụi thứ 7, BL 82)
Từ những phân tích nêu trên, sở khẳng định 11 phiếu ghi số tiền hụi đóng
hàng tháng ông L1 sử dụng làm căn cứ khởi kiện N theo giấy nợ ngày
25/4/2025 là không có căn cứ chấp nhận.
[3.2.3] Đối với số tiền 43.900.000 đồng trong tổng số tiền 849.400.000 đồng
theo giấy nợ ngày 25/4/2025 (B1 số 48) ông L1 nộp bổ sung cho tòa ngày
22/01/2026 thấy rằng theo giấy hụi 3.000.000 đồng khui ngày 06/2/2023, 28 phần
(BL số 102) thì không nằm trong 11 dây hụi L1 đã khởi kiện. Trong khi đó, 11
dây hụi ông L1 khởi kiện có 02 dây hụi thời gian khui liền kề với dây hụi khui
ngày 06/02/2023, gồm dây hụi khui ngày 04/2/2023-mãn ngày 04/5/2025 (trước 2
ngày) dây khui ngày 08/2/2023-mãn ngày 08/02/2025 (sau 2 ngày) nhưng quá
trình khởi kiện, ông L1 chỉ xác định tham gia chơi 11 dây hụi 3.000.000 đồng với
N. Cách chốt số tiền 43.900.000 đồng cũng không thống nhất với cách chốt của
11 dây hụi còn lại. Tại giấy chốt này thể hiện, số phần của dây hụi, số phần hụi chết,
hụi sống, số tiền thảo, số tiền đã đăng, số tiền cấn trừ, kết quả ra số tiền phải trả. Như
vậy, dây hụi cùng thời gian nhưng có cách chốt khác nhau không phù hợp. Tại lời
trình bày của người đại diện ông L1 ông S cho rằng, số tiền 43.900.000 đồng
ông L1 cho N vay tiền mặt riêng (BL 45). Như vậy, lời trình bày của ông L1
ông S về nguồn gốc số tiền này mâu thuẫn. Do vậy, số tiền 43.900.000 đồng mà L1
cho rằng hốt dây hụi khui ngày 06/02/2023 với bà N là không có căn cứ chấp nhận.
[4] Quá trình tòa án giải quyết, lời khai của ông L1 nhiều mâu thuẫn
không phù hợp với các nhân chứng mà ông L1 yêu cầu tòa án xác minh, cụ thể:
9
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 30/10/2025 (BL số 24) ông L1 người đại diện
(ông S) chỉ khai tham gia 11 dây hụi 3.000.000 đồng do bà N làm chủ thảo. Tuy
nhiên, 11 dây hụi mãn, không rõ lãnh được bao nhiêu tiền.
Tại bản tự khai bổ sung ngày 06/11/2025 (BL số 45) thì L1 người đại diện
(S) lại khai có 06/11 dây hốt cuối, còn 05/11 dây hốt "gần cuối" và liệt kê cụ thể số
tiền được hốt 11 dây với số tiền 805.500.000 đồng cho phù hợp (khớp, đúng) với số
tiền hụi trong giấy nợ ngày 25/4/2025.
Đối với các nhân chứng ông L1 yêu cầu tòa án xác minh về việc biết ông L1
chơi hụi với N, gồm ông Thanh S (B1 số 180), ông Thanh M2 (Bl số
79) Đặng Thị Mỹ H1 (BI số 28) đều xác định thấy L1 ông P (cha ruột
L1) đến nhà N nhiều lần nhưng không biết L1 tham gia chơi dây hụi nào với
N hay không cũng không nghe N nợ tiền của L1. Lời khai của các nhân
chứng phù hợp với lời khai của bà N L1 chỉ chở ông P (cha ruột L1) đến nhà
để ông P tham gia chơi hụi, còn L1 không có tham gia chơi hụi với bà. Ông L1 khai
12 dây hụi ông L1 đều mua các lần hốt từ lần thứ 20 trở lên. Như vậy số lần ông
L1 đi tham gia khui hụi (nếu có) sẽ không nhiều. Do đó việc người làm chứng trình
bày gặp ông L1 đi khui hụi nhiều lần căn cứ xác định là ông L1 chở ông P đến
khui hụi, không phải ông L1 trực tiếp tham gia như ông trình bày.
Đối với ý kiến của bà N: Bà N không thừa nhận chứng cứ do ông Long cung C
nhưng không chứng minh được những giấy tính hụi này tính cho ai. Mặc dù lời khai
của bà N không thuyết phục và xuất phát từ việc bà không lưu trữ hồ sơ đối với các
dây hụi do mình làm chủ dẫn đến không xác định được chính xác người tham gia
dây hụi, quá trình hoạt động hụi. Mặc dù, việc này không đúng quy định theo Nghị
định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 quy định về hụi, họ, biêu, phường nhưng
không đương nhiên làm các chứng cứ do ông L1 đưa ra là có hiệu lực.
[5] Từ các lập luận trên, xét thấy bản án thẩm chấp nhận yêu cầu của ông
Thái Phan L chưa đánh giá khách quan toàn bộ nội dung vụ án. Cần sửa Bản án
dân sthẩm số 61/2026/DS-ST ngày 19-3-2026 của Tòa án nhân dân Khu vực
11 - Tây Ninh. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Thái Phan L về
việc yêu cầu Nguyễn Thị N trả số tiền 849.400.000 đồng. Nguyễn Thị N kháng
cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phúc thẩm không
phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[7] Về án pthẩm: Ông Thái Phan L phải chịu án phí đối với yêu cầu không
được chấp nhận. Bà N không phải chịu án phí.
[8] Án pphúc thẩm dân sự: Do kháng cáo bà Nguyễn Thị N được chấp nhận
nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 148 của Bluật
Tố tụng dân sự. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho bà N.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị N.
10
Sửa Bản án dân sự thẩm số: 61/2026/DS-ST ngày 19-3-2026 của Tòa án
nhân dân Khu vực 11 - Tây Ninh.
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Thái Phan L về việc yêu
cầu bà Nguyễn Thị N trả số tiền 849.400.000 đồng.
Ông Thái Phan L phải chịu 37.482.000 (Ba mươi bảy triệu bốn trăm tám mươi
hai ngàn đồng) tiền án phí DSST. Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 18.741.000 đồng
theo biên lai thu số 0000518 ngày 11/7/2025. Ông L còn phải nộp thêm 18.741.000
đồng.
2. Án phí dân sự phúc thẩm:
Nguyễn Thị N không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho
N 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006785, ngày 02
tháng 4 năm 2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của
Luật Thi hành án dân sự.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND ti cao ti TP.HCM;
- VKSND ti cao ti TP.HCM;
- VKSND tnh Tây Ninh;
- TAND Khu vc 11 - Tây Ninh;
- Thi hành án dân s tnh Tây Ninh;
- Đương sự;
- Phòng HCTP-TAND tnh TN;
- Phòng GĐ, TT, KT&THA.TANDTTN;
- Lưu. hồ sơ, lưu trữ, tp án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
Hoàng Th Thuý Lành
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 836/2026/DS-PT Bản án số 836/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 836/2026/DS-PT Bản án số 836/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất