Bản án số 70/2024/DS-ST ngày 30/08/2024 của TAND huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 70/2024/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 70/2024/DS-ST ngày 30/08/2024 của TAND huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện An Minh (TAND tỉnh Kiên Giang)
Số hiệu: 70/2024/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/08/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng góp hụi giữa nguyên đơn Nguyễn Văn C và các bị đơn Nguyễn Vũ C1, Ngô Thị O
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYN A, TNH K
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 70/2024/DS-ST
Ngày: 30/8/2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH K
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Nguyễn Kim Ngọc Giàu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hồ Thị Hoa
2. Ông Phạm Ngọc Thanh
- Thư ký phiên tòa: Trn Thị Thùy Trang T ký Tòa án nhân dân huyn
A, tnh K.
- Vin kim sát nhân dân huyn A: Ông Trn Văn Ý Kim sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh K
xét xử thẩm công khai vụ án dân sự thsố 164/2024/TLST- DS ngày 03
tng 6 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử số 176/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 8 năm 2024, giữa các đương
sự:
* Nguyên đơn: Anh Nguyn Văn C, sinh năm 1991 (có mt)
Đa ch: p 11, xã K, huyện U, tnh C
* Bị đơn: Chị Ngô Thị O, sinh năm 1982 ( mặt)
Anh Nguyễn Vũ C1, sinh năm 1981 ( mặt)
Cùng đa ch: Ấp K1, xã V, huyn A, tnh K
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm
1973 (xin vắng mặt)
Địa ch: p 11, xã K, huyện U, tnh C
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, các ý kiến yêu cầu trong quá trình giải quyết vụ
2
án nguyên đơn anh Nguyễn Văn C trình bày:
Anh vợ chồng anh C1, chị O quen biết nhau qua mối quan hệ họ hàng,
trước đây vợ chồng anh, chị tổ chức chơi hụi tại địa phương, anh cũng tin tưởng
nên có tham gia chơi dây hụi như sau:
- Hụi áp ngày 05/05/2018 âm lịch: Anh tham gia chơi 01 chưng hụi
1.000.000 đồng (trong danh sách hụi ghi tên cậu Đ khi đó anh đi làm Sài
Gòn nên nhờ cha anh ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1973 đứng tên chơi hụi
dùm, mỗi tháng anh gửi về cho cha anh đóng hụi, tháng nào ngay anh về thì anh
cũng đóng hụi). Hụi này mỗi tháng khui 1 lần, gồm 35 phần, chưng hụi này
anh đóng hụi sống cho vợ chồng chị O được 22 lần x 1.000.000 đồng là
22.000.000 đồng thì vợ chồng chị O công bố bể hụi.
- Hụi áp ngày 29/05/2018 âm lịch: Anh tham gia chơi 01 chưng hụi
1.000.000 đồng (trong danh sách hụi cũng ghi tên cậu Đ khi đó anh đi làm
Sài Gòn nên nhờ cha anh ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1973 đứng tên chơi
hụi dùm, mỗi tháng anh gửi về cho cha anh đóng hụi, tháng nào ngay anh về thì
anh cũng đóng hụi), mỗi tháng khui 1 lần, gồm 34 phần, chưng hụi này anh
đóng hụi sống cho vợ chồng chị O được 22 lần x 1.000.000 đồng 22.000.000
đồng thì vợ chồng chị O công bố bể hụi.
Tổng cộng số tiền anh C1, chị O nợ anh 44.000.000 (bốn mươi bốn
triệu) đồng, sau đó vợ chồng chị O gửi trả cho anh được 5.000.000 đồng, còn
lại 39.000.000 đồng đến nay không trả nữa.
Từ đó đến nay vợ chồng anh C1, chị O hứa trả nên anh không làm đơn
yêu cầu, đến nay anh C1 bán đất nhưng không trả cho anh còn thách thức
anh đi thưa.
Nay anh yêu cầu anh Nguyễn Vũ C1chị Ngô Thị O phải trả cho anh số
tiền hụi còn nợ là 39.000.000 (ba mươi chín triệu) đồng.
* Theo biên bản ghi lời khai ngày 26/7/2024, các ý kiến yêu cầu trong
quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Vũ C1 trình bày:
Vợ chồng anh và C có mối quan hệ họ hàng với nhau. Anh C là em bà con
của vợ chồng anh, vợ chồng anh kêu cha của anh C là cậu, khi tham gia chơi hụi
3
do anh C đi làm nên lấy tên cha C cậu 9 Đà. Vợ chồng anh xác định tại thời
điểm tuyên bố úp hụi thì anh C kêu vợ chồng anh tính nguyên hụi chết nghĩa
dây hụi ngày 05/5/2018 âm lịch đóng được 22 lần thì tính 22.000.000 đồng; hụi
ngày 29/05/2018 âm lịch cũng đóng được 22 lần thì cũng tính 22.000.000 đồng.
Tổng cộng 44.000.000 đồng, thì anh C cho vợ chồng anh trả dần tháng
nhiêu đưa nhiêu thì vợ chồng anh đã đưa anh C được 5.000.000 đồng. Thừa
nhận còn nợ lại 39.000.000 đồng nhưng nay do hoàn cảnh khó khăn nợ nhiều
người xin anh C nhận lại vốn gốc dây hụi ngày 05/5/2018 âm lịch số tiền là
10.440.000 đồng; hụi ngày 29/05/2018 âm lịch số tiền 9.800.000 đồng. Tổng
cộng 20.240.000 đồng trừ đi 5.000.000 đồng vchồng anh đã đưa thì còn nợ
lại 15.240.000 đồng. Nhưng xin trả dần do hiện nay nợ rất nhiều người.
* Theo biên bản ghi lời khai ngày 26/7/2024, các ý kiến yêu cầu trong
quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Ngô Thị O trình bày:
Chị thống nhất lời trình bày của chồng chị là anh C1, không trình bày b
sung gì thêm.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Đ trình bày:
Vào ngày 05 tháng 05 năm 2018 âm lịch, ngày 29 tháng 05 năm 2018 âm
lịch. Ông chơi dùm con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1991 hai chưng hụi
chỗ anh Nguyễn C1 chị Ngô Thị O, trong lúc con ông Nguyễn Văn C
đang đi làm thành phố Hồ Chí Minh, nên không đứng tên hai chưng hụi được
nên ông thay con ông đứng tên hai chưng hụi, đến nay con ông về thì vợ chồng
anh Nguyễn C1 chị NThị O không trả lại tiền hai chưng hụi cho con
ông.
Ông xác định hai chưng hụi của con ông, giữa ông với anh Nguyễn
C1 chị Ngô Thị O không tranh chấp hai chưng hụi ngày 05 tháng 05 năm
2018 âm lịch 29 tháng 5 năm 2018 âm lịch, C toàn quyền quyết định hai
chưng hụi giữa ông với anh Nguyễn Vũ C1chị Ngô Thị O.
Tại phiên tòa:
4
- Nguyên đơn anh Nguyễn Văn C vẫn giữ nguyên yêu cầu anh Nguyễn Vũ
C1 chị Ngô Thị O phải trả cho anh số tiền hụi còn nợ là 39.000.000 (ba mươi
chín triệu) đồng, khi án có hiệu lực.
- Các bị đơn anh Nguyễn C1, chị Ngô Thị O xác định thừa nhận còn
nợ lại 39.000.000 đồng nhưng nay do hoàn cảnh khó khăn nợ nhiều người xin
anh C nhận lại vốn gốc dây hụi ngày 05/5/2018 âm lịch số tiền là 10.440.000
đồng; hụi ngày 29/05/2018 âm lịch số tiền 9.800.000 đồng. Tổng cộng
20.240.000 đồng trừ đi 5.000.000 đồng vợ chồng anh đã đưa thì còn nợ lại
15.240.000 đồng. Nhưng xin trả dần do hiện nay nợ rất nhiều người.
- Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
+ Về trình tự, thủ tục: Thẩm phán Hội đồng xét xử thẩm đã thực
hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ
cho đến khi đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa các đương sự đã thực hiện đúng
quy định tại các Điều 70, 71, 72, 73 của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Giữa nguyên đơn các bị đơn thực tế đã phát sinh ra
quan hệ góp hụi với nhau theo quy định tại Điều 471 của Bộ luật dân sự. Các bị
đơn thừa nhận sau khi công bố bể hụi đã chốt số tiền nợ hụi với nguyên đơn là
còn nợ nguyên đơn số tiền nợ hụi 39.000.000 đồng sau đó đã trả được
5.000.000 đồng đây sự việc đã được các bị đơn thừa nhận nên yêu cầu của
nguyên đơn thuộc trường hợp không cần phải chứng minh theo quy định tại
khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn cho rằng hai dây hụi sống
nguyên đơn chỉ đóng số tiền 20.240.000 đồng, đã trả 5.000.000 đồng nên nay
chỉ đồng ý trả số tiền 15.240.000 đồng xin trả dần. Tuy nhiên, các bên tham
gia chơi hụi loại hụi hoa hồng (lãi); nguyên đơn đóng hụi khi còn sống
nên việc đóng thấp hơn giá dây hụi là quyền lợi của nguyên đơn được hưởng. Lẽ
ra khi úp hụi bị đơn phải có biện pháp thỏa thuận, thương lượng với nguyên đơn
nhưng không thực hiện cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết đã tự thỏa
thuận với nguyên đơn nhưng đến khi vi phạm nghĩa vụ trả nợ hụi thì lại cho rằng
không có khả năng thanh toán.
Từ những phân tích trên, căn cứ Điều 471 Bộ luật dân sự; Điều 92 Bộ luật
5
tố tụng dân sự; Điều 15, 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của
Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn, buộc các bị đơn có trách nhiệm trả số tiền hụi còn nợ
là 39.000.000 (ba mươi chín triệu) đồng.
Về án phí quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp
luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn anh Nguyễn Văn C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc
các bị đơn anh Nguyễn C1 chị Ngô Thị O cùng địa chỉ Ấp K1, V,
huyện A, tỉnh K trả số tiền hụi còn nợ. Đây tranh chấp hợp đồng góp hụi
thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh K theo quy định tại khoản
3 Điều 26; Điều 35; Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng:
Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bị đơn đã được Tòa án tống đạt
thông báo thụ vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ và hòa giải đúng theo quy định pháp luật.
Ngày 14/8/2024, nời quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn
Đ đơn xin xét xvắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại
khoản 1 Điều 228 Bộ luật Ttụng dân sự xét xử vắng mặt người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan ông Đ trong vụ án này.
[3] Về nội dung:
Nguyên đơn anh Nguyễn Văn C và các bị đơn anh Nguyễn C1, chị
Ngô Thị O đều thống nhất xác định anh C tham gia 02 dây hụi áp ngày
05/05/2018 âm lịch 29 tháng 5 năm 2018 âm lịch, đóng được 22 lần hụi sống
thì anh C1, chị O tuyên bố úp hụi. Sau khi anh C1, chị O tuyên bố úp hụi, hai
bên tự thỏa thuận thống nhất số tiền nợ hụi là 44.000.000 đồng và anh C cho chị
6
O, anh C1 trả dần số tiền nợ hụi này. Sau đó anh C1, chị O đã trả được số tiền
nợ hụi 5.000.000 đồng, còn nợ lại 39.000.000 đồng.
Nguyên đơn anh C cho rằng từ sau khi trả số tiền 5.000.000 đồng đến nay
không trả nữa. Đến khi anh C1 bán đất cũng không trả cho anh còn thách
thức anh đi thưa. Nay anh yêu cầu anh Nguyễn Vũ C1chị Ngô Thị O phải trả
cho anh số tiền hụi còn nợ là 39.000.000 đồng.
Theo các bị đơn anh Nguyễn C1, chị Ngô Thị O xác định thừa nhận
còn nợ lại 39.000.000 đồng nhưng nay do hoàn cảnh khó khăn nợ nhiều người
xin anh C nhận lại vốn gốc ở dây hụi ngày 05/5/2018 âm lịch số tiền là
10.440.000 đồng; hụi ngày 29/05/2018 âm lịch số tiền 9.800.000 đồng. Tổng
cộng 20.240.000 đồng trừ đi 5.000.000 đồng vchồng anh đã đưa thì còn nợ
lại 15.240.000 đồng. Nhưng xin trả dần do hiện nay nợ rất nhiều người.
Hội đồng xét xử xét thấy giữa nguyên đơn anh Nguyễn Văn C các bị
đơn anh Nguyễn Vũ C1 chị Ngô Thị O thực tế đã phát sinh hợp đồng góp hụi
với nhau. Các bị đơn thừa nhận sau khi công bố bể hụi đã chốt số tiền nợ hụi với
nguyên đơn là còn nợ nguyên đơn số tiền nợ hụi 39.000.000 đồng sau đó đã
trả được 5.000.000 đồng đây sự việc đã được các bị đơn thừa nhận nên yêu
cầu của nguyên đơn thuộc trường hợp không cần phải chứng minh theo quy định
tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
Các bị đơn anh Nguyễn Vũ C1, chị Ngô Thị O cho rằng do hoàn cảnh khó
khăn nợ nhiều người xin anh C nhận lại vốn gốc dây hụi ngày 05/5/2018 âm
lịch số tiền 10.440.000 đồng; hụi ngày 29/05/2018 âm lịch số tiền
9.800.000 đồng. Tổng cộng 20.240.000 đồng trừ đi 5.000.000 đồng vợ chồng
anh đã đưa thì còn nợ lại 15.240.000 đồng xin trả dần do nợ rất nhiều người
không sở xem xét, bởi lẽ khi các bên tham gia chơi hụi đều xác định
hụi hoa hồng (lãi); nguyên đơn đóng hụi khi còn sống nên việc đóng thp
hơn giá dây hụi quyền lợi của nguyên đơn được hưởng. Lẽ ra khi úp hụi các
bị đơn phải có biện pháp thỏa thuận, thương lượng với nguyên đơn nhưng không
thực hiện cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết đã tự thỏa thuận với
nguyên đơn thống nhất stiền nhụi nguyên đơn cũng đồng ý cho trả dần
7
nhưng phía các bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ.
Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của anh
C căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật tại Điều 471 Bộ luật dân sự;
Điều 15, Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ
về họ, hụi, biêu, phường nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Buộc bị đơn anh
Nguyễn C1, chị Ngô Thị O nghĩa vtrả cho anh Nguyễn Văn C số tiền
hụi còn nợ 39.000.000 đồng, khi án có hiệu lực pháp luật.
[4] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, căn cứ
vào Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y
ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án, nên các bị đơn
phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 39.000.000 đồng x 5% = 1.950.000 đồng.
Hoàn trả cho nguyên đơn stiền 975.000 đồng tiền tạm ứng án pđã nộp theo
biên lai thu số 0004986 ngày 29 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi nh án dân
sự huyện A, tỉnh K.
[5] Xét đề nghị của VĐại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp,
cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 92; Điều 228; Điều 271;
Điều 272; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 471 Bộ luật dân sự;
Căn cứ Điều 15, Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019
của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn C:
Buộc các bị đơn anh Nguyễn Vũ C1, chị Ngô Thị O nghĩa vụ trả cho anh
Nguyễn Văn C số tiền hụi còn nợ là 39.000.000 (Ba mươi chín triệu) đồng.
8
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối
với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án
xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản
tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2
Điều 468 Bộ luật dân sự.
2. Về án phí: Các bị đơn anh Nguyễn C1 chị Ngô Thị O phải chịu
1.950.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho nguyên đơn anh Nguyễn Văn C số tiền 975.000 đồng tiền
tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004986 ngày 29 tháng 5 năm 2024
của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh K.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn C các bị đơn
anh Nguyễn C1, chị Ngô Thị O quyền kháng cáo bản án thẩm trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh K xét xử
lại theo thủ tục phúc thẩm.
4. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7,
Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
NGUYỄN KIM NGỌC GIÀU
Nơi nhận:
- TAND tnh K;
- VKSND huyn A;
- Chi cc THADS huyện A;
- Đương s;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Tải về
Bản án số 70/2024/DS-ST Bản án số 70/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 70/2024/DS-ST Bản án số 70/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất