Bản án số 122/2026/HS-PT ngày 23/06/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 122/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 122/2026/HS-PT ngày 23/06/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 122/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/06/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Lê Thị Huyền N
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 122/2026/HS-PT Bản án số 122/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 122/2026/HS-PT Bản án số 122/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 122/2026/HS-PT
Ngày: 23-6-2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thiện Tâm
Các Thẩm phán: Bà Phùng Thị Cẩm Hồng
Ông Trần Thanh Tòng
- Thư ký phiên tòa: Thị Ánh Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị Bích Du – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ số 77/2026/TLPT-HS ngày 05 tháng
5 năm 2026. Do có kháng cáo của bị cáo Lê Thị Huyền N đối với Bản án hình sự
sơ thẩm số 43/2026/HS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu
vực 11 - Tây Ninh.
Bị cáo có kháng cáo:
Thị Huyền N, sinh ngày 09/8/1991 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi cư
trú: Ấp T, P, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 7/12;
dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông
Văn R ã chết) Thị Phương M; chồng Nguyễn Chí T, sinh năm 1989;
con 02 người, sinh năm 2012 và sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo báp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi trú từ ngày
26/12/2025 đến ngày 25/3/2026, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, v án còn có 01 người bị hại không có kháng cáo hoặc liên quan
đến kháng cáo, kháng nghị nên không triệu tập.
NI DUNG V ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa thẩm,
nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
2
Sau khi đi làm về, khoảng 19 giờ ngày 02/11/2025, bị cáo Lê Thị Huyền N
ghé tiệm uốn tóc bảng hiệu “Thanh Tâm” của bị hại Phạm Thị T1, ngụ tại ấp T,
xã T, tỉnh Tây Ninh để gội đầu. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo N
được gội đầu xong, bị hại Tâm tính số tiền 20.000 đồng, bị cáo N đưa cho bị hại
T1 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng, nên bị hại T1 đi vào phía trong để lấy tiền thối
lại. Lúc này, bị cáo N nhìn thấy bị hại T1 đ01 điện thoại hiệu S Note20 - 5G,
màu xám đen tại chỗ ghế bị cáo N đang nằm để gội đầu, nên bị cáo N nảy sinh
ý định chiếm đoạt. Bị cáo N dùng tay lấy điện thoại của bị hại T1 giấu vào trong
túi quần đang mặc. Sau khi bị hại T1 đi ra thối tiền cho bị cáo N, bị cáo ra ngoài
điều khiển xe đi về. Khoảng 05 phút sau, bị hại T1 phát hiện bị mất điện thoại,
nghi ngờ bị cáo N lấy, nên trình báo Công an xã T, tỉnh Tây Ninh. Qua làm việc,
bị cáo N thừa nhận hành vi nêu trên.
Tại Kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 28 tháng 11 năm
2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xã T, tỉnh Tây Ninh kết
luận: 01 điện thoại hiệu S có giá trị 4.767.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số: 98/CT-VKSTC ngày 05/3/2026 của Viện kiểm sát
nhân dân Khu vực 11 - Tây Ninh, truy tố bị cáo Thị Huyền N về tội “Trộm cắp
tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2026/HS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân Khu vực 11- Tây Ninh, đã xét xử:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Huyền N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 và Điều
38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Thị Huyền N 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn thi hành án tính
từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí quyền
kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử thẩm: Cùng ngày 25/3/2026, bị cáo Thị Huyền N
kháng cáo một phần của án sơ thẩm với nội dung được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Thị Huyền N giữ nguyên yêu cầu kháng cáo khai nhận hành
vi phạm tội như nội của án sơ thẩm ghi nhận.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa phát
biểu quan điểm về giải quyết vụ án như sau:
Về thủ tục kháng cáo: Bị cáo Lê Thị Huyền N kháng cáo đúng thời hạn và
đúng quy định của Bluật Tố tụng hình sự, nên vụ án đủ điều kiện để xem xét lại
theo thủ tục phúc thẩm.
3
Về nội dung: Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét
hỏi tại phiên toà phúc thẩm, xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Thị
Huyền N phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật
Hình sự đúng người, đúng tội, không oan cho bị cáo. Mức hình phạt và loại
hình phạt đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp, nên đề nghị không chấp nhận kháng
cáo của bị cáo.
Bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo tnh bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, mong
được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo.
NHN ĐNH CA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung ván, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Sau khi xét xử thẩm, bị cáo Lê Thị Huyền N
Đơn kháng cáo. Xét Đơn kháng cáo của bị cáo thực hiện trong thời hạn luật
định, nên được xét xử theo trình tự, thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật
tại các Điều 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung vụ việc: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận hành vi
phạm tội như nội dung của án thẩm ghi nhận. Xét lời khai nhận của bị cáo phù
hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ kết luận
Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định
tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, là xét xử đúng người, đúng tội, không oan
cho bị cáo.
[3] Về quyết định hình phạt của cấp sơ thẩm và kháng cáo của bị cáo thy
rằng:
Qua xem xét tính chất, mức độ của hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo
gây ra; cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Tòa án cấp sơ thẩm đã
xem xét cho bị cáo theo quy định tại các điểm i s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình
sự và áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để tuyên phạt bị cáo với mức án
03 tháng tù là phù hợp.
Sau khi xét xử thẩm, người bị hại có “Đơn bãi nại giảm nhẹ hình phạt”
cho bị cáo đề ngày 06/4/2026, đây là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ
luật Hình sự. Ngoài ra, tài sản bị cáo chiếm đoạt là chiếc điện thoại di động hiệu
Samsung Galaxy Note20 - 5G giá trị 4.767.000 đồng, bị cáo đã giao nộp lại
ngay sau khi bị phát hiện để giao trả cho người bị hại, nên gây thiệt hại không lớn,
tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự,
chưa được cấp sơ thẩm xem xét, nên ghi nhận xem xét cho bị cáo.
Xét, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, căn cứ Điều 65 Bộ luật
Hình sự được hướng dẫn tại văn bản hợp nhất số 03/VBHN-TANDTC ngày
16/7/2025 của Tòa án nhân dân tối cao, bị cáo đủ điều kiện được hưởng án
4
treo. Việc cho bị cáo được hưởng án treo cũng không gây nguy hiểm cho xã hội;
không ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội, nên có căn cứ
để chấp nhận kháng cáo của bị cáo theo hướng giữ nguyên mức hình phạt và cho
hưởng án treo. Do đó, chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
[4] Từ những căn cứ nhận định trên: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355
và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của b
cáo. Sửa một phần của bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.
[5] Về án phí phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí do kháng cáo được
chấp nhận.
[6] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐNH:
1. Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật
Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Thị Huyền N. Sửa một phần về hình
phạt đối với bị cáo Thị Huyền N tại Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2026/HS-
ST ngày 25 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 11 Tây Ninh.
2. Tuyên bố bị cáo Lê Thị Huyền N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
3. Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; các điểm h, i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
khoản 1 Điều 54; Điều 38 và Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Thị Huyền N 03 (Ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.
Thời gian thử thách 01 năm tính từ ngày 23/6/2026.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Tây Ninh để giám sát giáo dục
trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo trách nhiệm phối hợp với quan,
tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định
của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc b
cáo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp
thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt
của bản án trước tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều
56 Bộ luật Hình sự. Trong trường hợp bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi
trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự năm 2019.
4. Về án phí:
Căn cứ: Các Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Lê Thị Huyền N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
5
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo
thủ tục phúc thẩm.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Tây Ninh (01);
- TAND Khu vực 11 (02);
- VKSND Khu vực 11 (01);
- THADS tỉnh Tây Ninh (01);
- Công an tỉnh Tây Ninh (02);
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thiện Tâm
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 122/2026/HS-PT Bản án số 122/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 122/2026/HS-PT Bản án số 122/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất