Bản án số 74/2025/DSPT ngày 20/09/2025 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 74/2025/DSPT

Tên Bản án: Bản án số 74/2025/DSPT ngày 20/09/2025 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Ngãi
Số hiệu: 74/2025/DSPT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà Dương Thị Khang khởi kiện đòi lại Quyền sử dụng đất với bà Vũ Thị Đượm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI
Bản án số: 74/2025/DS-PT
Ngày 20/9/2025
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hành
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Minh Thành, ông Vũ Văn Thuấn
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Vinh Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi: Chu Thị Sáu
Kiểm sát viên.
Trong ngày 18/9/2025 (xử trực tuyến tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Ngãi Hội trường Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh Quảng Ngãi) và
ngày 20/9/2025 (xử trực tiếp tại địa chỉ: 204 Trần Phú, phường Kon Tum, tỉnh
Quảng Ngãi), Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đưa ra xét xử phúc thẩm công
khai vụ án dân thụ số 12/2025/TLPT-DS ngày 30/5/2025 về việc “Tranh
chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự thẩm số: 02a/2025/DS-ST ngày
22/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum (nay Tòa án
khu vực 11, tỉnh Quảng Ngãi) bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử phúc thẩm số: 94/2025/QĐXX-PT ngày 30 tháng 7 m 2025, Quyết định
hoãn phiên tòa và Quyết định tạm ngừng phiên tòa giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Dương ThK; sinh năm: 1943; địa chỉ: Tổ dân ph6,
B, tỉnh Q; (tớc đây là: thị trấn P, huyện N, tỉnh K). mặt.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn ông Ngô Đức
N, Luật Văn phòng Luật sư Ngô Đức N thuộc Đoàn Luật tỉnh G; địa
chỉ: Số 203, đường Thái T, phường D, tỉnh G (trước đây phường Y,
thành phố Plei Ku, tỉnh Gia Lai). mặt.
- Bị đơn: Bà ThĐ, sinh năm 1971 ông Đặng Văn C, sinh năm
1971 (chết ngày 25/6/2020 theo trích lục khai tử số 24 ngày 03/7/2020); ng
2
địa chỉ: Tdân ph6, B, tỉnh Quảng Ngãi; (tớc đây : thị trấn P, huyện
N, tỉnh K). mặt.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ ttụng của bđơn ông Đặng Văn Chín
gồm:
+ Lương Th H; sinh m: 1980; Cu Lương Thị Quỳnh C, sinh
năm 2013, cháu Đặng Thị Khánh C, sinh m: 2015; cùng địa chỉ: Thôn T, xã
B, tỉnh Q; (Trước đây là P, huyện N, tỉnh Kon Tum.) (ChH người giám
hộ cho cháu C và cháu C). Đều vắng mặt.
+ Anh Đặng Văn L; sinh năm: 1999; địa chỉ: Tổ n phố 6, xã B, tỉnh
Q; (trước đây : thị trấn P, huyện Ni, tỉnh Kon Tum) . Vắng mặt.
+ Anh Đặng Văn T; sinh năm: 1991; địa chỉ: Thôn H, xã N, thành phố H
(Trước đây là H, huyện T, tỉnh H). Vắng mặt.
+ Chị Đặng ThT; sinh năm: 1993; địa chỉ: Tn H, xã N, tnh phố H
(Trước đây là H, huyện T, tỉnh H). Hiện đang sinh sống và làm việc tại:
289/3 T, tổ 9, thôn T, xã T, huyện T, Đài Loan. Vắng mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bđơn ông Hoàng Minh
T, là Luật sư Văn phòng Luật Minh T thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Quảng
Ngãi; địa chỉ: Số 157 đường P, phường K, tỉnh Q. (Tớc đây pờng T, Tp
K, tỉnh Kon Tum). Có mặt.
- Người có quyền lợi nga vụ liên quan:
+ UBND B, tỉnh Quảng Ngãi ( nời kế thừa quyền nghĩa v t
tụng của UBND huyện N y ban nhân dân thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon
Tum); Địa chỉ: Thôn 6, B, tỉnh Quảng Ngãi; (trước đây là: Thị trấn Pn,
huyện N, tỉnh K). n bản đề nghxét xử vắng mặt.
+ Đặng ThD; Địa chỉ: Thôn 4, B, tỉnh Q; (trước đây là: Thị trấn
P, huyện Ni, tỉnh Kon Tum); Có mặt.
Người bảo vquyền lợi ích hợp pháp cho Đặng ThD: Luật
Hoàng Minh T. Có mặt.
+ Anh Nguyễn n L; Địa chỉ: Tổ dân phố 6, B, tỉnh Q; (trước đây
là: Thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum). Có mặt.
- Những nời m chứng:
+ Ông Đoàn Bá H; địa chỉ: Tổ n phố 6, xã B, tỉnh Quảng Ngãi;. văn
bản xin xét xử vắng mặt.
3
+ Ông Đặng Văn N; địa chỉ: Tổ dân phố 6, xã Bờ Y, tỉnh Quảng Ngãi;
văn bản xin xét xử vắng mặt.
+ Ông Văn T; địa chỉ: Tổ dân phố 1, Bờ Y, tỉnh Quảng Ngãi.
văn bản xin xét xử vắng mặt.
+ Ông Đặng Văn H; địa chỉ: Tổ dân phố 6, Bờ Y, tỉnh Quảng Ngãi;
Vắng mặt.
+ Ông Phạm Văn T; địa chỉ: Tổ dân phố 6, xã Bờ Y, tỉnh Quảng Ngãi;
mặt
+ Ông Nguyễn Huy D; địa chỉ: Tổ dân phố 6, xã B, tỉnh Q; Có mặt.
+ Bà Đặng Thị N; địa chỉ: Thôn 5, xã Bờ Y, tỉnh Q; mặt.
+ Ông Nguyễn Văn N; địa chỉ: Thôn 5,B, tỉnh Q; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ lời trình bày của các đương sự, người
đại diện theo ủy quyền, vụ án được tóm tắt như sau:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/5/2018 và các tài liệu, chứng cứ có trong
hồ vụ án, trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên a, nguyên đơn
Dương Thị K người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn, ông
Ngô Đức N trình bày:
Năm 1986 gia đình K được người anh đưa từ ngoài Bắc vào làm ng
nhân Công ty 732, sau đó được Công ty đưa đến Ngã Bến Héc (thị trấn P cũ,
nay B), em gái Dương Thị N phát đốt quả đồi được diện tích đất
chiều rộng theo đường mòn từ Bến Héc vào Công ty 732 nay đường Trần
Hưng Đạo thuộc tổ dân phố 6, thị trấn P, huyện N, chiều ngang mặt đường là 75
mét (cạnh phía Bắc đến cạnh phía Nam), chiều sâu (cạnh phía Tây đến cạnh phía
Đông) chỗ 60 mét, chỗ 35 mét. Xung quanh thửa đất, bên ngoài trồng
cao su, bên trong trồng lúa, ngô để cải thiện đời sống. Sau một thời gian
và bà N thỏa thuận Bà N được chia 30 mét từ suối cạn (từ cạnh phía bắc), còn bà
được chia 45 mét (cạnh phía nam). Năm 1988 N làm nhà trên diện tích đất
giáp suối cạn. Năm 1989 đến năm 2012 do N không có điều kiện lại N nên
đã đổi toàn bộ diện tích đất được chia nhà cho anh Nguyễn Văn Lập
(con trai K) để bà N lấy đất của quê P - Nội. Sau này do bà đau, m
n đã bán đất cho Thị S, ông Đặng Văn H, Thị L, ông Phạm
Văn H, ông Trịnh Văn K, Thị Kim N, ông Đặng Văn N (trong số những
người mua đất của một số đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất).
4
Khoảng năm 1998, 1999 vợ chồng ông Đặng Văn C, Vũ Thị Đ mua
của Y L một thửa đất phía trên đồi, giáp phía sau thửa đất của bà. Do không
đường đi ra đường mòn (nay đường Trần ng Đạo) nên ông C, bà Đ hỏi
mượn bằng miệng của bà khoảng 03 mét mặt đường để làm lối đi, khi Nhà nước
phóng mở đường A G đi ngang qua thửa đất ông C, Đ mua của Y L. Ông
C, Đ thương lượng, thoả thuận miệng với bà đổi cho 10 mét đất đường
A G để ông C, Đ lấy 05 mét đất đường Trần Hưng Đạo. Sau khi hai bên thỏa
thuận về việc đổi đất, ông C, Đ đã xây nhà trên diện tích đất đã đổi. Sau một
thời gian, lợi dụng bà đi làm rẫy ở xa ông C, bà Đ đã sang nhượng 10 mét đất đã
đổi cho đường A G cho người khác làm tiếp căn nhà gỗ tạm bên cạnh
nhà xây thuộc thửa đất của trên đường Trần Hưng Đạo, khai khống với
quan đo đạc để làm trích lục mang tên mình, khi phát hiện bà cản trở, ngăn chặn,
chính quyền địa phương đã can thiệp, UBND thị trấn P tiến hành hòa giải nhưng
không thành, vì vậy bà khởi kiện yêu cầu ông C, bà Đ tháo dỡ, di dời toàn bộ tài
sản trên đất trái phép để trả lại diện tích đất 10 mét x 32 mét trên đường Trần
Hưng Đạo, tổ dân phố 6, thị trấn P, huyện N, tỉnh K (nay là xã B, tỉnh Q) cho bà.
Trong biên bản hòa giải tại Tòa án ngày 03/8/2018 hai bên thỏa thuận:
Ông Đặng Văn C, Thị Đ đồng ý trả lại cho 05 mét x 32 mét đất tại
đường Trần ng Đạo, tổ dân phố 6, thị trấn P, huyện N, tỉnh K (nay B,
tỉnh Q), nhưng ông C, bà Đ nhu cầu mua lại thửa đất với giá 500.000.000
đồng, thời gian ông C, Đ thanh toán số tiền 500.000.000 đồng cho K o
ngày 20/8/2018 K trách nhiệm về nguồn gốc đất để ông C, Đ được
miễn, giảm thuế m thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tuy
nhiên đến ngày 10/8/2018 Đ đơn thay đổi ý kiến, không chấp nhận thỏa
thuận như biên bản hòa giải ngày 03/8/2018 đề nghị đưa Đặng Thị D
chị gái ông Đặng Văn C tham gia tố tụng với cách người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Sau đó K yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông
C, bà Đ trả lại diện tích đất 10m x 32m như đơn khởi kiện.
Theo trích lục đo vẽ của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai ngày
13/9/2019 ngày 03/4/2023 thì 75 mét đất từ cạnh phía Bắc đến cạnh phía
Nam đường Trần Hưng Đạo gồm 14 thửa. Thửa thứ nhất giáp suối cạn (cạnh
phía bắc) chiều dài đường Trần Hưng Đạo 7,0 mét thuộc thửa đất số 59 đã
giấy chứng nhận QSDĐ mang tên anh Nguyễn Văn L nguồn gốc nhận
chuyển nhượng của bà Dương Thị N. Thửa số 14 (cạnh phía Nam giáp đất bà Y)
chiều dài đường Trần Hưng Đạo 5,19 mét K bán cho ông Đinh Văn N,
ông N đã xây nhà kiên cố trên toàn bộ diện tích đất (đất chưa giấy chứng
nhận QSDĐ). Thửa đất đang tranh chấp theo số thứ tự từ cạnh Bắc đến cạnh
Nam thửa số 12 13; thửa số 12 kích thước 5,25m, 8m, 28,2m, 23m tổng
5
diện tích 152,8m
2
trên đất căn nhà gỗ tạm 44,64m
2
. Thửa đất số 13 ch
thước 5,39m, 10,15m, 3,40m, 5m, 18,25m, 23m tổng diện tích 134,9m
2
trên
đất có căn nhà xây 85,5m
2
; Nhà bếp, chuồng heo 31,5m
2
; Nhà vệ sinh 7m
2
.
Tại phiên tòa, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với thửa đất
tổng diện tích 134,9m
2
, chỉ yêu cầu bị đơn tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản
trên thửa đất có tổng diện tích là 152,8m
2
tương đương giá thị trường
700.000.000 đồng ngoài ra không yêu cầu gì khác.
- Bị đơn bà Vũ Thị Đ trình bày:
ông Đặng Văn C đến vị trí đất đang tranh chấp hiện nay đề lập
nghiệp, năm 1991, 1992 ông Đặng Văn T (anh trai ông C) khai hoang được thửa
đất, năm 1997 do vợ, chồng không đất nên ông T đã cho vợ, chồng
thửa đất nói trên, khi cho ông T viết giấy tay nhưng ông, bà đã làm mất, thửa
đất khi đó còn là đất đồi và vợ, chồng bà đã làm nhà (nay là đường A G). Quá
trình sinh sống tại mảnh đất trên, không lối đi nên gia đình tha thuận
với bà K đổi đất cho nhau để gia đình bà có lối đi ra đường Trần Hưng Đạo, còn
K lấy đất phía bắc giáp đất cho vuông đất, hai bên thống nhất trao đổi
bằng miệng, không có giấy tchứng minh. Năm 1998 sau khi đổi đất cho bà
K, gia đình tiến hành việc múc đất để hạ thấp đất nền làm nhà để đi lại
cho thuận tiện (vì mảnh đất cao hơn mặt đường rất nhiều). Năm 2001 Phòng Tài
nguyên & Môi trường huyện N tiến hành đo đạc, khảo sát v bản đồ địa
chính để phân lô, cắm mốc cho từng hộ nhân trong đó gia đình được
cắm mốc mà không có bất kỳ tranh chấp gì. Cụ thể:
- 01 lô mang tên ông Đặng Văn C có chiều ngang 05 mét (xây dựng nhà ở
năm 2001);
- 01 mang tên Đặng Văn T (con riêng của ông Đặng Văn C), chiều
ngang 05 mét (làm nhà gỗ tạm để thờ cúng mẹ ông C Thị N, chết năm
1999, không để lại di chúc).
chiều ngang 05 mét mang tên ông Đặng n C gia đình đổi
cho K lấy lối đi, năm 2012 ông Đặng Văn C ly hôn, ông C đã giao lại
đất nhà cho con trai tên Đặng Văn L sinh sống, còn phần đất mang
tên Đặng Văn T đưc giao lại cho bà Đặng Thị D (chgái ông C) quản lý. Từ
năm 1997 cho đến năm 2014 không bất cứ tranh chấp gì, đến cuối năm 2014
ông C bị tai nạn giao thông chấn thương sọ não, không điều khiển được hành vi
của mình, thấy ông C như vậy nên năm 2015 K bắt đầu đi kiện khắp nơi tại
các quan Nhà nước thầm quyền, nhưng không được quan thẩm
quyền nào giải quyết, đến tháng 05/2018 K khởi kiện đến Tòa án yêu cầu gia
đình phải trả lại diện tích đất 10 mét chiều ngang, 32 mét chiều dài tại
6
đường Trần ng Đạo, tổ n phố 6, thị trấn P, huyện N, tỉnh K (nay Bờ
Y, tỉnh Q) là hoàn toàn không có cơ sở, nên bà không chấp nhận.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị D trình bày: Bà nhất
trí với lời trình bày của bị đơn bổ sung như sau: Năm 1997, 1998 em trai
bà là Đặng Văn C sử dụng được khoảng 12 mét đất chiều ngang mặt đường Trần
Hưng Đạo, chiều sâu khoảng 100 m, phần đất K chiều sâu mặt đường Trần
Hưng Đạo khoảng 03 mét. Mục đích ông C muốn vuông đất nên thỏa thuận với
K đổi đất cho nhau, cách thức đổi: Ông C lấy thẳng ra đường QL14C (nay
là đường Trần Hưng Đạo) cắt lại cho bà K phía trước 2 m, phía sau 5m. Việc đổi
đất không có ai làm chứng và không có giấy t xác định đất của ông C,
Đ kéo dài từ phía trước đến phía sau theo mặt đường Trần Hưng Đạo 10m.
Năm 1999 Thị N (mđẻ của ông C) đã xây dựng căn nhà gỗ tạm 2
gian sử dụng ổn định không ai tranh chấp, nay bà K cho rằng đất của K
hoàn toàn không có căn cứ, nên bà yêu cầu bác đơn của bà K.
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn và người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan Đặng Thị D Luật ông Hoàng Minh T nhất trí ý kiến
trình y của bị đơn Đặng Thị D bổ sung như sau: Sự thỏa thuận của
các đương sự trong biên bản hòa giải ngày 03/8/2018 là không có giá trị, không
phù hợp với quy định của pháp luật thửa đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng
của Đặng Thị D, đất nguồn gốc của Thị N để lại, về quan hệ pháp
luật tranh chấp, bản chất đây việc giữa hai bên đổi đất cho nhau nên cần
xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp đồng, theo quy định tại
Điều 429 của Bộ luật dân sự thì thời hiệu khởi kiện không còn, không sở
để xác định quan hệ pháp luật về tranh chấp quyền sử dụng đất trong vụ án này.
- Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn L trình bày:
Thửa đất ông C, Đ mua của Y L phía sau thửa đất của mẹ anh (bà K)
khai hoang, do không có đường đi ra đường Trần Hưng Đạo ông C, Đ thống
nhất đổi cho gia đình anh 5 mét mặt đường Trần Hưng Đạo lấy 10 mét đường A
G (đường A G lúc đó chỉ đường đất) để lấy đường đi, việc đổi đất chỉ bằng
miệng không có giấy tờ gì. Sau khi thỏa thuận đổi đất ông C, bà Đ làm nhà ở và
không ai tranh chấp gì, thời điểm y gia đình anh làm rẫy xa không thời
gian trông coi nên ông C, Đ dựng căn nhà tạm trên thửa đất liền kề của gia
đình anh đường Trần Hưng Đạo đổi cho ông C, Đ, đồng thời ông C, Đ
bán luôn thửa đất đã đổi cho gia đình anh đường A G cho ông Đoàn H.
Việc Đ, D khai gia đình anh đổi đất cho vuông thửa đất hoàn toàn
không căn cứ, đất của gia đình anh do mẹ anh khai hoang cạnh thửa cụ
thể đã bán cho một số gia đình họ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất. Đáng ra anh yêu cầu bà Đ, ông C phải tháo dở căn nhà đã xây dựng cố
7
định căn ngỗ tạm đtrả lại toàn bộ diện tích đất cho gia đình anh, nhưng
do căn nhà đã xây cố định trên đất đổi cho gia đình anh; ông C, bà Đ đã ổn
định, nên anh đồng ý với ý kiến của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho
gia đình anh t một phần yêu cầu khởi kiện đối với thửa đất đã đổi với diện
tích là 134,9m
2
và phải tháo dỡ căn nhà gỗ tạm để trả lại toàn bộ diện tích đất
152,8m
2
cho gia đình anh.
- Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan y ban nhân dân thị trấn P,
huyện N không văn bản trình bày ý kiến, không tài liệu nào chứng minh
về nguồn gốc đất của bị đơn, chỉ cung cấp 01 Hồ chuyển nhượng đất
nguồn gốc của bà Dương Thị K 01 hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận QSDĐ của
bà Vũ thị Đ.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện N, người
đại diện theo ủy quyền, ông Nguyễn Đức X không có văn bản trình bày ý kiến gì
ngoài việc đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
- Người làm chứng Dương Thị N trình bày: Nguồn gốc thửa đất tranh
chấp giữa Dương Thị Kh (chị gái bà) với ông Đặng Văn C, Thị Đ,
Đặng Thị D là do bà và bà K khai hoang năm 1986 mà có, tổng chiều ngang mặt
đường đất từ ngã tư Bến Héc đi Công ty 732 đo được khoảng 75 mét mặt đường,
Khang được chia 45m, được chia 30m, chiều sâu chỗ dài nhất khoảng
60m, chỗ ngắn nhất khoảng 30 mét nay đường Trần Hưng Đạo, tổ dân phố 6,
thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum (nay B, tỉnh Q), đất tứ cận như sau:
Cạnh phía Đông cạnh phía Nam giáp đất Y L, cạnh phía Tây giáp đường
đất (nay đường Trần Hưng Đạo), cạnh phía Bắc giáp suối cạn. Năm 1988
làm nhà ở hết 05 mét, còn lại 25 mét vì không có điều kiện ở lại N nên bà đã đổi
cho bà K để bà lấy đất của bà K ở ngoài quê (Phúc Thọ - Hà Nội), đến năm 2012
bà nhượng đất và nhà còn lại cho cháu bà là anh Nguyễn Văn L.
- Người làm chứng Y L trình bày: chuyển đến thôn P, Đ, huyện
N từ năm 2002, trước năm 2002 sát nhà ông C, Đ, nhà đất
trước đây đã bán cho ông Đoàn H (đất bán cho ông Đoàn H nguồn
gốc do bà khai hoang mà có), đất của bà cạnh phía Bắc giáp đất bà Dương Thị K
(bà K bán cho ông Đặng Văn N). Hiện tại không còn thửa đất nào khu vực
đang tranh chấp, tổ dân ph6, thị trấn P(nay xã B). Khi chuyển đi thì ông
C bà Đ đã làm nhà nhưng phía sau, còn đất nhà đang tranh chấp hiện nay
nguồn gốc do N và bà K khai hoang mà có, khu vực đất tranh chấp chỉ
K, bà N khai hoang, bán cho ông C, Đ 05 mét đất với giá
600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) nhưng đất phía sau (trên đồi) còn bán vào
năm nào bà không nhớ.
8
xác định nguồn gốc thửa đất (10m x 32m) đang tranh chấp tại đường
Trần Hưng Đạo, tổ dân phố 6, thị trấn P (nay B) giữa Dương Thị K với
ông Đặng Văn C, Thị Đ, Đặng Thị D nguồn gốc do Dương Thị
K, Dương Thị N khai hoang từ năm 1986 có. Đất khai hoang liền kề
với đất của bà K, bà N tại ngã tư Bến Héc nay là tổ dân phố 6, đường Trần Hưng
Đạo, thị trấn P còn cụ thể bà K, bà N mỗi người khai hoang chia được bao nhiêu
mét thì không biết. Đất khai hoang giáp ranh với đất của K về phía
Đông và phía Bắc. Đất của bà giáp đất ông N (do bà K bán) vòng qua phía đông
đến đất bà S G. Phần còn lại là giáp đất của ông T bà Đ.
- Người làm chứng ông Đoàn H trình bày: Ông đất tọa lạc tại
đường A G tổ dân phố 6, đường Trần Hưng Đạo, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon
Tum (nay B, tỉnh Quảng Ngãi). Phía sau thửa đất (Phía tây) giáp thửa đất
hiện nay K với Đ đang tranh chấp. Nguồn gốc thửa đất theo đường A
G chiều ngang 18 mét, chiều dài 30 mét, ông H mua của ông Đặng Văn C
Lương Thị H vào năm 2013, lúc đó ông C chưa bị tai nạn, giá mua
30.000.000 đồng/01 mét ngang, sau đó tranh chấp xảy ra giữa bà K với Đ thì
Đ chđất ông đã mua của ông C, H đất mà bà Đ đã đổi cho
K. Được biết thửa đất đang tranh chấp giữa K với Đ thửa đất của K,
phía sau giáp đất của ông mua của ông C, bà H. Đ biết được việc ông mua
đất của ông C, bà H vì khi mua xong ông đổ đất nhưng ông không hiểu vì sao bà
Đ lại chỉ đất ông đã mua của ông C, bà H là đất đã đổi để trả cho bà K.
+ Y P trình bày: Nguồn gốc thửa đất tranh chấp nhà giữa K với
bà Đ do bà K khai hoang, vì khi đó bà K thuê bà làm tại vị trí căn nhà gỗ hiện
nay, còn khai hoang vào năm nào thì bà không nhớ.
+ Ông Nguyễn Ngọc H trình bày: Năm 1986 bà K có khai hoang mảnh đất
từ giáp bsuối (hướng bắc) đến giáp đất của Y (hiện nay đã bán cho ông
Đoàn H), sau này gia đình ông C, Đ mua bán hoặc đổi chác thế nào thì
ông không biết, nhưng ông khẳng định đất nhà ông C, Đ đang hiện nay
nguồn gốc do bà K khai hoang, ngoài ra không có ai khai hoang thửa đất trên.
+ Ông A N trình bày: Vtrí đất Đ đang là đất của K khai hoang.
Ông C và Bà Đ ở trên cao thuộc đất của bà Y L.
+ Ông Văn T trình bày: Ông xóm từ ngày chưa thành lập huyện.
Ông T khẳng định ông ở trước hai người, đất bà K phía trước, đất ông C, bà Đ
ở phía sau. Còn việc mua bán giữa hai bên sau này ông không biết.
+ Ông Đỗ Văn T trình bày: Nhà ông rẫy bà Y L sát nhau. Ông làm rẫy
bên cạnh Y L và bà K, sau này bà Y L bán cho ông C, Đ, còn bán thế nào
ông không biết và bà K bán năm nào ông cũng không hay.
9
+ Ông Đặng Văn N trình bày: Nguồn gốc đất ông đang là do ông mua
của bà Dương Thị K vào năm 2002 (5mx19m) với giá 15.000.000 đồng đất chưa
giấy CNQSDĐ. Khi ông mua đất của K thì Đ đã xây nhà, còn việc
tranh chấp giữa họ ông không biết. Năm 2002 đã xảy ra tranh chấp, trước đây
ông C, bà Đ đồ vật liệu bà K không cho.
+ Thị Minh N trình bày: mua thửa đất của K vào năm 2013,
diện tích 423,5m
2
, với số tiền 270.000.000 đồng, hiện nay đã được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất.
+ Ông Đặng Văn T trình bày: Năm 1991, 1992 ông phát đốt được mảnh
rẫy khoảng 100m, chiều rộng 15-17m định trồng phê nhưng không nước,
sau đó để lại cho ông Mười trồng mỳ, chuối, năm 1997 ông Chín không đất
nên ông cho ông Chín làm nhà, khi ông C làm nhà Y L nói đất của Y L
nên ông C phải trả tiền cho bà Y L mới được làm nhà.
Với nội dung vụ án nêu trên, Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh K (Nay là
Tòa án nhân dân khu vực , tỉnh Q) đã quyết định:
Căn cứ Điều 5, khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1
Điều 39, 147, 153, 154, 157, 158, 165, 166, 227, 228, khoản 2 Điều 244, 271
Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 12, khoản 5 Điều 166, khoản 2 Điều 203 Luật đất
đai năm 2013;
Căn cứ khoản 1, 3 Điều 8, 115, 158, 164, khoản 1 Điều 166, 169, 357,
khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 27
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thị K về việc
Tranh chấp quyền sử dụng đất đối với ông Đặng Văn C, bà Vũ Thị Đ.
2. Buộc bị đơn bà Thị Đ, người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bị
đơn ông Đặng Văn C ã chết), người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Đặng
Thị D chấm dứt hành vi sdụng trái phép đất tranh chấp, trả lại cho ơng
Thị K diện tích đất là 153,2m
2
đất tại tổ dân phố 6, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon
Tumất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), đất có các cạnh như sau:
Phía Đông giáp đất Đặng Thị D chiều dài 08 mét; Phía Tây giáp đường
Trần Hưng Đạo có chiều dài 5,25 mét; Phía Nam giáp thửa đất diện tích
132,9m
2
chiều dài 23 mét; Phía Bắc giáp đất Thị S chiều dài 28,2
mét. (Kèm theo đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp đồ vị trí đất tranh
10
chấp có chiều dài cạnh thửa đất ngày 13/9/2019 và ngày 03/4/2023).
3. Buộc bị đơn bà Thị Đ, người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bị
đơn ông Đặng Văn C ã chết), người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Đặng
Thị D tháo dỡ toàn bộ nhà gồm móng tường xây gạch, xi, nền láng xi
măng, cửa gỗ ván, cột kèo gỗ, mái lợp tôn diện tích 44,64m
2
trên đất để trả lại
cho bà Dương Thị K.
4. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc nguyên
đơn tự nguyện rút đối với thửa đất diện tích 132,9m
2
. Nguyên đơn được
quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu đã rút.
Ngoài ra bản án n tuyên về giải quyết tiền tạm ứng chi phí tố tụng, án
phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 01/5/2025, bị đơn Thị Đ kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự
thẩm số: 02a/2025/DS-ST ngày 22/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh K
(nay a án khu vực 11, tỉnh Q). Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án
sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của nguyên đơn của
bà Dương Thị K.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo. Các
bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phát biểu quan điểm
giải quyết vụ án: Vic tuân theo pháp lut ca Thm phán, Hội đồng xét xử, Thư
phiên toà đã tuân th đúng các quy đnh ca B lut t tng n sự. Đối vi
những người tham gia t tụng các đương s đã chấp hành đầy đủ các quy định
ca pháp lut. V quan điểm gii quyết v án: Toà án sơ thẩm chưa thực hiện
được việc tống đạt theo quy định tại khoản 3 Điều 474 Bộ luật tố tụng dân sự
cho chị Đặng Thị T là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông
Đặng Văn C nhưng đã đưa vụ án ra xét xử vào ngày 22/4/2024 (xét xử khi Bộ Tư
pháp Lãnh thổ Đài Loan chưa tống đạt được văn bản tố tụng), vi phạm th
tục tố tụng quy định tại Điều 170, 171, Điều 474, Điều 477 BLTTDS. Do đó,
căn cứ Điều 293, khoản 3 Điều 308, khoản 1 Điều 310 Bộ luật Tố tụng n sự,
đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đơn kháng o của bị đơn
Thị Đượm, huBản án thẩm số 02a/2025/DS-ST ngày 22/4/2025 của Tòa án
nhân dân huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum, giao hồ sơ vụ án về cho cấp sơ xét xử
theo quy định pháp luật. Về án án dân sự phúc thẩm giải quyết theo quy định
của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
11
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Tòa án cấp thẩm xác định thẩm quyền, người tham gia tố tụng
đúng quy định. Bị đơn kháng cáo trong thời hạn đúng thủ tục theo quy định
pháp luật nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét.
[2]. Xét kháng cáo toàn bộ bản án, HĐXX thấy rằng:
[2.1]. Về nguồn gốc đất: Nguyên đơn Dương Thị K khai rằng 02 thửa
đất đang tranh chấp do Dương Thị N khai hoang năm 1986,
Thị Đ phía sau đất của trên đồi; còn Thị Đ khai rằng hai thửa
đất này là do anh chồng bà là ông Đặng Văn T khai hoang, đến năm 1997 ông T
cho lại vợ chồng bà, bà K khai hoang tại đoạn này giáp đường Trần Hưng Đạo
chỉ 3m chiều sâu nằm phía trước đất của vợ chồng bà, phần đất này K đã
đổi cho vợ chồng bà để lấy phần đất phía bắc thửa đất của bà Đ ông C để vuông
đất. Hai lời khai này mâu thuẫn về nguồn gốc đất, xét các tài liệu chứng cứ khác
có trong hồ sơ vụ án:
[2.1.1]. Quá trình giải quyết vụ án, bà K có nhiều bản tự khai và nhiều văn
bản có nội dung bà K trình bày về nguồn gốc đất trong quá trình giải quyết tranh
chấp tại địa phương, các lời khai này mâu thuẫn với các chứng cứ khác có trong
hồ sơ vụ án, cụ thể:
- Tại biên bản hòa giải ngày 16/03/2017 tại UBND thị trấn P (bút lục
27,28,29), biên bản làm việc với Phòng Tài nguyên và môi trường huyện N ngày
10/02/2017 (BL 348), lời khai của K ngày 03/8/2020 (BL 368) bà K khai đất
khai hoang năm 1986 ngang 45m, sâu 35, tại đường Trần Hưng Đạo, năm
1998 (1999) cho ông C mượn 2m làm đường đi, năm 2004 con anh
Nguyễn Văn L đổi 5m đường Trần Hưng Đạo cho ông C Đ để lấy 10m đất
phía sau đường A G, năm 2006 ông C bà Đ múc đất xây nhà và tranh chấp từ đó
đến nay.
Đối với các lời khai này thấy rằng: Bà N (mẹ ông C) xây dựng nhà gỗ trên
thửa đất đang tranh chấp được làm từ năm 1999, nhà cấp 4 ông C bà Đ xây dựng
trên đất đang tranh chấp được làm từ năm 2001, lời khai này có ông Phan Văn H
người xây nhà cho ông C và Đ xác nhận các chứng cứ khác đều thể
hiện việc xây dựng nhà được thực hiện trong thời gian trên. Như vậy, lời khai
của K không phợp, bởi lẽ năm 2001 ông C Đ đã xây nhà mà bà K
khai năm 2004 mới đổi đất và cho rằng đất đổi này là đất bà Đ xây nhà, là không
hợp lý.
12
[2.1.2]. Bà K khai rằng ông C, bà Đ sang thương lượng bằng miệng với bà
đổi 10m đất đường A G (của ông C, bà Đ) lấy 5m đất đường Trần Hưng Đạo (là
đất của K khai hoang thửa đất nhà gỗ hiện tại); còn Đ khai rằng việc
đổi đất nhằm mục đích cho vuông đất, gia đình lấy 10m ngang, chiều sâu
khoảng 3m đất phía trước giáp đường Trần Hưng Đạo để lấy lối đi, còn bà K lấy
2m chiều ngang, 10m chiều sâu góc xéo cuối đất cho vuông góc (BL 85 văn
bản trình bày bà Đ giao nộp tại giai đoạn xét xử phúc thẩm). Xét các chứng cứ
liên quan đến vtrí đất 10m mặt đường Trần Hưng Đạo hai bên xác định đất
đổi, không tài liệu do quan nhà nước thẩm quyền cung cấp, do đó xét
các lời khai của những người làm chứng thấy rằng:
Ông Nguyễn Ngọc H khẳng định đất ông C Đ bây giờ nguồn gốc đất
K khai hoang năm 1986 (BL 104); ông Đoàn H khai thấy K khai
hoang tmương nước tới đất bà Y L nhưng diện tích chiều dài rộng ông không
rõ (BL 105); ông Nguyễn Văn N khai năm 1998 khi ông được ông T dẫn lên nhà
ông C bà Đ chơi có đi qua vạt cỏ một đầu khoảng 6 bước chân một đầu3 đến
4 bước chân là đến phần đất ông C, bà Đ, khi ông hỏi thì ông T bảo là đất của bà
K ít, bên trong đất của anh C chị Đ bây giờ đồi cao (BL 106); ông
Văn T khai đất của anh C Đ m bên trong còn đất của K đằng trước một vài
mét chiều sâu (BL 109). Thấy rằng: Những người làm chứng đều xác định K
khai hoang phần đất giáp đường Trần Hưng Đạo, tuy nhiên không ai xác định
được thực tế kích thước đất K đã khai hoang bao nhiêu, chlời khai
của ông T ông N tả về chiều rộng đất, thể hiện chỉ rộng vài mét, còn
phía sau đất ông C Đ. Như vậy chưa sở khẳng định tại vị ttranh
chấp K khai hoang kích thước chiều rộng khoảng 35m như lời trình
bày.
[2.1.3]. Xét lời khai của bị đơn Thị Đ, ông Đặng n C về việc
khai hoang đất: Ông C, Đ khai nhận m 1991, 1992 ông Đặng Văn T (anh
trai ông C) khai hoang được thửa đất, năm 1997 do vợ chồng ông C Đ không
đất nên ông T để lại thửa đất, khi đó còn đất đồi vợ, chồng đã m
nhà ở (nay là đường A G); năm 1998 ông C bà Đ đổi 10m đất phía trước giáp
đường Trần Hưng Đạo để lấy lối đi, còn K lấy 10m góc xéo cuối đất cho
vuông góc, thấy rằng:
Ông Đoàn Bá H khai ông đến đây sống từ năm 1998, thấy K dọn từ
mương nước đến đất của Y L nhưng ông không kích thước còn phía trên
đồi gian nnhỏ của anh C (BL 105); Ông Văn T khai Đất của anh C Đ
m bên trong còn đất của K đằng trước một vài mét chiều sâu (BL 109).
Những lời khai trên thể hiện bà K chỉ khai khoang một phần đất giáp đường
Trần Hưng Đạo, n phía bên trong do ông C và Đ sử dụng.
13
[2.1.4]. Xét lời khai của bà Y L: Bà khai trước năm 2002 bà cư trú gần sát
nhà ông C Đ trước đây, khi chuyển vào thôn P thì ông C Đ đã làm nhà
ở phía sau, đất căn nhà gỗ hiện nay có nguồn gốc bà K khai hoang. Lời khai của
bà Đ ông C và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án thể hiện năm 1998 - 1999 bà
N mẹ ông C đã xây dựng căn nhà gỗ tại vị trí đang tranh chấp, năm 2001 2002
ông C Đ đã xây nhà gạch cấp 4 trên đất đang tranh chấp (Lời khai của: ông
Đoàn H (BL 105), ông Nguyễn Văn N (BL 106), đơn xin xác nhận nhà đất
của Đ đã được ông Nguyễn Huy D thôn trưởng từ 1996 - 1999, Phạm Văn
T thôn trưởng 2000 - 2002, Phạm Văn V thôn trưởng hiện tại xác nhận).
Đồng thời tại Biên bản làm việc ngày 16/11/2017 (BL 26), Phòng tài nguyên
môi trường huyện Ngọc Hồi, UBND thị trấn P đã mời Y L ra thực địa vị trí
đất đang tranh chấp, nhưng bà Y L không nhớ cụ thể về ranh giới thửa đất trước
đây do thay đổi hiện trạng các hộ đã san ủi mặt bằng; tại tờ bản đồ địa chính
số 50 trang sổ mục đi kèm (tài liệu do Đ cung cấp tại giai đoạn xét xử
phúc thẩm, đóng dấu treo của Chi nhánh văn phòng đăng đất đai khu vực
XI) thhiện khu vực đất đang tranh chấp, Y L thửa đất số 14, cạnh phía
bắc của thửa đất Y L chủ yếu giáp đất ông A N, ông Nguyễn Văn Q ch
một phần ít giáp đất ông Đặng Văn C; không phải giáp đất bà K như lời khai của
bà Y L (BL 387).
Từ những nhận định trên thấy rằng nguồn gốc đất của 02 thửa đất đang
tranh chấp còn có nhiều mâu thuẫn, nhiều lời khai khác nhau, lời khai của những
người làm chứng còn chưa cụ thể về vị trí, kích thước khai hoang của bà K và bà
Đ, chưa lấy lời khai cụ thể của cán bộ thôn qua các thời kỳ, việc này Tòa án cấp
phúc thẩm không thể khắc phục được.
[2.2]. Về quá trình sử dụng đất: Căn cứ các chứng cứ trong hồ sơ có cơ sở
xác định Ngoạt đã xây nhà gỗ trên đất tranh chấp vào năm 1998 - 1999, ông
C Đ xây nhà cấp 4 trên đất tranh chấp vào năm 2001 2002, cả hai căn nhà
hiện vẫn còn. Giai đoạn xét xử phúc thẩm, Đ giao nộp chứng cứ là đơn trình
bày đề ngày 16/10/2016 của Thị Đ, biên bản xác minh về tình trạng sử
dụng đất ngày 08/9/2025. Hai văn bản này nhiều người tham gia xác minh
(Văn T, Xuân T, Đoàn H, Nguyễn Thị L, Phạm Văn P, Đặng Văn H,
Trần Thị H, Trương Thị H các thôn trưởng qua các thời kỳ gồm ông
Nguyễn Huy D, ông Phạm Văn T, Đào Thị H, ông Phạm Văn V xác nhận).
HĐXX thấy rằng nội dung văn bản thể hiện quá trình sử dụng thửa đất hai
căn nhà trên không ai cản trở, có lời khai còn thể hiện K vẫn tại địa
phương từ đó đến nay (trái ngược với lời khai của bà K ông l cho rằng do đi
làm ăn xa nên không biết việc đất bị lấn chiếm). Ngoài ra ngày 12/9/2025 Tòa
án nhận được văn bản xác nhận đề ngày 11/9/2025 của ông Đặng n N nội
14
dung ông bác bỏ toàn bộ lời khai được ghi nhận trong nội dung bản án sơ thẩm,
ông mua đất của K từ m 2007, chuyển về địa phương sống từ năm 2013
nên lời khai của ông trong bản án rằng năm 2002 đã xảy ra tranh chấp không
đúng. Đây những chứng cứ thể làm thay đổi bản chất vụ án, nhưng chưa
được xác minh, Tòa án cấp phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được.
[2.3]. Ngày 25/6/2020, ông Đặng Văn C chết (theo trích lục khai tử s24
ngày 03/7/2020); Tòa án cấp thẩm đưa các con vông C vào tham gia tố
tụng là đúng quy định, tuy nhiên ông Ccon là bà Đặng Thị T, sinh năm 1993
hiện đang sinh sống tại Đài Loan, Tòa án cấp thẩm đã xét xử vụ án khi chưa
kết quả ủy thác pháp, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, Tòa án
nhân dân tỉnh Quảng Ngãi nhận được văn bản số 2825/BTP-PLQT ngày
31/7/2025 của Bộ pháp về kết quả ủy thác pháp, theo đó hồ ủy thác
pháp được thực hiện vào ngày 15/5/2025 bằng phương thức gửi hồ sơ ủy thác tư
pháp tại đồn công an, là sau khi Tòa án cấp sơ thẩm xét xử tuyên án, việc xét
xử khi chưa tống đạt hợp lệ cho người tham gia tố tụng là vi phạm tố tụng, làm
ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Từ những nhận định trên thấy rằng cần chấp nhận kháng cáo của bđơn
Thị Đ, hủy bản án thẩm số 02a/2025/DS-ST ngày 22/4/2025 của Tòa
án nhân dân huyện N, tỉnh K (nay là a án khu vực 11, tỉnh Q), chuyển toàn bộ
hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung.
[3]. Về án pthẩm, chi phí tố tụng: Do bản án thẩm bhủy nên
HĐXX phúc thẩm không xem xét, sẽ được giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
[4]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận, nên bị
đơn bà Vũ Thị Đ không phi chu 300.000 đồng tin án phí dân s phúc thm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Vũ Thị Đ, hủy toàn bộ Bản án dân
sự thẩm số: 02a/2025/DS-ST ngày 22/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện N,
tỉnh K (nay là Tòa án khu vực 11, tỉnh Quảng Ngãi).
Chuyển hồ về Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh Q giải quyết lại theo
thủ tục sơ thẩm.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
15
Bị đơn Vũ Thị Đ không phải chịu án phí dân sphúc thẩm. Hoàn trả cho
Thị Đ số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002218 ngày
06/5/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện N, tỉnh K (nay Phòng Thi
hành án dân sự khu vực 11 tỉnh Quảng Ngãi).
Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng sẽ được giải quyết lại theo thủ
tục sơ thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhâ
̣
n:
- VKSND Tỉnh Quảng Ngãi;
- Phòng THADS KV11 tỉnh Quảng Ngãi;
- VKSND KV11 tỉnh Quảng Ngãi;
- TAND KV11 tỉnh Quảng Ngãi;
- Ca
́
c đương sư
̣
;
- Lưu: Hô
̀
sơ vu
̣
a
́
n.
THÂ
̉
M PHA
́
N - CHU
̉
TO
̣
A PHIÊN TO
̀
A
(Đã ký)
Nguyễn Hành
16
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THÂ
̉
M PHA
́
N
CHU
̉
TO
̣
A PHIÊN TO
̀
A
Tải về
Bản án số 74/2025/DSPT Bản án số 74/2025/DSPT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 74/2025/DSPT Bản án số 74/2025/DSPT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất