Bản án số 74/2025/DSPT ngày 20/09/2025 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 74/2025/DSPT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 74/2025/DSPT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 74/2025/DSPT
| Tên Bản án: | Bản án số 74/2025/DSPT ngày 20/09/2025 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Quảng Ngãi |
| Số hiệu: | 74/2025/DSPT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 20/09/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Bà Dương Thị Khang khởi kiện đòi lại Quyền sử dụng đất với bà Vũ Thị Đượm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI
Bản án số: 74/2025/DS-PT
Ngày 20/9/2025
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hành
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Minh Thành, ông Vũ Văn Thuấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi: Bà Chu Thị Sáu –
Kiểm sát viên.
Trong ngày 18/9/2025 (xử trực tuyến tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Ngãi và Hội trường Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh Quảng Ngãi) và
ngày 20/9/2025 (xử trực tiếp tại địa chỉ: 204 Trần Phú, phường Kon Tum, tỉnh
Quảng Ngãi), Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đưa ra xét xử phúc thẩm công
khai vụ án dân thụ lý số 12/2025/TLPT-DS ngày 30/5/2025 về việc “Tranh
chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 02a/2025/DS-ST ngày
22/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum (nay là Tòa án
khu vực 11, tỉnh Quảng Ngãi) bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử phúc thẩm số: 94/2025/QĐXX-PT ngày 30 tháng 7 năm 2025, Quyết định
hoãn phiên tòa và Quyết định tạm ngừng phiên tòa giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Dương Thị K; sinh năm: 1943; địa chỉ: Tổ dân phố 6,
xã B, tỉnh Q; (trước đây là: thị trấn P, huyện N, tỉnh K). Có mặt.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là ông Ngô Đức
N, là Luật sư Văn phòng Luật sư Ngô Đức N thuộc Đoàn Luật sư tỉnh G; địa
chỉ: Số 203, đường Lý Thái T, phường D, tỉnh G (trước đây là phường Y,
thành phố Plei Ku, tỉnh Gia Lai). Có mặt.
- Bị đơn: Bà Vũ Thị Đ, sinh năm 1971 và ông Đặng Văn C, sinh năm
1971 (chết ngày 25/6/2020 theo trích lục khai tử số 24 ngày 03/7/2020); cùng

2
địa chỉ: Tổ dân phố 6, xã B, tỉnh Quảng Ngãi; (trước đây là: thị trấn P, huyện
N, tỉnh K). Có mặt.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Đặng Văn Chín
gồm:
+ Bà Lương Thị H; sinh năm: 1980; Cháu Lương Thị Quỳnh C, sinh
năm 2013, cháu Đặng Thị Khánh C, sinh năm: 2015; cùng địa chỉ: Thôn T, xã
B, tỉnh Q; (Trước đây là xã P, huyện N, tỉnh Kon Tum.) (Chị H là người giám
hộ cho cháu C và cháu C). Đều vắng mặt.
+ Anh Đặng Văn L; sinh năm: 1999; địa chỉ: Tổ dân phố 6, xã B, tỉnh
Q; (trước đây là: thị trấn P, huyện Ni, tỉnh Kon Tum) . Vắng mặt.
+ Anh Đặng Văn T; sinh năm: 1991; địa chỉ: Thôn H, xã N, thành phố H
(Trước đây là xã H, huyện T, tỉnh H). Vắng mặt.
+ Chị Đặng Thị T; sinh năm: 1993; địa chỉ: Thôn H, xã N, thành phố H
(Trước đây là xã H, huyện T, tỉnh H). Hiện đang sinh sống và làm việc tại:
289/3 T, tổ 9, thôn T, xã T, huyện T, Đài Loan. Vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn là ông Hoàng Minh
T, là Luật sư Văn phòng Luật sư Minh T thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Quảng
Ngãi; địa chỉ: Số 157 đường P, phường K, tỉnh Q. (Trước đây là phường T, Tp
K, tỉnh Kon Tum). Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ UBND xã B, tỉnh Quảng Ngãi (Là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố
tụng của UBND huyện N và Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon
Tum); Địa chỉ: Thôn 6, xã B, tỉnh Quảng Ngãi; (trước đây là: Thị trấn Pn,
huyện N, tỉnh K). Có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
+ Bà Đặng Thị D; Địa chỉ: Thôn 4, xã B, tỉnh Q; (trước đây là: Thị trấn
P, huyện Ni, tỉnh Kon Tum); Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Đặng Thị D: Luật sư
Hoàng Minh T. Có mặt.
+ Anh Nguyễn Văn L; Địa chỉ: Tổ dân phố 6, xã B, tỉnh Q; (trước đây
là: Thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum). Có mặt.
- Những người làm chứng:
+ Ông Đoàn Bá H; địa chỉ: Tổ dân phố 6, xã B, tỉnh Quảng Ngãi;. Có văn
bản xin xét xử vắng mặt.
3
+ Ông Đặng Văn N; địa chỉ: Tổ dân phố 6, xã Bờ Y, tỉnh Quảng Ngãi; Có
văn bản xin xét xử vắng mặt.
+ Ông Vũ Văn T; địa chỉ: Tổ dân phố 1, xã Bờ Y, tỉnh Quảng Ngãi. Có
văn bản xin xét xử vắng mặt.
+ Ông Đặng Văn H; địa chỉ: Tổ dân phố 6, xã Bờ Y, tỉnh Quảng Ngãi;
Vắng mặt.
+ Ông Phạm Văn T; địa chỉ: Tổ dân phố 6, xã Bờ Y, tỉnh Quảng Ngãi; Có
mặt
+ Ông Nguyễn Huy D; địa chỉ: Tổ dân phố 6, xã B, tỉnh Q; Có mặt.
+ Bà Đặng Thị N; địa chỉ: Thôn 5, xã Bờ Y, tỉnh Q; Có mặt.
+ Ông Nguyễn Văn N; địa chỉ: Thôn 5, xã B, tỉnh Q; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày của các đương sự, người
đại diện theo ủy quyền, vụ án được tóm tắt như sau:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/5/2018 và các tài liệu, chứng cứ có trong
hồ sơ vụ án, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà
Dương Thị K và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn, ông
Ngô Đức N trình bày:
Năm 1986 gia đình bà K được người anh đưa từ ngoài Bắc vào làm công
nhân Công ty 732, sau đó được Công ty đưa đến Ngã tư Bến Héc (thị trấn P cũ,
nay là xã B), bà và em gái là Dương Thị N phát đốt quả đồi được diện tích đất
chiều rộng theo đường mòn từ Bến Héc vào Công ty 732 nay là đường Trần
Hưng Đạo thuộc tổ dân phố 6, thị trấn P, huyện N, chiều ngang mặt đường là 75
mét (cạnh phía Bắc đến cạnh phía Nam), chiều sâu (cạnh phía Tây đến cạnh phía
Đông) có chỗ 60 mét, có chỗ 35 mét. Xung quanh thửa đất, bên ngoài bà trồng
cao su, bên trong bà trồng lúa, ngô để cải thiện đời sống. Sau một thời gian bà
và bà N thỏa thuận Bà N được chia 30 mét từ suối cạn (từ cạnh phía bắc), còn bà
được chia 45 mét (cạnh phía nam). Năm 1988 bà N làm nhà ở trên diện tích đất
giáp suối cạn. Năm 1989 đến năm 2012 do bà N không có điều kiện ở lại N nên
đã đổi toàn bộ diện tích đất được chia và nhà cho bà và anh Nguyễn Văn Lập
(con trai bà K) để bà N lấy đất của bà ở quê P - Hà Nội. Sau này do bà đau, ốm
nên bà đã bán đất cho bà Lê Thị S, ông Đặng Văn H, bà Vũ Thị L, ông Phạm
Văn H, ông Trịnh Văn K, bà Lê Thị Kim N, ông Đặng Văn N (trong số những
người mua đất của bà có một số đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất).
4
Khoảng năm 1998, 1999 vợ chồng ông Đặng Văn C, bà Vũ Thị Đ mua
của bà Y L một thửa đất phía trên đồi, giáp phía sau thửa đất của bà. Do không
có đường đi ra đường mòn (nay là đường Trần Hưng Đạo) nên ông C, bà Đ hỏi
mượn bằng miệng của bà khoảng 03 mét mặt đường để làm lối đi, khi Nhà nước
phóng mở đường A G đi ngang qua thửa đất ông C, bà Đ mua của bà Y L. Ông
C, bà Đ thương lượng, thoả thuận miệng với bà là đổi cho bà 10 mét đất đường
A G để ông C, bà Đ lấy 05 mét đất đường Trần Hưng Đạo. Sau khi hai bên thỏa
thuận về việc đổi đất, ông C, bà Đ đã xây nhà trên diện tích đất đã đổi. Sau một
thời gian, lợi dụng bà đi làm rẫy ở xa ông C, bà Đ đã sang nhượng 10 mét đất đã
đổi cho bà ở đường A G cho người khác và làm tiếp căn nhà gỗ tạm bên cạnh
nhà xây thuộc thửa đất của bà trên đường Trần Hưng Đạo, khai khống với cơ
quan đo đạc để làm trích lục mang tên mình, khi phát hiện bà cản trở, ngăn chặn,
chính quyền địa phương đã can thiệp, UBND thị trấn P tiến hành hòa giải nhưng
không thành, vì vậy bà khởi kiện yêu cầu ông C, bà Đ tháo dỡ, di dời toàn bộ tài
sản trên đất trái phép để trả lại diện tích đất 10 mét x 32 mét trên đường Trần
Hưng Đạo, tổ dân phố 6, thị trấn P, huyện N, tỉnh K (nay là xã B, tỉnh Q) cho bà.
Trong biên bản hòa giải tại Tòa án ngày 03/8/2018 hai bên thỏa thuận:
Ông Đặng Văn C, bà Vũ Thị Đ đồng ý trả lại cho bà 05 mét x 32 mét đất tại
đường Trần Hưng Đạo, tổ dân phố 6, thị trấn P, huyện N, tỉnh K (nay là xã B,
tỉnh Q), nhưng ông C, bà Đ có nhu cầu mua lại thửa đất với giá là 500.000.000
đồng, thời gian ông C, bà Đ thanh toán số tiền 500.000.000 đồng cho bà K vào
ngày 20/8/2018 và bà K có trách nhiệm về nguồn gốc đất để ông C, bà Đ được
miễn, giảm thuế và làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tuy
nhiên đến ngày 10/8/2018 bà Đ có đơn thay đổi ý kiến, không chấp nhận thỏa
thuận như biên bản hòa giải ngày 03/8/2018 và đề nghị đưa bà Đặng Thị D là
chị gái ông Đặng Văn C tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Sau đó bà K yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông
C, bà Đ trả lại diện tích đất 10m x 32m như đơn khởi kiện.
Theo trích lục đo vẽ của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai ngày
13/9/2019 và ngày 03/4/2023 thì 75 mét đất từ cạnh phía Bắc đến cạnh phía
Nam đường Trần Hưng Đạo gồm 14 thửa. Thửa thứ nhất giáp suối cạn (cạnh
phía bắc) có chiều dài đường Trần Hưng Đạo là 7,0 mét thuộc thửa đất số 59 đã
có giấy chứng nhận QSDĐ mang tên anh Nguyễn Văn L có nguồn gốc nhận
chuyển nhượng của bà Dương Thị N. Thửa số 14 (cạnh phía Nam giáp đất bà Y)
có chiều dài đường Trần Hưng Đạo là 5,19 mét bà K bán cho ông Đinh Văn N,
ông N đã xây nhà kiên cố trên toàn bộ diện tích đất (đất chưa có giấy chứng
nhận QSDĐ). Thửa đất đang tranh chấp theo số thứ tự từ cạnh Bắc đến cạnh
Nam là thửa số 12 và 13; thửa số 12 kích thước là 5,25m, 8m, 28,2m, 23m tổng
5
diện tích là 152,8m
2
trên đất có căn nhà gỗ tạm 44,64m
2
. Thửa đất số 13 kích
thước 5,39m, 10,15m, 3,40m, 5m, 18,25m, 23m tổng diện tích là 134,9m
2
trên
đất có căn nhà xây 85,5m
2
; Nhà bếp, chuồng heo 31,5m
2
; Nhà vệ sinh 7m
2
.
Tại phiên tòa, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với thửa đất
có tổng diện tích là 134,9m
2
, chỉ yêu cầu bị đơn tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản
trên thửa đất có tổng diện tích là 152,8m
2
tương đương giá thị trường là
700.000.000 đồng ngoài ra không yêu cầu gì khác.
- Bị đơn bà Vũ Thị Đ trình bày:
Bà và ông Đặng Văn C đến vị trí đất đang tranh chấp hiện nay đề lập
nghiệp, năm 1991, 1992 ông Đặng Văn T (anh trai ông C) khai hoang được thửa
đất, năm 1997 do vợ, chồng bà không có đất ở nên ông T đã cho vợ, chồng bà
thửa đất nói trên, khi cho ông T có viết giấy tay nhưng ông, bà đã làm mất, thửa
đất khi đó còn là đất đồi và vợ, chồng bà đã làm nhà ở (nay là đường A G). Quá
trình sinh sống tại mảnh đất trên, vì không có lối đi nên gia đình bà thỏa thuận
với bà K đổi đất cho nhau để gia đình bà có lối đi ra đường Trần Hưng Đạo, còn
bà K lấy đất phía bắc giáp đất bà cho vuông đất, hai bên thống nhất và trao đổi
bằng miệng, không có giấy tờ gì chứng minh. Năm 1998 sau khi đổi đất cho bà
K, gia đình bà tiến hành việc múc đất để hạ thấp đất nền và làm nhà ở để đi lại
cho thuận tiện (vì mảnh đất cao hơn mặt đường rất nhiều). Năm 2001 Phòng Tài
nguyên & Môi trường huyện N tiến hành đo đạc, khảo sát và vẽ bản đồ địa
chính để phân lô, cắm mốc cho từng hộ cá nhân trong đó có gia đình bà được
cắm mốc mà không có bất kỳ tranh chấp gì. Cụ thể:
- 01 lô mang tên ông Đặng Văn C có chiều ngang 05 mét (xây dựng nhà ở
năm 2001);
- 01 lô mang tên Đặng Văn T (con riêng của ông Đặng Văn C), có chiều
ngang 05 mét (làm nhà gỗ tạm để thờ cúng mẹ ông C là bà Vũ Thị N, chết năm
1999, không để lại di chúc).
Lô có chiều ngang 05 mét mang tên ông Đặng Văn C mà gia đình bà đổi
cho bà K lấy lối đi, năm 2012 bà và ông Đặng Văn C ly hôn, ông C đã giao lại
đất và nhà cho bà và con trai tên là Đặng Văn L sinh sống, còn phần đất mang
tên Đặng Văn T được giao lại cho bà Đặng Thị D (chị gái ông C) quản lý. Từ
năm 1997 cho đến năm 2014 không có bất cứ tranh chấp gì, đến cuối năm 2014
ông C bị tai nạn giao thông chấn thương sọ não, không điều khiển được hành vi
của mình, thấy ông C như vậy nên năm 2015 bà K bắt đầu đi kiện khắp nơi tại
các cơ quan Nhà nước có thầm quyền, nhưng không được cơ quan có thẩm
quyền nào giải quyết, đến tháng 05/2018 bà K khởi kiện đến Tòa án yêu cầu gia
đình bà phải trả lại diện tích đất là 10 mét chiều ngang, 32 mét chiều dài tại
6
đường Trần Hưng Đạo, tổ dân phố 6, thị trấn P, huyện N, tỉnh K (nay là xã Bờ
Y, tỉnh Q) là hoàn toàn không có cơ sở, nên bà không chấp nhận.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị D trình bày: Bà nhất
trí với lời trình bày của bị đơn và bà bổ sung như sau: Năm 1997, 1998 em trai
bà là Đặng Văn C sử dụng được khoảng 12 mét đất chiều ngang mặt đường Trần
Hưng Đạo, chiều sâu khoảng 100 m, phần đất bà K chiều sâu mặt đường Trần
Hưng Đạo khoảng 03 mét. Mục đích ông C muốn vuông đất nên thỏa thuận với
bà K là đổi đất cho nhau, cách thức đổi: Ông C lấy thẳng ra đường QL14C (nay
là đường Trần Hưng Đạo) cắt lại cho bà K phía trước 2 m, phía sau 5m. Việc đổi
đất không có ai làm chứng và không có giấy tờ gì và xác định đất của ông C, bà
Đ kéo dài từ phía trước đến phía sau theo mặt đường Trần Hưng Đạo là 10m.
Năm 1999 bà Vũ Thị N (mẹ đẻ của bà và ông C) đã xây dựng căn nhà gỗ tạm 2
gian và sử dụng ổn định không ai tranh chấp, nay bà K cho rằng đất của bà K là
hoàn toàn không có căn cứ, nên bà yêu cầu bác đơn của bà K.
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn và người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị D Luật sư ông Hoàng Minh T nhất trí ý kiến
trình bày của bị đơn và bà Đặng Thị D và bổ sung như sau: Sự thỏa thuận của
các đương sự trong biên bản hòa giải ngày 03/8/2018 là không có giá trị, không
phù hợp với quy định của pháp luật vì thửa đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng
của bà Đặng Thị D, đất có nguồn gốc của bà Vũ Thị N để lại, về quan hệ pháp
luật tranh chấp, bản chất đây là việc giữa hai bên có đổi đất cho nhau nên cần
xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp đồng, theo quy định tại
Điều 429 của Bộ luật dân sự thì thời hiệu khởi kiện không còn, không có cơ sở
để xác định quan hệ pháp luật về tranh chấp quyền sử dụng đất trong vụ án này.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn L trình bày:
Thửa đất ông C, bà Đ mua của bà Y L là phía sau thửa đất của mẹ anh (bà K)
khai hoang, do không có đường đi ra đường Trần Hưng Đạo ông C, bà Đ thống
nhất đổi cho gia đình anh 5 mét mặt đường Trần Hưng Đạo lấy 10 mét đường A
G (đường A G lúc đó chỉ là đường đất) để lấy đường đi, việc đổi đất chỉ bằng
miệng không có giấy tờ gì. Sau khi thỏa thuận đổi đất ông C, bà Đ làm nhà ở và
không ai tranh chấp gì, thời điểm này gia đình anh làm rẫy ở xa không có thời
gian trông coi nên ông C, bà Đ dựng căn nhà tạm trên thửa đất liền kề của gia
đình anh ở đường Trần Hưng Đạo đổi cho ông C, bà Đ, đồng thời ông C, bà Đ
bán luôn thửa đất đã đổi cho gia đình anh ở đường A G cho ông Đoàn Bá H.
Việc bà Đ, bà D khai gia đình anh đổi đất cho vuông thửa đất là hoàn toàn
không có căn cứ, vì đất của gia đình anh do mẹ anh khai hoang có cạnh thửa cụ
thể và đã bán cho một số gia đình và họ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất. Đáng ra anh yêu cầu bà Đ, ông C phải tháo dở căn nhà đã xây dựng cố
7
định và căn nhà gỗ tạm để trả lại toàn bộ diện tích đất cho gia đình anh, nhưng
do căn nhà đã xây cố định trên đất đổi cho gia đình anh; ông C, bà Đ đã ở ổn
định, nên anh đồng ý với ý kiến của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho
gia đình anh là rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với thửa đất đã đổi với diện
tích là 134,9m
2
và phải tháo dỡ căn nhà gỗ tạm để trả lại toàn bộ diện tích đất
152,8m
2
cho gia đình anh.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thị trấn P,
huyện N không có văn bản trình bày ý kiến, không có tài liệu nào chứng minh
về nguồn gốc đất của bị đơn, chỉ cung cấp 01 Hồ sơ chuyển nhượng đất có
nguồn gốc của bà Dương Thị K và 01 hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận QSDĐ của
bà Vũ thị Đ.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện N, người
đại diện theo ủy quyền, ông Nguyễn Đức X không có văn bản trình bày ý kiến gì
ngoài việc đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
- Người làm chứng bà Dương Thị N trình bày: Nguồn gốc thửa đất tranh
chấp giữa bà Dương Thị Kh (chị gái bà) với ông Đặng Văn C, bà Vũ Thị Đ, bà
Đặng Thị D là do bà và bà K khai hoang năm 1986 mà có, tổng chiều ngang mặt
đường đất từ ngã tư Bến Héc đi Công ty 732 đo được khoảng 75 mét mặt đường,
bà Khang được chia 45m, bà được chia 30m, chiều sâu chỗ dài nhất khoảng
60m, chỗ ngắn nhất khoảng 30 mét nay là đường Trần Hưng Đạo, tổ dân phố 6,
thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum (nay là xã B, tỉnh Q), đất có tứ cận như sau:
Cạnh phía Đông và cạnh phía Nam giáp đất bà Y L, cạnh phía Tây giáp đường
đất (nay là đường Trần Hưng Đạo), cạnh phía Bắc giáp suối cạn. Năm 1988 bà
làm nhà ở hết 05 mét, còn lại 25 mét vì không có điều kiện ở lại N nên bà đã đổi
cho bà K để bà lấy đất của bà K ở ngoài quê (Phúc Thọ - Hà Nội), đến năm 2012
bà nhượng đất và nhà còn lại cho cháu bà là anh Nguyễn Văn L.
- Người làm chứng bà Y L trình bày: Bà chuyển đến thôn P, xã Đ, huyện
N ở từ năm 2002, trước năm 2002 bà ở sát nhà ông C, bà Đ, nhà và đất bà ở
trước đây bà đã bán cho ông Đoàn Bá H (đất bán cho ông Đoàn Bá H có nguồn
gốc do bà khai hoang mà có), đất của bà cạnh phía Bắc giáp đất bà Dương Thị K
(bà K bán cho ông Đặng Văn N). Hiện tại bà không còn thửa đất nào ở khu vực
đang tranh chấp, tổ dân phố 6, thị trấn P(nay là xã B). Khi bà chuyển đi thì ông
C bà Đ đã làm nhà ở nhưng ở phía sau, còn đất và nhà đang tranh chấp hiện nay
có nguồn gốc do bà N và bà K khai hoang mà có, khu vực đất tranh chấp chỉ có
bà và bà K, bà N khai hoang, bà có bán cho ông C, bà Đ 05 mét đất với giá
600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) nhưng đất ở phía sau (trên đồi) còn bán vào
năm nào bà không nhớ.
8
Bà xác định nguồn gốc thửa đất (10m x 32m) đang tranh chấp tại đường
Trần Hưng Đạo, tổ dân phố 6, thị trấn P (nay là xã B) giữa bà Dương Thị K với
ông Đặng Văn C, bà Vũ Thị Đ, bà Đặng Thị D có nguồn gốc do bà Dương Thị
K, bà Dương Thị N khai hoang từ năm 1986 mà có. Đất bà khai hoang liền kề
với đất của bà K, bà N tại ngã tư Bến Héc nay là tổ dân phố 6, đường Trần Hưng
Đạo, thị trấn P còn cụ thể bà K, bà N mỗi người khai hoang chia được bao nhiêu
mét thì bà không biết. Đất bà khai hoang giáp ranh với đất của bà K về phía
Đông và phía Bắc. Đất của bà giáp đất ông N (do bà K bán) vòng qua phía đông
đến đất bà S G. Phần còn lại là giáp đất của ông T và bà Đ.
- Người làm chứng ông Đoàn Bá H trình bày: Ông có lô đất tọa lạc tại
đường A G tổ dân phố 6, đường Trần Hưng Đạo, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon
Tum (nay là xã B, tỉnh Quảng Ngãi). Phía sau thửa đất (Phía tây) giáp thửa đất
mà hiện nay bà K với bà Đ đang tranh chấp. Nguồn gốc thửa đất theo đường A
G có chiều ngang 18 mét, chiều dài 30 mét, ông H mua của ông Đặng Văn C và
bà Lương Thị H vào năm 2013, lúc đó ông C chưa bị tai nạn, giá mua
30.000.000 đồng/01 mét ngang, sau đó tranh chấp xảy ra giữa bà K với bà Đ thì
bà Đ chỉ lô đất mà ông đã mua của ông C, bà H là lô đất mà bà Đ đã đổi cho bà
K. Được biết thửa đất đang tranh chấp giữa bà K với bà Đ là thửa đất của bà K,
phía sau giáp đất của ông mua của ông C, bà H. Bà Đ biết được việc ông mua
đất của ông C, bà H vì khi mua xong ông đổ đất nhưng ông không hiểu vì sao bà
Đ lại chỉ đất ông đã mua của ông C, bà H là đất đã đổi để trả cho bà K.
+ Bà Y P trình bày: Nguồn gốc thửa đất tranh chấp và nhà giữa bà K với
bà Đ là do bà K khai hoang, vì khi đó bà K thuê bà làm tại vị trí căn nhà gỗ hiện
nay, còn khai hoang vào năm nào thì bà không nhớ.
+ Ông Nguyễn Ngọc H trình bày: Năm 1986 bà K có khai hoang mảnh đất
từ giáp bờ suối (hướng bắc) đến giáp đất của bà Y (hiện nay đã bán cho ông
Đoàn Bá H), sau này gia đình ông C, bà Đ mua bán hoặc đổi chác thế nào thì
ông không biết, nhưng ông khẳng định đất nhà ông C, Đ đang ở hiện nay là có
nguồn gốc do bà K khai hoang, ngoài ra không có ai khai hoang thửa đất trên.
+ Ông A N trình bày: Vị trí đất bà Đ đang ở là đất của bà K khai hoang.
Ông C và Bà Đ ở trên cao thuộc đất của bà Y L.
+ Ông Vũ Văn T trình bày: Ông ở xóm từ ngày chưa thành lập huyện.
Ông T khẳng định ông ở trước hai người, đất bà K ở phía trước, đất ông C, bà Đ
ở phía sau. Còn việc mua bán giữa hai bên sau này ông không biết.
+ Ông Đỗ Văn T trình bày: Nhà ông và rẫy bà Y L sát nhau. Ông làm rẫy
bên cạnh bà Y L và bà K, sau này bà Y L bán cho ông C, bà Đ, còn bán thế nào
ông không biết và bà K bán năm nào ông cũng không hay.
9
+ Ông Đặng Văn N trình bày: Nguồn gốc đất ông đang ở là do ông mua
của bà Dương Thị K vào năm 2002 (5mx19m) với giá 15.000.000 đồng đất chưa
có giấy CNQSDĐ. Khi ông mua đất của bà K thì bà Đ đã xây nhà, còn việc
tranh chấp giữa họ ông không biết. Năm 2002 đã xảy ra tranh chấp, trước đây
ông C, bà Đ đồ vật liệu bà K không cho.
+ Bà Lê Thị Minh N trình bày: Bà mua thửa đất của bà K vào năm 2013,
diện tích 423,5m
2
, với số tiền 270.000.000 đồng, và hiện nay đã được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất.
+ Ông Đặng Văn T trình bày: Năm 1991, 1992 ông phát đốt được mảnh
rẫy khoảng 100m, chiều rộng 15-17m định trồng cà phê nhưng không có nước,
sau đó để lại cho ông Mười trồng mỳ, chuối, năm 1997 ông Chín không có đất
nên ông cho ông Chín làm nhà, khi ông C làm nhà bà Y L nói đất của bà Y L
nên ông C phải trả tiền cho bà Y L mới được làm nhà.
Với nội dung vụ án nêu trên, Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh K (Nay là
Tòa án nhân dân khu vực , tỉnh Q) đã quyết định:
Căn cứ Điều 5, khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1
Điều 39, 147, 153, 154, 157, 158, 165, 166, 227, 228, khoản 2 Điều 244, 271 và
Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 12, khoản 5 Điều 166, khoản 2 Điều 203 Luật đất
đai năm 2013;
Căn cứ khoản 1, 3 Điều 8, 115, 158, 164, khoản 1 Điều 166, 169, 357,
khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 27
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thị K về việc
Tranh chấp quyền sử dụng đất đối với ông Đặng Văn C, bà Vũ Thị Đ.
2. Buộc bị đơn bà Vũ Thị Đ, người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bị
đơn ông Đặng Văn C (đã chết), người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đặng
Thị D chấm dứt hành vi sử dụng trái phép đất tranh chấp, trả lại cho bà Dương
Thị K diện tích đất là 153,2m
2
đất tại tổ dân phố 6, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon
Tum (đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), đất có các cạnh như sau:
Phía Đông giáp đất bà Đặng Thị D có chiều dài 08 mét; Phía Tây giáp đường
Trần Hưng Đạo có chiều dài 5,25 mét; Phía Nam giáp thửa đất diện tích
132,9m
2
có chiều dài 23 mét; Phía Bắc giáp đất bà Lê Thị S có chiều dài 28,2
mét. (Kèm theo sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp và sơ đồ vị trí đất tranh

10
chấp có chiều dài cạnh thửa đất ngày 13/9/2019 và ngày 03/4/2023).
3. Buộc bị đơn bà Vũ Thị Đ, người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bị
đơn ông Đặng Văn C (đã chết), người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đặng
Thị D tháo dỡ toàn bộ nhà ở gồm móng và tường xây gạch, tô xi, nền láng xi
măng, cửa gỗ ván, cột kèo gỗ, mái lợp tôn diện tích 44,64m
2
trên đất để trả lại
cho bà Dương Thị K.
4. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc nguyên
đơn tự nguyện rút đối với thửa đất có diện tích 132,9m
2
. Nguyên đơn được
quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu đã rút.
Ngoài ra bản án còn tuyên về giải quyết tiền tạm ứng chi phí tố tụng, án
phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 01/5/2025, bị đơn bà Vũ Thị Đ kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ
thẩm số: 02a/2025/DS-ST ngày 22/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh K
(nay là Tòa án khu vực 11, tỉnh Q). Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án
sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của nguyên đơn của
bà Dương Thị K.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo. Các
bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phát biểu quan điểm
giải quyết vụ án: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
ký phiên toà đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với
những người tham gia tố tụng các đương sự đã chấp hành đầy đủ các quy định
của pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án: Toà án sơ thẩm chưa thực hiện
được việc tống đạt theo quy định tại khoản 3 Điều 474 Bộ luật tố tụng dân sự
cho chị Đặng Thị T – là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông
Đặng Văn C nhưng đã đưa vụ án ra xét xử vào ngày 22/4/2024 (xét xử khi Bộ Tư
pháp Lãnh thổ Đài Loan chưa tống đạt được văn bản tố tụng), là vi phạm thủ
tục tố tụng quy định tại Điều 170, 171, Điều 474, Điều 477 BLTTDS. Do đó,
căn cứ Điều 293, khoản 3 Điều 308, khoản 1 Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự,
đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn bà Vũ
Thị Đượm, huỷ Bản án sơ thẩm số 02a/2025/DS-ST ngày 22/4/2025 của Tòa án
nhân dân huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum, giao hồ sơ vụ án về cho cấp sơ xét xử
theo quy định pháp luật. Về án án dân sự phúc thẩm giải quyết theo quy định
của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
11
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Tòa án cấp sơ thẩm xác định thẩm quyền, người tham gia tố tụng
đúng quy định. Bị đơn kháng cáo trong thời hạn và đúng thủ tục theo quy định
pháp luật nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét.
[2]. Xét kháng cáo toàn bộ bản án, HĐXX thấy rằng:
[2.1]. Về nguồn gốc đất: Nguyên đơn bà Dương Thị K khai rằng 02 thửa
đất đang tranh chấp là do bà và bà Dương Thị N khai hoang năm 1986, bà Vũ
Thị Đ ở phía sau đất của bà và ở trên đồi; còn bà Vũ Thị Đ khai rằng hai thửa
đất này là do anh chồng bà là ông Đặng Văn T khai hoang, đến năm 1997 ông T
cho lại vợ chồng bà, bà K khai hoang tại đoạn này giáp đường Trần Hưng Đạo
chỉ có 3m chiều sâu nằm phía trước đất của vợ chồng bà, phần đất này bà K đã
đổi cho vợ chồng bà để lấy phần đất phía bắc thửa đất của bà Đ ông C để vuông
đất. Hai lời khai này mâu thuẫn về nguồn gốc đất, xét các tài liệu chứng cứ khác
có trong hồ sơ vụ án:
[2.1.1]. Quá trình giải quyết vụ án, bà K có nhiều bản tự khai và nhiều văn
bản có nội dung bà K trình bày về nguồn gốc đất trong quá trình giải quyết tranh
chấp tại địa phương, các lời khai này mâu thuẫn với các chứng cứ khác có trong
hồ sơ vụ án, cụ thể:
- Tại biên bản hòa giải ngày 16/03/2017 tại UBND thị trấn P (bút lục
27,28,29), biên bản làm việc với Phòng Tài nguyên và môi trường huyện N ngày
10/02/2017 (BL 348), lời khai của bà K ngày 03/8/2020 (BL 368) bà K khai đất
bà khai hoang năm 1986 là ngang 45m, sâu 35, tại đường Trần Hưng Đạo, năm
1998 (1999) bà cho ông C mượn 2m làm đường đi, năm 2004 con bà là anh
Nguyễn Văn L đổi 5m đường Trần Hưng Đạo cho ông C bà Đ để lấy 10m đất
phía sau đường A G, năm 2006 ông C bà Đ múc đất xây nhà và tranh chấp từ đó
đến nay.
Đối với các lời khai này thấy rằng: Bà N (mẹ ông C) xây dựng nhà gỗ trên
thửa đất đang tranh chấp được làm từ năm 1999, nhà cấp 4 ông C bà Đ xây dựng
trên đất đang tranh chấp được làm từ năm 2001, lời khai này có ông Phan Văn H
– là người xây nhà cho ông C và bà Đ xác nhận và các chứng cứ khác đều thể
hiện việc xây dựng nhà được thực hiện trong thời gian trên. Như vậy, lời khai
của bà K là không phù hợp, bởi lẽ năm 2001 ông C bà Đ đã xây nhà mà bà K
khai năm 2004 mới đổi đất và cho rằng đất đổi này là đất bà Đ xây nhà, là không
hợp lý.
12
[2.1.2]. Bà K khai rằng ông C, bà Đ sang thương lượng bằng miệng với bà
đổi 10m đất đường A G (của ông C, bà Đ) lấy 5m đất đường Trần Hưng Đạo (là
đất của bà K khai hoang – thửa đất có nhà gỗ hiện tại); còn bà Đ khai rằng việc
đổi đất nhằm mục đích cho vuông đất, gia đình bà lấy 10m ngang, chiều sâu
khoảng 3m đất phía trước giáp đường Trần Hưng Đạo để lấy lối đi, còn bà K lấy
2m chiều ngang, 10m chiều sâu góc xéo cuối đất cho vuông góc (BL 85 và văn
bản trình bày bà Đ giao nộp tại giai đoạn xét xử phúc thẩm). Xét các chứng cứ
liên quan đến vị trí đất 10m mặt đường Trần Hưng Đạo hai bên xác định là đất
đổi, không có tài liệu do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp, do đó xét
các lời khai của những người làm chứng thấy rằng:
Ông Nguyễn Ngọc H khẳng định đất ông C Đ ở bây giờ là nguồn gốc đất
bà K khai hoang năm 1986 (BL 104); ông Đoàn Bá H khai có thấy bà K khai
hoang từ mương nước tới đất bà Y L nhưng diện tích chiều dài rộng ông không
rõ (BL 105); ông Nguyễn Văn N khai năm 1998 khi ông được ông T dẫn lên nhà
ông C bà Đ chơi có đi qua vạt cỏ một đầu khoảng 6 bước chân một đầu là 3 đến
4 bước chân là đến phần đất ông C, bà Đ, khi ông hỏi thì ông T bảo là đất của bà
K có ít, bên trong là đất của anh C chị Đ bây giờ là đồi cao (BL 106); ông Vũ
Văn T khai đất của anh C Đ làm bên trong còn đất của bà K đằng trước một vài
mét chiều sâu (BL 109). Thấy rằng: Những người làm chứng đều xác định bà K
khai hoang phần đất giáp đường Trần Hưng Đạo, tuy nhiên không ai xác định
được thực tế kích thước đất mà bà K đã khai hoang là bao nhiêu, chỉ có lời khai
của ông T và ông N là mô tả về chiều rộng đất, thể hiện chỉ rộng vài mét, còn
phía sau là đất ông C bà Đ. Như vậy chưa có cơ sở khẳng định tại vị trí tranh
chấp bà K khai hoang có kích thước chiều rộng khoảng 35m như lời bà trình
bày.
[2.1.3]. Xét lời khai của bị đơn bà Vũ Thị Đ, ông Đặng Văn C về việc
khai hoang đất: Ông C, bà Đ khai nhận năm 1991, 1992 ông Đặng Văn T (anh
trai ông C) khai hoang được thửa đất, năm 1997 do vợ chồng ông C bà Đ không
có đất nên ông T để lại thửa đất, khi đó còn là đất đồi và vợ, chồng bà đã làm
nhà ở (nay là đường A G); năm 1998 ông C bà Đ có đổi 10m đất phía trước giáp
đường Trần Hưng Đạo để lấy lối đi, còn bà K lấy 10m góc xéo cuối đất cho
vuông góc, thấy rằng:
Ông Đoàn Bá H khai ông đến đây sống từ năm 1998, có thấy bà K dọn từ
mương nước đến đất của bà Y L nhưng ông không rõ kích thước còn phía trên
đồi có gian nhà nhỏ của anh C (BL 105); Ông Vũ Văn T khai Đất của anh C Đ
làm bên trong còn đất của bà K đằng trước một vài mét chiều sâu (BL 109).
Những lời khai trên thể hiện bà K chỉ khai khoang một phần đất giáp đường
Trần Hưng Đạo, còn phía bên trong do ông C và Đ sử dụng.
13
[2.1.4]. Xét lời khai của bà Y L: Bà khai trước năm 2002 bà cư trú gần sát
nhà ông C bà Đ trước đây, khi bà chuyển vào thôn P thì ông C bà Đ đã làm nhà
ở phía sau, đất căn nhà gỗ hiện nay có nguồn gốc bà K khai hoang. Lời khai của
bà Đ ông C và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án thể hiện năm 1998 - 1999 bà
N mẹ ông C đã xây dựng căn nhà gỗ tại vị trí đang tranh chấp, năm 2001 – 2002
ông C bà Đ đã xây nhà gạch cấp 4 trên đất đang tranh chấp (Lời khai của: ông
Đoàn Bá H (BL 105), ông Nguyễn Văn N (BL 106), đơn xin xác nhận nhà đất
của bà Đ đã được ông Nguyễn Huy D – thôn trưởng từ 1996 - 1999, Phạm Văn
T thôn trưởng 2000 - 2002, Phạm Văn V thôn trưởng hiện tại ký xác nhận).
Đồng thời tại Biên bản làm việc ngày 16/11/2017 (BL 26), Phòng tài nguyên và
môi trường huyện Ngọc Hồi, UBND thị trấn P đã mời bà Y L ra thực địa vị trí
đất đang tranh chấp, nhưng bà Y L không nhớ cụ thể về ranh giới thửa đất trước
đây do thay đổi hiện trạng các hộ đã san ủi mặt bằng; và tại tờ bản đồ địa chính
số 50 và trang sổ mục kê đi kèm (tài liệu do bà Đ cung cấp tại giai đoạn xét xử
phúc thẩm, có đóng dấu treo của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai khu vực
XI) thể hiện khu vực đất đang tranh chấp, bà Y L có thửa đất số 14, cạnh phía
bắc của thửa đất bà Y L chủ yếu giáp đất ông A N, ông Nguyễn Văn Q và chỉ
một phần ít giáp đất ông Đặng Văn C; không phải giáp đất bà K như lời khai của
bà Y L (BL 387).
Từ những nhận định trên thấy rằng nguồn gốc đất của 02 thửa đất đang
tranh chấp còn có nhiều mâu thuẫn, nhiều lời khai khác nhau, lời khai của những
người làm chứng còn chưa cụ thể về vị trí, kích thước khai hoang của bà K và bà
Đ, chưa lấy lời khai cụ thể của cán bộ thôn qua các thời kỳ, việc này Tòa án cấp
phúc thẩm không thể khắc phục được.
[2.2]. Về quá trình sử dụng đất: Căn cứ các chứng cứ trong hồ sơ có cơ sở
xác định bà Ngoạt đã xây nhà gỗ trên đất tranh chấp vào năm 1998 - 1999, ông
C bà Đ xây nhà cấp 4 trên đất tranh chấp vào năm 2001 – 2002, cả hai căn nhà
hiện vẫn còn. Giai đoạn xét xử phúc thẩm, bà Đ giao nộp chứng cứ là đơn trình
bày đề ngày 16/10/2016 của bà Vũ Thị Đ, biên bản xác minh về tình trạng sử
dụng đất ngày 08/9/2025. Hai văn bản này có nhiều người tham gia xác minh
(Vũ Văn T, Lê Xuân T, Đoàn Bá H, Nguyễn Thị L, Phạm Văn P, Đặng Văn H,
Trần Thị H, Trương Thị H và có các thôn trưởng qua các thời kỳ gồm ông
Nguyễn Huy D, ông Phạm Văn T, bà Đào Thị H, ông Phạm Văn V ký xác nhận).
HĐXX thấy rằng nội dung văn bản thể hiện quá trình sử dụng thửa đất và hai
căn nhà trên không có ai cản trở, có lời khai còn thể hiện bà K vẫn ở tại địa
phương từ đó đến nay (trái ngược với lời khai của bà K và ông l cho rằng do đi
làm ăn xa nên không biết việc đất bị lấn chiếm). Ngoài ra ngày 12/9/2025 Tòa
án nhận được văn bản xác nhận đề ngày 11/9/2025 của ông Đặng Văn N có nội
14
dung ông bác bỏ toàn bộ lời khai được ghi nhận trong nội dung bản án sơ thẩm,
ông mua đất của bà K từ năm 2007, chuyển về địa phương sống từ năm 2013
nên lời khai của ông trong bản án rằng năm 2002 đã xảy ra tranh chấp là không
đúng. Đây là những chứng cứ có thể làm thay đổi bản chất vụ án, nhưng chưa
được xác minh, Tòa án cấp phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được.
[2.3]. Ngày 25/6/2020, ông Đặng Văn C chết (theo trích lục khai tử số 24
ngày 03/7/2020); Tòa án cấp sơ thẩm đưa các con và vợ ông C vào tham gia tố
tụng là đúng quy định, tuy nhiên ông C có con là bà Đặng Thị T, sinh năm 1993
hiện đang sinh sống tại Đài Loan, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử vụ án khi chưa
có kết quả ủy thác tư pháp, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, Tòa án
nhân dân tỉnh Quảng Ngãi nhận được văn bản số 2825/BTP-PLQT ngày
31/7/2025 của Bộ tư pháp về kết quả ủy thác tư pháp, theo đó hồ sơ ủy thác tư
pháp được thực hiện vào ngày 15/5/2025 bằng phương thức gửi hồ sơ ủy thác tư
pháp tại đồn công an, là sau khi Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và tuyên án, việc xét
xử khi chưa tống đạt hợp lệ cho người tham gia tố tụng là vi phạm tố tụng, làm
ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Từ những nhận định trên thấy rằng cần chấp nhận kháng cáo của bị đơn
bà Vũ Thị Đ, hủy bản án sơ thẩm số 02a/2025/DS-ST ngày 22/4/2025 của Tòa
án nhân dân huyện N, tỉnh K (nay là Tòa án khu vực 11, tỉnh Q), chuyển toàn bộ
hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung.
[3]. Về án phí sơ thẩm, chi phí tố tụng: Do bản án sơ thẩm bị hủy nên
HĐXX phúc thẩm không xem xét, sẽ được giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
[4]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận, nên bị
đơn bà Vũ Thị Đ không phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Vũ Thị Đ, hủy toàn bộ Bản án dân
sự sơ thẩm số: 02a/2025/DS-ST ngày 22/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện N,
tỉnh K (nay là Tòa án khu vực 11, tỉnh Quảng Ngãi).
Chuyển hồ sơ về Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh Q giải quyết lại theo
thủ tục sơ thẩm.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
15
Bị đơn Vũ Thị Đ không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho
bà Vũ Thị Đ số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002218 ngày
06/5/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện N, tỉnh K (nay là Phòng Thi
hành án dân sự khu vực 11 tỉnh Quảng Ngãi).
Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng sẽ được giải quyết lại theo thủ
tục sơ thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhâ
̣
n:
- VKSND Tỉnh Quảng Ngãi;
- Phòng THADS KV11 tỉnh Quảng Ngãi;
- VKSND KV11 tỉnh Quảng Ngãi;
- TAND KV11 tỉnh Quảng Ngãi;
- Ca
́
c đương sư
̣
;
- Lưu: Hô
̀
sơ vu
̣
a
́
n.
THÂ
̉
M PHA
́
N - CHU
̉
TO
̣
A PHIÊN TO
̀
A
(Đã ký)
Nguyễn Hành

16
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THÂ
̉
M PHA
́
N
CHU
̉
TO
̣
A PHIÊN TO
̀
A
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 21/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 21/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 09/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 07/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 06/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 28/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 26/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 25/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 25/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 25/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 25/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm