Bản án số 73/2025/DSST ngày 24/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 73/2025/DSST

Tên Bản án: Bản án số 73/2025/DSST ngày 24/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
Số hiệu: 73/2025/DSST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: bà Dương Thị M vfa bà Nguyễn Thị b tranh chấp HĐCN đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 73/2025/DSST Bản án số 73/2025/DSST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 73/2025/DSST Bản án số 73/2025/DSST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - BẮC NINH
Bản án số: 73/2025/DSST
Ngày 24/92025
V/v Tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất,
văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa
kế và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng
đất vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp
đồng vô hiệu
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Thế Vinh
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Xuân Chung;
- Bà Nguyễn Thị Yến.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huấn - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc
Ninh, xét xử thẩm công khai
vụ án thụ số: 14/2025/TTLST-DS ngày
21/02/2025 về việc: Tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất, văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2025/QĐXXST-DS ngày
05/9/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 103/2025/QĐST-DS ngày 17/9/2025,
Quyết định hoãn phiên tòa s 92/2025/QĐST-DS ngày 17/9/2025, giữa các
đương sự:
Nguyên đơn: Bà Dương Thị M, sinh năm 1954.
Địa chỉ: Thôn M, xã B, tỉnh Bắc Ninh.
Dương Thị M y quyền cho Công ty L2 do ông Chu Văn H, chức vụ:
Giám đốc là người đại diện theo pháp luật tham gia tố tụng.
Địa chỉ: Tổ A, phường P, thành phố Hà Nội.
Văn phòng giao dịch: Phòng E, ngõ A, phố T, phường C, thành phố Nội.
(Ông H có mặt).
Bị đơn: - Nguyễn Thị B, sinh năm 1974.
- Ông Lê Văn C, sinh năm 1969.
Ông C ủy quyền cho bà Nguyễn Thị B tham gia tố tụng (B có mặt).
Địa chỉ: Thôn M, xã B, tỉnh Bắc Ninh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Phạm Văn B1, sinh năm 1978
Địa chỉ: Thôn M, xã B, tỉnh Bắc Ninh.
2. Chị Phạm Thị H1, sinh năm 1980
Địa chỉ: Thôn T, xã B, tỉnh Bắc Ninh.
3. Chị Phạm thị L, sinh năm 1990
Địa chỉ: TDP Q, phường T, tỉnh Bắc Ninh.
Chị Phạm Thị L chị Phạm Thị H1 ủy quyền cho anh Phạm Văn B1 tham gia
tố tụng (anh B1 vắng mặt).
4. y ban nhân dân Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang do y ban nhân dân B,
tỉnh Bắc Ninh tchức kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng. Do ông Nguyễn
Tiến D, chức vụ: Chủ tịch người đại diện theo pháp luật. Ông dũng ủy quyền
cho ông Đỗ Đăng T, chức vụ: Chuyên viên phòng kinh tế UBND xã B tham gia
tố tụng (ông T xin vắng mặt).
5. Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang do Chủ tịch Ủy ban nhân dân
B, tỉnh Bắc Ninh tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng. Do ông Nguyễn
Tiến D, chức vụ: Chủ tịch người đại diện theo pháp luật. Ông dũng ủy quyền
cho ông Đỗ Đăng T, chức vụ: Chuyên viên phòng kinh tế UBND xã B tham gia
tố tụng (ông T xin vắng mặt).
5. Chi nhánh n phòng Đăng ký đất đai liên xã L (xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, c lời khai các tài liệu trong h
nguyên đơn Dương Thị M, bà M ủy quyền cho Công ty L2 do ông Chu
Văn H, chức vụ: Giám đốc là người đại diện theo pháp luật. Bà M trình bày:
Yêu cầu:
1. Yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (viết tắt
hợp đồng CNQSD đất) lập ngày 05/3/2018 giữa bên chuyển nhượng ông
Phạm Văn T1, Dương Thị M và bên nhận chuyển nhượng ông Văn C,
Nguyễn Thị B vô hiệu.
2. Buộc ông Lê Văn C Nguyễn Thị B phải tháo dỡ toàn bộ công
trình trên đất gồm: Nhà để xe ô tô, tường bao trả lại diện tích đất 145m² tại
thửa số: 1280, tờ bản đồ số: 350 (nay thửa đất số: 136, tbản đồ số: 42) địa
chỉ: Thôn M, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang cho bà Dương Thị M.
Căn cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện như sau:
Ngày 24/10/2001, gia đình được Ủy ban nhân dân (viết tắt UBND)
huyện L, tỉnh Bắc Giang cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 420443,
vào sổ cấp GCN: 01223/QSDĐ/QĐ số 663QĐ-CT(H) đối với thửa đất số: 1280;
tờ bản đồ số: 350, diện tích: 860m² (nay thửa đất số: 136; tờ bản đồ số: 42;
diện tích: 1019,1m²); địa chỉ: thôn M, Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay
B, tỉnh Bắc Ninh). Người sử dụng đất: Hộ ông Phạm Văn T1.
Ngày 05/3/2018, vợ chồng Phạm Văn T1, Dương Thị M thỏa thuận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, diện tích đất 145m² tại thửa đất số: 136; tờ
bản đồ số: 42 cho vợ chồng ông Văn C, Nguyễn Thị B, cùng thôn. Tại
Giấy thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất này giữa vợ chồng và vợ
chồng ông C, B thì không chcủa ba người con để anh Phạm Văn
B1, chị Phạm Thị H1, chị Phạm Thị L, không ghi số tiền chuyển nhượng, không
ghi số thửa, không được công chứng/chứng thực tại Văn phòng công chứng hoặc
UBND cấp xã. Ông C, bà B chưa thanh toán tiền cho vợ chồng bà.
Trong khi đó diện tích đất trên của gia đình bà được UBND huyện L, tỉnh
Bắc Giang cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho “Hộ ông Phạm Văn T1
(trong đó ông Phạm Văn T1, Dương Thị M, anh Phạm Văn B1, chị Phạm
Thị H1 và chị Phạm Thị L).
Tháng 6/2018, lợi dụng lúc chồng đang ốm nặng phải nằm điều trị
bệnh tại Bệnh viện B3 không người nhà thì vợ chồng ông C, B đã thuê
thợ xây dụng tường bao cao khoảng 2m đối với diện tích đất: 145m² của gia
đình bà. Sau đó bà đã có ý kiến yêu cầu ông C, bà B phá đỡ tường bao hoặc phải
trả tiền cho vợ chồng thì B nói đã đưa tiền ông T1 rồi nhưng thực chất
ông T1 chưa nhận được tiền.
Từ đầu năm 2020 đến cuối năm 2024 đã rất nhiều lần yêu cầu vợ
chồng ông C, B tháo dtường bao để trả lại đất cho gia đình nhưng vợ
chồng ông C, bà B không thực hiện việc tháo dỡ. Vị trí diện tích đất 145m² có tứ
cận như sau: Hướng Bắc giáp thửa đất 119 thửa đất 120; hướng Nam gp
phần còn lại của thừa đất 136; hướng Tây giáp thửa đất 119; hướng Đông giáp
thứa đất 121. Tài sản trên đất gồm một tường bao được xây bằng cay
chiều dài khoảng 10m, chiều cao khoảng 2m, 01 nhà mái tôn để xe ô do vợ
chồng ông Lê Văn C và bà Nguyễn Thị B bỏ tiền ra xây dựng.
Ngày 17/9/2019, chồng Phạm Văn T1 ốm chết. ông T1 sinh
được 03 người con, gồm: Phạm Văn B1, Phạm Thị H1 Phạm Thị L ngoài ra
chúng không có con nuôi, con riêng nào khác; bố mẹ đẻ là cụ Phạm Văn K (chết
năm: 30/12/1990) cụ Thị T2 (chết năm: 20/12/2001). Cả hai cụ đều đã
chết trước ông T1 nên không phát sinh hàng thừa kế thể vị. Sau khi ông T1 chết,
tháng 01/2024 bà và các con đã họp gia đình cùng thông nhất cho mình được
quyền sở hữu toàn bộ diện tích đất: 860m². Văn bản thỏa thuận phân chia di sản
thừa kế; Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất được
chứng thực tại UBND xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Ngày 17/01/2024, Chi
nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện L đăng biến động xác nhận thừa kế
quyền sử dụng đất thửa đất này cho bà-Dương Thị M.
Như vậy, căn cứ để khẳng định diện tích đất 145m² thuộc thửa đất số:
1280; tờ bản đồ số: 350 (nay thửa đất số: 136; tờ bản đsố: 42) thuộc tài sản
của gia đình bà. Do đó, bà không đồng ý với yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị
B. Đề nghị Tòa án giải quyết:
Không chấp nhận đơn yêu cầu phản tố của bà Bé
Giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện.
Ngoài ra ông H trình bày thêm: Về căn cứ tuyên bố hợp đồng hiệu là:
Trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 05/3/2018 giữa bên
chuyển nhượng là ông Phạm Văn T1, Dương Thị M bên nhận chuyển
nhượng ông Văn C, bà Nguyễn Thị B không chữ của các con M
anh Phạm Văn B1, chNguyễn Thị H2 chị Phạm Thị L; hợp đồng không
được công chứng, chứng thực tại UBND hay Văn phòng công chứng theo
quy định; bà B chưa thanh toán tiền cho M.
Thời điểm chuyển nhượng đất, thì quyền sử dụng đất các thành viên:
Vợ chồng bà M và các con bà M gồm: B1, H2 và L.
M đã yêu cầu nhiều lần B ông C tháo dỡ công trình, trả lại đất.
M chỉ nói bằng miệng, không có văn bản gì thông báo cho bà B ông C. Đầu năm
2025 M đã làm đơn ra UBND Y để hòa giải vụ việc, nhưng không thành.
Trước thời điểm bà M khởi kiện vụ án ra Tòa án, M không làm đơn yêu cầu
hủy bỏ hợp đồng, hay đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng hiệu. Do B giữ
hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất, nên M không biết. M t
trước đến nay cũng không làm đơn yêu cầu quan nhà nước thẩm quyền
giải quyết vụ việc nào khác ngoài Tòa án.
Ngày 05/12/2023 bà M các con M lập hợp đồng tặng cho quyền sử
dụng đất cho M, hợp đồng được UBND Y xác nhận. Thời điểm này M
chưa yêu cầu hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày
05/3/2018, do bà M không biết có hợp đồng.
M đã được đăng biến động quyền sử dụng đất tại trang 4 của giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng quy định.
* Bị đơn bà Nguyễn Thị B trình bày:Đề nhị Tòa án:
1. Tuyên bố văn bản: Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày
05/12/2023 giữa Dương Thị M, anh Phạm Văn B1, chị Phạm Thị H1 chị
Phạm Thị L”, được Ủy ban nhân dân Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang nay Ủy
ban nhân dân xã B, tỉnh Bắc Ninh chứng thực ngày 05/12/2023 vô hiệu.
2. Tuyên bố: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất
ngày 05/12/2023giữa: Bên tặng cho là: Anh Phạm Văn B1, chị Phạm Thị H1
chị Phạm Thị L với bên nhận tặng cho Dương Thị M. Hợp đồng được
Ủy ban nhân dân xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang nay Ủy ban nhân dân B,
tỉnh Bắc Ninh chứng thực ngày 05/12/2023 vô hiệu.
Căn cứ chứng minh cho yêu cầu:
Bà và ông T1 bà M có quan hệ họ hàng, bà gọi ông T1 là chú ruột. Hai gia
đình có đất ở liền kề nhau.
Ngày 05/3/2018 vợ chồng vợ chồng ông T1 M thỏa thuận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Trong đó ông T1 M chuyển nhượng cho
ông C diện tích đất 145m² tại địa chỉ: Thôn M, Y, huyện L, tỉnh Bắc
Giang.
Bề mặt (chiều rộng) 9,6m; chiều sâu 15m.
Giá chuyển nhượng là 31.000.000 đồng.
Sau khi thỏa thuận xong, hai bên lập hợp đồng: “Giấy thỏa thuận chuyển
nhượng quyền sử dụng đấtcác bên cùng thống nhất giấy; sự chứng
kiến của ông Trần Văn Q trưởng thôn.
Vợ chồng bà, ông T1, M cùng ra đo đất và giao đất cho bà; ông
C đã trả tiền đầy đủ. Đất mua giá 31.000.000 đồng. Nhưng là cháu, nên
cho thêm ông T1 M 500.000 đồng, vậy giấy ghi 31.500.000 đồng. Ông
T1 bà M và ông Trần Văn Q cùng ký giấy.
Khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, do ông T1 nói đang thế chấp
đất tại Ngân hàng, nên bà không làm thủ tục tách thửa đất được.
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất các con ông T1 không ký vì:
Con trai ông T1 anh Phạm Văn B1 đang đi chấp hành hình phạt không
mặt tại nhà, hai con gái H1 L đã lấy chồng nên ông T1 bảo không phải
hợp đồng.
Các bên cũng không ra UBND Y hay Văn phòng Công chứng chứng
thực hợp đồng.
Sau khi mua xong, khoảng 2-3 hôm sau, vợ chồng xây tường bao xung
quanh đất luôn (tường cao gần 3m) và làm nhà nhỏ để xe ô tô, lát sân và sử dụng
đất luôn. Ông T1 và bà M không có ý kiến gì.
do tuyên bố giao dịch hiệu: Tại thửa số: 1280, tờ bản đồ số: 350
(nay thửa đất số: 136, tờ bản đồ số: 42) địa chỉ: Thôn M, Y, huyện L, tỉnh
Bắc Giang nay là địa chỉ: Thôn M, xã B, tỉnh Bắc NinhDương Thị M và ông
Pham Văn T3 đã chuyển nhượng cho diện tích đất 145m² bề mặt (chiều
rộng) 9,6m; chiều sâu 15m. Giá chuyển nhượng 31.000.000 đồng. Nay các
bên lại tặng cho nhau là không đúng pháp luật. Nên bà yêu cầu tuyên bố vô hiệu.
không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu, đang quản
sử dụng 145m² đất trên.
đã được Tòa án giải thích cho các quy định về hợp đồng hiệu, giải
quyết hậu quả của hợp đồng hiệu. Nhưng không yêu cầu giải quyết hậu
quả của hợp đồng vô hiệu.
Bà cũng đã được Tòa án thông báo cho bết thời hạn 1 tháng để hoàn thiện
hợp đồng, nhưng bà không yêu cầu, vì hai bên không thể thỏa thuận được.
Việc chuyển nhượng đất cho bà, M ông Phạm Văn T1 đã nhận tiền
đầy đủ và ký nhận, có ông Trần Văn Q chứng kiến. Việc M không công nhận
chữ ký là không đúng. Bà không yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết của ông T1
bà M. Nếu bà M không công nhận thì bà M phải đi giám định.
- Ông Lê Văn C nhất trí lời trình bày của bà B.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
1. Anh Phạm Văn B1 trình bày: Anh con trai của ông Phạm Văn T1
Dương Thị M.
Ngày 24/10/2001, gia đình anh được UBND huyện L, tỉnh Bắc Giang cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 420443, vào s cấp GCN:
01223/QSDĐ/số: 663QĐ-CT(H) đối với thửa đất số: 1280; tờ bản đồ số:
350, diện tích: 860m² (nay thửa đất số: 136; t bản đồ số: 42; diện tích:
1019,1m2); địa chỉ: thôn M, Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay B, tỉnh
Bắc Ninh); người sử dụng đất: Hộ ông Phạm Văn T1.
Sau khi bố anh chết, tháng 01/2024 các thành viên trong gia đình đã họp
cùng thống nhất cho mẹ anh ơng Thị M được quyền shữu toan bộ
thưa đất trên. Anh em anh cùng ký vào văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa
kế; Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất và được
chứng thực tại UBND xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Ngày 17/01/2024, Chi
nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện L đăng biến động xác nhận thừa kế
quyền sử dụng đất thửa đất này cho bà Dương Thị M.
Anh được mẹ anh nói lại, ngày 05/3/2018, bố mẹ anh thỏa thuận
chuyên nhượng quyền sử dụng đất, diện tích đất 145m² cho vợ chông ông
Văn C, Nguyên Thị B2. Tại Giấy thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng
đất này giữa bố mẹ anh vợ chồng ông C, B2 thì không chữ của ba
anh chị em anh là: Phạm Văn B1, Phạm Thị H1, Phạm Thị L, không ghi số tiền
chuyển nhượng, không ghi số thửa, không được công chứng/chứng thực tại Văn
phòng công chứng hoặc UBND cấp xã. Ông C, bà B2 chưa thanh toán tiền.
Trong khi đó, diện tích đất trên của gia đình anh được UBND cấp Giấy
CNQSD đất cho hộ ông Phạm Văn T1 (trong đó ông T1, M, anh 2 em
H1, L).
Tháng 6/2018, lợi dụng lúc bố anh đang ốm nặng phải nằm điều trị bệnh
tại Bệnh viện B3 anh đi làm ăn xa không có người ở nhà thì vợ chồng ông C,
B2 đã thuê thợ xây dựng tường bao cao khoảng hơn 2m đối với diện tích đất:
145m² của gia đình anh. Sau đó mẹ anh đã ý kiến yêu cầu ông C, B2 phá
dỡ tường bao hoặc phải trả tiền cho gia đình thì B2 nói đã đưa tiền cho
ông T1 rồi nhưng thực chất bố anh chưa nhận được tiền.
Từ đầu năm 2020 đến cuối năm 2024 gia đình anh đã rất nhiều lần yêu
cầu vợ chồng ông C, B2 tháo dỡ tường bao để trả lại đất cho gia đình, nhưng
vợ chồng ông C, B2 không thực hiện việc tháo dỡ. Vtrí diện tích đất 145m²
tứ cận như sau: hướng Bắc giáp thửa đất 119 thửa đất 120; hướng Nam
giáp phần còn lại của thửa đất 136; hướng Tây giáp thửa đất 119; hướng Đông
giáp thửa đất 121.
Tài sản trên đất gồm một tường bao được xây bằng cay chiều dài
khoảng 10m, chiều cao khoảng 2m, 01 nhà mái tôn đề xe ô do vợ chồng ông
Lê Văn C và bà Nguyễn Thị B bỏ tiền ra xây dựng.
Như vậy, căn cứ để khẳng định diện tích đất 145m² trên thuộc tài sản
của gia đình anh. Do đó, anh không đồng ý với yêu cầu phản tố của Nguyễn
Thị B. Anh đề nghị Tòa án chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của Dương Thị
M, bác yêu cầu phản tố của B.
* Chị Phạm thị L chị Phạm Thị H1 nhất trí lời trình bày của anh B1 y
quyền cho anh Phạm Văn B1 tham gia tố tụng.
* Ủy ban nhân dân xã B và Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B trình bày:
- Quan điểm Trình tự, thủ tục nội dung của việc chứng thực 2 văn bản
hợp đồng
Năm 2023 UBND Y đã thụ hồ thoả thuận di sản thừa kế do
ông Phạm Văn T1, sinh năm 1952 đã chết đlại. Qua kiểm tra các giấy tờ
liên quan đến việc lập hồ thoả thuận phân chia di sản thừa kế của hộ gia đình
đều được đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật và được niêm yết công khai
tại trụ sở UBND Y nhà văn hoá thôn M, trong quá trình niêm yết công
khai 15 ngày, UBND xã Ban quản thôn M1 không nhận được ý kiến phản
ánh nào của các hàng thừa kế nhân dân trong thôn liên quan đến thửa đất do
ông Phạm Văn T1, đã chết để lại.
Hộ ông: Phạm Văn T1, cấp GCN QSD lần đầu gồm những ai:
Theo giấy xác nhận nhân khẩu ngày 03/11/2023 của ng an Y đã
xác nhận thời điểm cấp Giấy CNQSD đất lần đầu vào năm 2001 05 thành
viên, gồm: ông Phạm Văn T1 (đã chết), bà Dương Thị M, ông Phạm văn B1, bà
Phạm Thị H1 và bà Phạm Thị L
- UBND nhận được đơn khiếu nại của nguyên đơn, bị đơn hay
đương sự khác gửi đến liên quan đến việc tranh chấp quyền sử dụng đất trên hay
không.
Ngày 17/12/2024 UBND Y nhận được đơn đề nghị hòa giải tranh
chấp đất đai của Dương Thị M thôn M, Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang nay
là thôn M, xã B, tỉnh Bắc Ninh nên xã đã ra Quyết định số 176/QĐ-UBND ngày
23/12/2024 của UBND Y về việc thành lập hội đồng hòa giải tranh chấp đất
đai theo nội dung đơn của Dương Thị M thôn M, Y, thửa đất: tại thửa
đất ở thôn M, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang với diện tích 860m
2
(ONT: 360m
2
,
CLN: 500m
2
), số seri Q 420443, số vào sổ 01223, do UBND huyện L cấp ngày
14/10/2001 (Ngày 17/01/2024 Chi nhánh văn phòng đăng đất đai huyện L
xác nhận thừa kế QSD đất cho bà Dương Thị M, sinh năm 1954)
UBND Y đã tổ chức 02 buổi làm việc hòa giải tranh chấp đất đai giữa
hộ gia đình bà Dương Thị M với hộ gia đình ông Văn C và bà Nguyễn Thị B
nhưng không thành, do thiếu thành phần làm việc theo giấy mời.
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 05/3/2018 giữa
bên chuyển nhượng ông Phạm Văn T1, bà Dương Thị M bên nhận chuyển
nhượng là ông Lê Văn C, bà Nguyễn Thị B.
Theo giấy thoả thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập ngày
05/3/2018 là do 02 bên gia đình tự thoả thuận mua bán với nhau chưa được thực
hiện việc đăng ký biến động đất đai qua UBND xã nên đề nghị Toà án giải quyết
theo quy định.
Năm 2018, ông Lê Văn C Nguyễn Thị B đã tự ý xây dựng nhà
các công trình phụ trợ khác trên đất mua thoả thuận của gia đình Dương Thị
M như trên, thời điểm đó UBND Y không nắm bắt được do thửa đất vị
trí hẻo lánh và không nhận được ý kiến phản ánh nào của 2 bên gia đình, các hộ
gia đình sinh sống liền và cấp uỷ, Ban M1.
UBND xã B, tỉnh Bắc Ninh đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh
giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa các đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết vụ án;
nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố.
Các đương sự trình bày như sau:
* Ông Chu Văn H đại diện cho nguyên đơn Dương Thị M trình bày:
Yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (lập ngày
05/3/2018 giữa bên chuyển nhượng ông Phạm Văn T1, Dương Thị M
bên nhận chuyển nhượng là ông Lê Văn C, bà Nguyễn Thị B vô hiệu.
- Buộc ông Văn C Nguyễn Thị B phải tháo dỡ toàn bộ công trình
trên đất gồm: Nhà để xe ô tô, tường bao trả lại diện tích đất 145m² tại thửa
số: 1280, tờ bản đồ số: 350 (nay thửa đất số: 136, tờ bản đsố: 42) địa chỉ:
Thôn M, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang cho bà Dương Thị M.
- Căn cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện: Diện tích đất M ông T1
chuyển nhượng cho bà B ông C đất của các thành viên trọng hgia đình, anh
B1, chị H1 chị L không hợp đồng chuyển nhượng; đất M nói đang thế
chấp ngân hàng, B chưa trả tiền cho M ông T1; trong hợp đồng chuyển
nhượng không ghi số tiền chuyển nhượng, không ghi số thửa, không được công
chứng/chứng thực tại Văn phòng công chứng hoặc UBND cấp xã.
Giấy trả tiền B xuất trình bản gốc chữ của M, nhưng thực
chất bà B chưa trả tiền và bà M chưa nhận tiền.
Hiện nay các con M đã làm thủ tục cho đất M, nên đất của M.
Đối với yêu cầu phản tố của bà B, đề nghị Tòa án bác yêu cầu.
- Nguyễn Thị B trình bày: Ngày 05/3/2018 ông T1 M đã chuyển
nhượng đất cho 145m², bà đã trả tiền cho ông T1 31.000.000 đồng cho
thêm ông T1 500.000 đồng, khi trả tiền không có ai chứng kiến, sau khi trả xong
thì lập giấy trả tiền, M ông T1 đã giấy mang sang nhà ông Trần
Văn Q trưởng thôn ký, vài hôm sau bà cho xây tường ngay. Hiện nay trên đất có
nhà 3 tầng, nhà để xe, sân do xây. Việc anh B1, chị L và chị H1 thỏa thuận
cho tặng đất bà M cả phần đất đã chuyển nhượng cho bà, bà không đồng ý.
M cho rằng chưa trả tiền thì M phải đi giám định chữ ký. đề nghị Tòa
án bác yêu cầu khởi kiện của bà M. Tuyên bố: Tuyên bố văn bản: “Văn bản thỏa
thuận phân chia di sản thừa kế ngày 05/12/2023 giữa Dương Thị M, anh
Phạm Văn B1, chị Phạm Thị H1 và chị Phạm Thị L”, ngày 05/12/2023 vô hiệu.
Tuyên bố: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất
ngày 05/12/2023giữa: Bên tặng cho là: Anh Phạm Văn B1, chị Phạm Thị H1
chị Phạm Thị L với bên nhận tặng cho Dương Thị M ngày 05/12/2023
vô hiệu.
không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu vì: Hiện nay vẫn
đang quản lý sử dụng đất.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 Bắc Ninh phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp
thẩm của Thẩm phán, Thư Hội đồng xét xử kể từ khi thụ vụ án đến
trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã đảm bảo đúng quy định của pháp
luật. Viện kiểm sát không có kiến nghị gì.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi
thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng qui định. Viện
kiểm sát không kiến nghị gì.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng các Điều 129, Điều 500 Bộ luật dân sự năm 2015 (viết tắt
BLDS);
Điều 188 Luật đất đai năm 2013;
Điều 26, 35, 39, 147, 227, 271 273 Bộ luật tố tụng dân s (viết tắt
BLTTDS)
Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án xử:
Không nhận yêu cầu khởi kiện của Dương Thị M về việc:
- Yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất lập ngày
05/3/2018 giữa bên chuyển nhượng ông Phạm Văn T1, Dương Thị M
bên nhận chuyển nhượng là ông Lê Văn C, bà Nguyễn Thị B vô hiệu.
- Buộc ông Văn C Nguyễn Thị B phải tháo dtoàn bộ công
trình trên đất gồm: Nhà để xe ô tô, tường bao trả lại diện tích đất 145m² tại
thửa số: 1280, tờ bản đồ số: 350 (nay thửa đất số: 136, tờ bản đồ số: 42), địa
chỉ thửa đất tại thôn M, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị B về việc:
- Tuyên bố văn bản: Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày
05/12/2023 giữa Dương Thị M, anh Phạm Văn B1, chị Phạm Thị H1 chị
Phạm Thị L”, được Ủy ban nhân dân Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang nay Ủy
ban nhân dân xã B, tỉnh Bắc Ninh chứng thực ngày 05/12/2023 vô hiệu.
- Tuyên bố: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất
ngày 05/12/2023giữa: Bên tặng cho là: Anh Phạm Văn B1, chị Phạm Thị H1
chị Phạm Thị L với bên nhận tặng cho Dương Thị M. Hợp đồng được
Ủy ban nhân dân xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang nay Ủy ban nhân dân B,
tỉnh Bắc Ninh chứng thực ngày 05/12/2023 vô hiệu.
Về chi phí tố tụng: Dương Thị M phải chịu 14.000.000 đồng chi phí thẩm
định, định giá tải sản.
Về án phí: Miễn án phí DSST cho bà M do là người cao tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại
phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại
diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 Bắc Ninh. Sau khi thảo luận nghị
án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có địa chỉ cư trú tại B, tỉnh
Bắc Ninh). Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 39 của
BLTTDS thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu
vực 4 - Bắc Ninh.
[2] Về quan hệ pháp luật:
- Nguyên đơn đề nghị tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất vô hiệu và giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu.
- Bị đơn đề nghị tuyên bố: Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế và
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất vô hiệu.
Do đó xác định quan hệ pháp luật là: Tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, văn bản thỏa thuận phân chia di sản
thừa kế hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất hiệu giải quyết hậu quả
của hợp đồng vô hiệu theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của BLTTDS.
[3] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan là: Chi nhánh Văn phòng Đăng đất đai liên L, UBND B,
Chủ tịch UBND xã B, tỉnh Bắc Ninh có đơn xin vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều
228 của BLTTDS, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.
Anh Phạm Văn B1, chị Phạm Thị H1 chị Phạm Thị L đã được Tòa án
triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 3 Điều 228 của
BLTTDS, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.
[4] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu độc lập của bị đơn:
B ông T4 ông T1 M quan hệ họ hàng. B phải gọi ông T1
là chú ruột xứng cháu.
Hai gia đình đất tiếp giáp nhau. Thửa đất của ông T1 M phía
trước, tiếp giáp đường liên thôn; thửa đất của ông T4 bà B phía sau.
Thửa đất ông T1 M sử dụng diện tích 860m² (trong đó 360m² đất
và 500m² đất vườn) tại tờ bản đồ số 350, số thửa: 1280. Năm 2001 được UBND
huyện L cấp giất CNQSD đất số ri: Q 420443; vào sổ cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số: 01223 QSDĐ/số 663QĐ-CT (H) ngày 24/10/2001
mang tên: Hộ ông Phạm Văn T1.
Ngày 05/3/2018 ông Phạm Văn T1 bà Dương Thị Minh L1 hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho Nguyễn Thị B, ông Văn C. Diện
tích đất ông T1 M chuyển nhượng cho ông C B chiều dài 15m, chiều
rộng: 9,6m. Tổng diện tích 145m² ở vị trí phía sau của thửa đất và tiếp giáp thửa
đất của ông C bà B đang sử dụng.
Sau khi lập hợp đồng chuyển nhượng xong, ông C B xây tường bao
ngăn cách 2 thửa đất xây các công trình trên đất gồm: Nhà cấp 4 (nhà để xe,
sân, nhà 3 tầng, cùng các công trình trên đất.
Các đương sự đều công nhận sự việc trên.
[4.1] Đối với yêu cầu của nguyên đơn: Đề nghị tuyên bố hợp đồng chuyển
nhượng quyền sdụng đất lập ngày 05/3/2018 giữa bên chuyển nhượng ông
Phạm Văn T1, Dương Thị M và bên nhận chuyển nhượng ông Văn C,
Nguyễn Thị B vô hiệu.
Xét thấy:
- Ngày 05/3/2018 ông T1 bà M lập hợp đồng CNQSD đất cho ông C bà B.
Hợp đồng viết tay, không công chứng, chứng thực của quan Nhà nước
thẩm quyền, đã vi phạm Điều 167 Luật đất đai năm 2013 Điều 502 của
BLDS.
- Ngày 24/10/2001 U, tỉnh Bắc Giang cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số 420443, vào sổ cấp GCN: 01223/QSDĐ/QĐ số 663QĐ-CT(H) cho
người sử dụng đất: Hộ ông Phạm Văn T1.
Vào thời điểm cấp GCNQSD đất thì hộ ông Phạm Văn T1 các thành
viên: Ông Phạm Văn T1, bà Dương Thị M, anh Phạm Văn B1, chị Phạm Thị H1
chị Phạm thị L. Như vậy, quyền sử dụng đất tài sản chung của các thanh
viên trong hộ gia đình. Ông T1 M đã chuyển nhượng 1 phần tài sản chung
cho người khác khi không được các thành viên khác trong gia đình đồng ý là đã
xâm phạm đến quyền lợi của các thành viên còn lại là anh B1, chị H1 và chị L.
Như vậy hợp đồng CNQSD đất ngày 05/3/2021 giữa bên chuyển nhượng
là ông T1 bà M và bên nhận chuyển nhượng là bà B ông C là vi phạm cả về hình
thức, nội dung theo quy định tại 117, 119 của BLDS.
Tuy nhiên, M người trực tiếp tham gia chuyển nhượng. M cho
rằng ông C và bà B chưa trả tiền.
Ông C B cho rằng đã trả tiền xuất trình giấy trả tiền (bản gốc)
chữ ký của ông T1M. Tại phiên tòa ông Chu Văn H là người đại diện cho
M công nhận chữ của M trong giấy trả tiền là bản gốc. M cho rằng
B chưa trả tiền thì nghĩa vụ chứng minh thuộc M; M không yêu cầu giám
định. Do đó M cho rằng ông C bà B chưa trả tiền là không có căn cứ, cần
xác định ông C, bà B đã trả tiền.
Như vậy cần xác định: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập
ngày 05/3/2018 giữa bên chuyển nhượng là ông Phạm Văn T1, bà Dương Thị M
và bên nhận chuyển nhượng là ông Lê Văn C, bà Nguyễn Thị B. Ông C bà B đã
trả tiền cho ông T1 M. M người trực tiếp tham gia chuyển nhượng và
đã nhận tiền, nên M không quyền yêu cầu tuyên bố hợp đồng hiệu.
vậy cần bác yêu cầu khởi kiện của bà M về việc: Yêu cầu tuyên bố hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 05/3/2018 giữa bên chuyển nhượng
ông Phạm Văn T1, bà Dương Thị M bên nhận chuyển nhượng ông
Văn C, bà Nguyễn Thị B vô hiệu.
[4.2] Do không chấp nhận yêu cầu tuyên bố hợp đồng CNQSD đất
hiệu của M, nên cũng không chấp nhận giải quyết hậu quả của hợp đồng
hiệu buộc ông Văn C bà Nguyễn Thị B phải tháo dtoàn bộ công trình
trên đất gồm: Nhà để xe ô tô, tường bao trả lại diện tích đất 145m² tại thửa
số: 1280, tờ bản đồ số: 350 (nay thửa đất số: 136, tbản đồ số: 42) địa chỉ:
Thôn M, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang cho bà Dương Thị M.
[4.3] Đối với yêu cầu của bà B:
- Tuyên bố văn bản: Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày
05/12/2023 giữa Dương Thị M, anh Phạm Văn B1, chị Phạm Thị H1 chị
Phạm Thị L”, được UBND Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang nay UBND B,
tỉnh Bắc Ninh chứng thực ngày 05/12/2023 vô hiệu.
- Tuyên bố: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất
ngày 05/12/2023giữa: Bên tặng cho là: Anh Phạm Văn B1, chị Phạm Thị H1
chị Phạm Thị L với bên nhận tặng cho Dương Thị M. Hợp đồng được
UBND xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang nay UBND xã B, tỉnh Bắc Ninh chứng
thực ngày 05/12/2023 vô hiệu.
Xét thấy:
Ngày 05/3/2018 ông T1 M lập hợp đồng CNQSD đất cho ông C B.
Hợp đồng viết tay và các bên đều ký hợp đồng, sau khi ký hợp đồng, ông C bà B
đã được nhận đất và xây tương vành lao ngăn cách, đồng thời xây dựng các
công trình trên đất.
Như vậy, diện tích đất bà M ông T1 chuyển nhượng cho bà B ông C; bà B
ông C đã quản lý, sử dụng và xây dựng công trình phục vụ để ở trên đất.
Ngày 05/12/2023 M, anh B1, chị H3 và chị L lại lập văn bản thỏa
thuận phân chia di sản thừa kế đất lập Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
tài sản gắn liền với đất phần đất đã chuyển nhượng cho B ông C
công trình của B ông C trên đất là không đúng quy định, đã xâm phạm đến
quyền lợi của ông C bà B.
Bà M cũng thừa nhận, sau khi lập hợp đồng chuyển nhượng đât cho ông C
B, thì chưa đề nghị tuyên bố chấm dứt hợp đồng. B yêu cầu tuyên bố
văn bản Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 05/12/2023 và Hợp
đồng tặng cho quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất ngày 05/12/2023
giữa Dương Thị M, anh Phạm Văn B1, chị Phạm Thị H1 chị Phạm Thị L
là có căn cứ, cần chấp nhận.
Việc UBND Y, nay UBND B, tỉnh Bắc Ninh đã chứng thực các
văn văn bản, hợp đồng trên mà không xem xét thực tế hiện trạng sử dụng đất của
đương sự, cần rút kinh nghiệm.
[5] Đối với việc đăng biến động đất đai tại trang 4 của Giấy CNQSD
đất.
Ngày 17/01/2019 Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện L đã căn
cứ vào Hợp động tặng cho quyền sử dụng đất giữa Dương Thị M, anh Phạm
Văn B1, chị Phạm Thị H1 chị Phạm Thị L để đăng ký quyền sử dụng đất cho
Dương Thị M, đây thủ tục hành chính về đất đai. Chi nhánh Văn phòng
đăng ký đất đai đã căn cứ Điều 95, Điều 188 của Luật đất đai năm 2013 và Điều
79 của Nghị định số 43/2024/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ đăng ký đất
đai cho bà Dương Thị M khi không biết việc chứng thực hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất của ngày 05/12/2023 là không đúng quy định, nên Chi nhánh
Văn phòng đăng ký đất đai không có lỗi trong việc này.
Nay hợp đồng tặng cho trên bị tuyên bố hiệu, nên sau khi bản án
hiệu lực pháp luật, cơ quan đăng ký biến động quyền sử dụng đất cho bà Dương
Thị M cần căn cứ vào bản án hủy bỏ giao dịch đăng ký biến động quyền sử dụng
đất từ hộ ông Phạm Văn T1 cho Dương Thị M theo quy định tại 133, khoản
2, 3 Điều 152 của Luật đất đai năm 2024 Điều 47 của Nghị định số
101/2024/NĐ-CP ngày 29/7/2024 của Chính phủ.
[6] Về chi phí tố tụng khác: Do yêu cầu khởi kiện của Dương Thị M không
được chấp nhận, nên M phải chịu phải chịu 14.000.000 đồng tiền chi phí đo
dạc, xem xét thẩm định tại chỗ tài sản và định giá tài sản. Xác nhận bà M đã nộp
đủ.
[7] Về án phí: Căn cứ Điều 147 BLTTDS.
- Bà M là người cao tuổi được miễn tiền án phí.
- B không phải chịu tiền án phí, trả lại B 300.000 đồng tiền tạm ứng án
phí
[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự quyền kháng cáo theo qui định
tại Điều 271 và Điều 273 của BLTTDS.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều: 116, 117, 119, 122, 123, 500, 501, 502, 503 của Bộ luật
dân sự năm 2015.
Các điều: 166, 167, 168, 188 của Luật đất đai năm 2013;
Các Điều: Khoản 3 Điều 26, 35, 39, 147, 150, 157, 165, khoản 1 và khoản
3 Điều 228, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Dương Thị M
về việc:
- Yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày
05/3/2018 giữa bên chuyển nhượng ông Phạm Văn T1, Dương Thị M
bên nhận chuyển nhượng là ông Lê Văn C, bà Nguyễn Thị B vô hiệu.
- Buộc ông Lê Văn C và bà Nguyễn Thị B phải tháo dỡ toàn bộ công trình
trên đất gồm: Nhà để xe ô tô, tường bao trả lại diện tích đất 145m² tại thửa
số: 1280, tờ bản đồ số: 350 (nay thửa đất số: 136, tờ bản đsố: 42) địa chỉ:
Thôn M, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang cho bà Dương Thị M.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị B.
Tuyên bố:
- Văn bản: Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 05/12/2023 giữa
Dương Thị M, anh Phạm Văn B1, chị Phạm Thị H1 chị Phạm Thị L”,
được Ủy ban nhân dân xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang nay y ban nhân dân
xã B, tỉnh Bắc Ninh chứng thực ngày 05/12/2023 vô hiệu.
- Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày
05/12/2023 giữa: Bên tặng cho là: Anh Phạm Văn B1, chị Phạm Thị H1 chị
Phạm Thị L với bên nhận tặng cho Dương Thị M. Hợp đồng được Ủy ban
nhân dân Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang nay Ủy ban nhân dân B, tỉnh Bắc
Ninh chứng thực ngày 05/12/2023 vô hiệu.
3. Về chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ tài sản và định giá tài sản:
Dương Thị M phải chịu 14.000.000 đồng (mười bốn triệu đồng). Xác nhận
bà M đã nộp đủ.
4. Về án phí:
- Miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm cho bà Dương Thị M.
- Trả lại bà Nguyễn Thị B 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng
án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001868 ngày
31/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
4. Về quyền kháng cáo:
Báo cho nguyên đơn và bị đơn có mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Báo cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng
cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể tngày
bản án được niêm yết hợp lệ theo qui định của pháp luật.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bắc Ninh;
- VKSND tỉnh Bắc Ninh;
- VKSND khu vực 4 - Bắc Ninh;
- Thi hành án DS tỉnh Bắc Ninh;
- Đương sự;
- Lưu HS+VT.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Dương Thế Vinh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 73/2025/DSST Bản án số 73/2025/DSST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 73/2025/DSST Bản án số 73/2025/DSST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất