Bản án số 83/2025/DS-PT ngày 15/09/2025 của TAND tỉnh Hưng Yên về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 83/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 83/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 83/2025/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 83/2025/DS-PT ngày 15/09/2025 của TAND tỉnh Hưng Yên về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Hưng Yên |
| Số hiệu: | 83/2025/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 15/09/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Bà Trần Thị H kiện đòi bà H1 ông N phải trả diện tích đất lấn chiếm phần chuồng trại chăn nuôi 41,4m2, phần ngõ đi (3.65+0.1)m2 và tháo dỡ công trình trên đất lấn chiếm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HƯNG YÊN
Bản án số: 83/2025/DS -PT
Ngày 15 - 9 - 2025
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Ông Trương Quang Tú
Ông Nguyễn Duy Phượng
Ông Trần Ngọc Lâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thảo - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân
tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 54/2025/TLPT-DS ngày 23 tháng 7 năm
2025 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án Dân sự sơ thẩm số 06/2025/DS-ST ngày 18 tháng 6 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực 1 - Hưng Yên (Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ,
tỉnh Hưng Yên trước đây) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2025/QĐ-PT ngày 15 tháng 8
năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1966; Địa chỉ: Đ, thôn D, xã H,
tỉnh Hưng Yên (Đ, thôn D, thị trấn V, huyện T, tỉnh Hưng Yên trước đây); “có
mặt”
- Bị đơn: Bà Trần Thị H1, sinh năm 1964; Địa chỉ: Đ, thôn D, xã H, tỉnh
Hưng Yên (Đ, thôn D, thị trấn V, huyện T, tỉnh Hưng Yên trước đây); “có mặt”
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Bà Trần Phương A,
Luật sư Công ty L2 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; “có mặt”
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
1. Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1962; Địa chỉ: Đ, thôn D, xã H, tỉnh Hưng
Yên (Đ, thôn D, thị trấn V, huyện T, tỉnh Hưng Yên trước đây); “có mặt”
2. Ông Vũ Văn N, sinh năm 1958; Địa chỉ: Đ, thôn D, xã H, tỉnh Hưng
Yên (Đ, thôn D, thị trấn V, huyện T, tỉnh Hưng Yên trước đây); “có mặt”
3. Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh Hưng Yên.
2
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Đình P, Trưởng phòng Kinh tế
xã H; “vắng mặt” (Văn bản ủy quyền ngày 12 tháng 8 năm 2025)
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1954; Địa chỉ: Đ,
thôn D, xã H, tỉnh Hưng Yên (Đ, thôn D, thị trấn V, huyện T, tỉnh Hưng Yên
trước đây); “vắng mặt”
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Trần Thị H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các văn bản bổ sung trong quá trình giải quyết vụ
án, nguyên đơn bà Trần Thị H trình bày: Thửa ao có tranh chấp có nguồn gốc là
của vợ chồng ông Nguyễn Văn H2 (Nguyễn Mạnh H3) và bà Lê Thị H4 nhận
thầu của UBND xã D Năm 1993 vợ chồng ông Hà N1 lại cho vợ chồng bà thửa
ao này với giá 5.000.000 đồng, gia đình bà đã trả đủ tiền chuyển nhượng, hai
bên lập Giấy nhượng ao ngày 10/01/1993, ông H3 đứng tên bên bán, bà H thay
mặt ông Đ ký bên mua nhưng không xin xác nhận của chính quyền địa phương.
Năm 1998 khi UBND xã bán đứt ao (thầu dài hạn) cho người thầu thì ông H3 là
người được mua ao do vẫn đứng tên người thầu ao, ông H3 đã nộp cho UBND
xã số tiền 10.830.000 đồng theo phiếu thu số 39A ngày 16/6/1998. Do ông H3
đã nộp tiền mua ao nên năm 2005 vợ chồng bà phải mua lại thửa ao lần hai với
giá 45.000.000 đồng, vợ chồng bà đã trả đủ tiền cho vợ chồng ông H3. Hai bên
đã lập Giấy xin chuyển nhượng ao thầu dài hạn ngày 28/02/2005, có hai người
làm chứng ký xác nhận là ông Trần Phi T là anh trai ông Đ và ông S là anh trai
ông H3, có xin xác nhận của địa chính xã và xác nhận của UBND xã D Khi
UBND xã xác nhận đã cung cấp cho vợ chồng bà Biên bản xác định mốc giới
ngày 04/10/1997. Gia đình bà đã sử dụng ao từ năm 1993, vợ chồng ông H3
không sử dụng vì đã chuyển nhượng cho gia đình bà từ năm 1993.
Theo Biên bản xác định mốc giới của UBND xã D ngày 04/10/1997 thì
thửa ao là thửa số 280, tờ bản đồ số 28, có diện tích 1648,3m
2
, tất cả các hộ tiếp
giáp đều ký xác nhận mốc giới trong đó có bà H1. Từ năm 1993 khi bà mua ao
thì mốc giới ao đúng như biên bản xác định mốc giới năm 1997 đã xác định,
cách đây 6 - 7 năm gia đình bà H1 mới cạp vượt và xây công trình chăn nuôi.
Khi hòa giải, UBND xã D đã tiến hành đo đạc thì khu chăn nuôi của gia
đình bà H1 lấn sang ao nhà bà khoảng 40m
2
, ngõ đi lấn sang ao khoảng 40m
2
nên ông N chồng bà H1 đã xác nhận gia đình ông vượt lập xây bờ kè, một phần
chuồng trại chăn nuôi tạm vượt mốc sang ao nhà bà H. Bà đề nghị Tòa án giải
quyết buộc bà H1 phải trả lại gia đình bà diện tích ao đã lấn chiếm và xây
chuồng lợn khoảng 40m
2
,
diện tích ngõ lấn chiếm sang ao khoảng 40m
2
và yêu
cầu gia đình bà H1 phải xúc và vận chuyển gạch vỡ đã đổ xuống ao, tháo dỡ
phần chuồng lợn xây sang ao để trả mặt bằng ao ban đầu như UBND xã đã giao
cho gia đình.
Bị đơn bà Trần Thị H1 trình bày: Gia đình bà có thửa đất ở và ngõ đi giáp
với thửa ao gia đình bà H thầu của xã D Trước đó thửa ao do gia đình ông
3
Nguyễn Mạnh H3 thầu của xã từ năm 1998, sau đó ông H3 mới chuyển nhượng
cho vợ chồng bà H, ông Đ. Việc chuyển nhượng này được thể hiện tại Giấy xin
chuyển nhượng ao thầu do ông Nguyễn Mạnh H3 và vợ là Lê Thị H4 gửi UBND
xã D ngày 28/02/2005. Cùng ngày ông Vũ Văn T1 là công chức địa chính xã đã
xác nhận trong giấy nội dung “Ông Nguyễn Mạnh H3 và vợ là Lê Thị H4 có
chiếc ao thầu dài hạn của Ủy ban nhân dân xã cho thầu năm 1998, nay chuyển
nhượng chân thầu dài hạn cho ông Trần Văn Đài H5 thuộc thửa 280, tờ bản đồ
số 28”, ngày 28/02/2005 UBND xã Dị chế xác nhận nội dung “Ông bà Hà H6
nhượng ao cho ông bà Hằng Đ1 là đúng sự thật. Yêu cầu hai bên gia đình thực
hiện như cam kết và quy định của pháp luật không được làm biến dạng”.
Bà xác nhận gia đình bà có san lấp, cơi nới một phần diện tích ao giáp với
ngõ đi từ đường công cộng vào gia đình bà để cho ngõ rộng ra, đi lại thuận tiện
hơn. Đoạn cuối ngõ đi gia đình bà có xây bờ kè lấn sang ao để đất của gia đình
bà đỡ bị sạt lở xuống ao, sau đó gia đình bà có xây chuồng lợn trên đất của gia
đình bà và một phần chuồng lợn xây trên phần ao gia đình bà đã xây bờ kè. Gia
đình bà san lấp và xây bờ kè từ năm 1991 và xây chuồng lợn năm 1992 trước
khi gia đình ông Hà thầu của UBND xã. Khi gia đình bà san lấp và xây chuồng
lợn không bị UBND xã đến yêu cầu tạm đình chỉ hoặc đình chỉ việc cơi nới, gia
đình ông H3 cũng không có ý kiến gì, có xác nhận của ông Nguyễn Văn T2 và
ông Nguyễn Văn N2 là hàng xóm.
Thửa ao vợ chồng bà H5, ông Đ1 đang sử dụng là ao của UBND xã, do
ông Nguyễn Mạnh H3 nhận thầu của UBND xã không phải là UBND xã bán
cho ông H3, vợ chồng bà Hằng Đ1 chỉ nhận chuyển nhượng của gia đình ông
H3. Tại Biên bản xác định mốc giới thửa đất được lập ngày 04/10/1997 có ghi
nội dung “...Tổ đo đạc cùng với chính quyền địa phương tiến hành khảo sát, xác
định mốc giới thửa đất của: Ao UBND đang sử dụng. Địa chỉ: Đ, Thôn D, xã D,
huyện T, tỉnh Hưng Yên”, giấy này đã được UBND xã xác nhận. Như vậy thửa
ao này đến nay vẫn thuộc quyền sử dụng của UBND xã D, gia đình ông H3 và
bà Hằng Đ1 chỉ nhận thầu ao không phải đã mua nên bà không chấp nhận đơn
khởi kiện của bà H5 vì gia đình bà cơi nới một phần diện tích ao của tập thể nên
gia đình bà Hằng Đ1 không có quyền khởi kiện yêu cầu gia đình bà phải trả gia
đình bà H5 phần diện tích ao gia đình bà đã cơi nới, gia đình bà sẽ đề nghị
UBND xã cho phép được quyền sử dụng và sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính với
Nhà nước.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Đ trình bày: Ông
nhất trí với lời khai và yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H.
Ủy ban nhân dân xã H (Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện T trước đây)
trình bầy: Căn cứ hồ sơ địa chính qua các thời kỳ và tài liệu do gia đình cung
cấp gồm: Phiếu thu số 39A ngày 16/6/1998 UBND xã D đã thu tiền của ông
Nguyễn Văn H2; Giấy nhượng ao ngày 10/1/1993 ông Nguyễn Văn H2 nhượng
ao cho ông Trần Văn Đ (không có xác nhận của chính quyền địa phương); Giấy
xin chuyển nhượng ao thầu dài hạn ngày 28/02/2005, ông Nguyễn Mạnh H3 và
vợ là bà Lê Thị H4 chuyển nhượng chân thầu dài hạn cho ông bà Hằng Đ1 với
4
số tiền 45.000.000 đồng có xác nhận của UBND xã D ngày 28/02/2005. Như
vậy năm 1998 ông Nguyễn Mạnh H3 được giao thầu khoán ao dài hạn sau đó đã
chuyển nhượng lại cho hộ bà H, ông Đ1 là đúng. Do là ao thầu khoán nên hộ
ông Đ1, bà H là hộ đang sử dụng phải sử dụng đúng mục đích, vị trí và diện tích
được giao.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản xác định: Đất tranh
chấp là đất nuôi trồng thủy sản (NTS), trị giá 240.000 đồng/m
2
. Tổng diện tích
đất 1533,2m
2
có tứ cận: Phía Bắc giáp đất của ông Đ2, ông K, bà L và ông Đ1
kích thước {(1,28 + 7,52 + 1,17) + 12,56 + (1,64 + 2,51 + 3,07 + 3,11 + 2,04) +
(1,01 + 3,06 +2,1 + 1,74 + 3,85 + 0,82)}m. Phía Nam giáp đất ông N, bà H1,
kích thước (1,63 + 1,03 + 2,63 + 16,23 + 3,13 + 1,07 + 0,53 + 16,39)m. Phía
Đông giáp đất của anh H7, bà T3, và ông Đ2 kích thước {(22,24 + 5,72 + 0,88 +
0,56) + (2,18 + 0,91 + 1,67 + 1,15 + 1,36)}. Phía Tây giáp đất của ông Đ1, và
ông L1 kích thước {(6,99 + 2,38 + 1,39 +10,13 + 1) + (7,81m + 9,87)}m. Trên
phần đất tranh chấp có tường bao quanh do ông N, bà H1 xây dựng, cao 0,8m,
dài 26,23m, diện tích là 21m
2
; 01 chuồng chăn nuôi lợp mái proximăng cao
03m, diện tích 59,9m
2
đương sự không yêu cầu định giá.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2025/DS-ST ngày 18 tháng 6 năm 2025,
Toà án nhân dân khu vực 1 - Hưng Yên (Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh
Hưng trước đây) đã quyết định:
Căn cứ các Điều 166, 167, 170, 202 và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013.
Các Điều 115, 166, 175, 189, 191, 472, 475 và Điều 479 Bộ luật Dân sự. Khoản
9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147,
Điều 157, 158, 164, 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H.
Buộc bà Trần Thị H1 phải trả cho bà Trần Thị H tổng diện tích 45,15m
2
đã lấn chiếm tại thửa 278, tờ bản đồ số 25 ở thôn D, xã D (TT V), huyện T (nay
là xã H, tỉnh Hưng Yên) trong đó: Phần chuồng trại chăn nuôi là 41,4m
2
; Phần
ngõ đi là 0,1m
2
+ 3,65m
2
. Bà H1 phải di dời toàn bộ tài sản là tường bao, phần
chuồng lợn trên diện tích đất đã lấn chiếm để trả lại hiện trạng ao cho bà H. (Có
sơ đồ hiện trạng kèm theo)
Ngoài ra bản án còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng
cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 01 tháng 7 năm 2025 bà Trần Thị H1 kháng cáo toàn bộ bản án đề
nghị sửa Bản án dân sự thẩm sơ thẩm số 06/2025/DS-ST ngày 18 tháng 6 năm
2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 - Hưng Yên không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của bà Trần Thị H.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ
nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được về việc giải
quyết vụ án.
5
Nguyên đơn đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trình bày: Ủy ban nhân
dân xã cho đấu thầu đất trái phép nên hợp đồng vô hiệu, hồ sơ không có tài liệu
bà H1 ký giáp ranh ao trong khi bà H1 đã sử dụng ổn định trước khi ông H3 đấu
thầu ao, nên đề nghị tạm ngưng phiên tòa để thu thập hoặc xử không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của bà H.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật
trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán, Hội
đồng xét xử phúc thẩm và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa
vụ của mình. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu chứng cứ thu thập
trong hồ sơ, cấp sơ thẩm buộc bà H1 phải trả bà H diện tích đất lấn chiếm và
tháo dỡ công trình trên đất là có căn cứ nên đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308
Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà H1, giữ nguyên bản
án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đã được triệu tập
hợp lệ lần thứ hai nên Tòa án xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 296
Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Các đương sự đều công nhận bà Trần Thị H, ông Trần Văn Đ là người
được ông Nguyễn Văn H2 chuyển nhượng nhận đấu thầu ao dài hạn với Ủy ban
nhân dân xã D (nay là Ủy ban nhân dân xã H) nên theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng
dân sự là tình tiết không phải chứng minh.
[3] Xét đề nghị của bà Trần Thị H1 cho rằng bà Trần Thị H không có
quyền khởi kiện, thấy hợp đồng thuê lại quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn
Văn H2, bà Lê Thị H4 và ông bà H, Đài có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã D
nên theo Điều 475, khoản 1 Điều 479 Bộ luật Dân sự và Điều 137 Luật Đất đai
bà H, ông Đ có quyền sử dụng đất. Do đó theo Điều 26, Điều 31 và Điều 236
Luật Đất đai, bà H có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án có thẩm quyền giải quyết
tranh chấp đất đai.
[4] Bà Trần Thị H1 cho rằng gia đình bà H1 san lấp và xây bờ kè từ năm
1991 và xây chuồng lợn năm 1992, cơi nới ao trước khi gia đình ông Hà thầu
của UBND xã nhưng không xuất trình được chứng cứ chứng minh trong khi
theo Biên bản xác định mốc giới thửa đất ao do UBND xã D ngày 04/10/1997 có
chữ ký xác nhận của các hộ dân tiếp giáp thửa đất, trong đó có chữ ký của bà H1
thì thửa ao của hộ bà H có diện tích là 1648,3m
2
, cạnh ao thửa đất hộ bà H1
không phải là đường thẳng mà có nhiều khúc trong đó có đoạn cuối ao phù hợp
với biên bản xác định mốc giới được xác định tại bản đồ 2015. Tuy nhiên theo
sơ đồ hiện trạng thì ranh giới không còn giữ nguyên như biên bản xác định mốc
giới và bản đồ, không còn nhiều khúc mà đã tương đối thẳng, trong đó có cuối
ao phù hợp với lời khai của ông H2: Trước khi ông chuyển nhượng cho ông Đ
thì hộ bà H1 đã xếp gạch làm bờ kè để tránh lở đất nhưng chỉ xếp thấp dưới mặt
6
nước nên không nhìn rõ bờ kè và chưa xây chuồng lợn. Bờ kè ao và chuồng lợn
giáp ao hiện nay, gia đình bà H1 xây sau khi ông chuyển nhượng ao cho gia đình
bà H nhưng cụ thể năm nào ông không nhớ cùng sự thừa nhận trong quá trình sử
dụng đất của gia đình có cơi nới, lấn chiếm sang diện tích đất ao của vợ chồng
bà H, ông Đ đang thầu khoán của ông N, chồng bà H1 tại buổi hòa giải ngày
09/6/2023 do UBND xã D tổ chức, cấp sơ thẩm xác định gia đình bà H1 lấn
chiếm đất ao sau khi gia đình bà H có quyền sử dụng là có căn cứ.
[5] Sự thừa nhận lấn chiếm đất ao của gia đình bà H của bà H1 phù hợp
với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện theo sơ đồ đo đạc thực tế, hiện
trạng sử dụng đất của hộ bà H, ông Đ đối chiếu với Bản đồ 2015 thì thửa ao của
hộ bà H đã bị các hộ giáp ranh lấn chiếm, cụ thể hộ bà H1, ông N đã lấn chiếm
41,4m
2
phần chuồng trại chăn nuôi và 3,75m
2
lấn phần ngõ đi; hộ anh H7, bà T3
lấn chiếm 3,9m
2
; hộ ông Đ2, ông K lấn chiếm 37,5m
2
; hộ bà L lấn chiếm 5,4m
2
và hộ ông Đ, bà H lấn chiếm 19,1m
2
. Do đó cấp sơ thẩm buộc bà H1 ông N phải
trả diện tích đất lấn chiếm phần chuồng trại chăn nuôi 41,4m
2
, phần ngõ đi
(3.65+0.1)m
2
và tháo dỡ công trình trên đất lấn chiếm là phù hợp, đúng pháp
luật.
[6] Quá trình giải quyết vụ án, cấp sơ thẩm đã xem xét toàn diện các tài
liệu, chứng cứ có trong hồ sơ giải quyết đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của
các đương sự. Tại cấp phúc thẩm bà H1 không xuất trình được tài liệu chứng cứ
khác nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà H1.
[7] Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp nên được chấp
nhận.
[8] Án phí: Bà Trần Thị H1 là người cao tuổi, tại cấp phúc thẩm có đơn đề
nghị nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị H1, giữ nguyên Bản án
dân sự sơ thẩm số 06/2025/DS-ST ngày 18 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 1 - Hưng Yên (Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên
trước đây).
2. Án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Miễn án phí dân sự phúc thẩm và án phí dân sự sơ thẩm đối với bà Trần
Thị H1, hoàn trả lại bà H1 số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm 300.000
đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004102 ngày 10
tháng 7 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên.

7
3. Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị cấp phúc thẩm không xem xét có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn
kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKS tỉnh Hưng Yên;
- TAND khu vực 1 - Hưng Yên;
- THADS tỉnh Hưng Yên;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Trương Quang Tú
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 07/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 28/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 26/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 25/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 25/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 25/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 22/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm