Bản án số 64/2026/DS-PT ngày 29/01/2026 của TAND tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 64/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 64/2026/DS-PT ngày 29/01/2026 của TAND tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bắc Ninh
Số hiệu: 64/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/01/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông B - Ông D tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC NINH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 64/2026/DS- PT
Ngày: 29/01/2026
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay i
sản và thực hiện nghĩa vụ tài sn
do ngưi chết để lại
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ toạ phiên t: Ông Nguyễn Ngọc Chung.
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hùng
Bà Nguyễn Thị Hằng
Thư phiên toà: Nguyễn Thị Yến Ngọc - Thư Toà án nhân dân tỉnh
Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh: Nguyễn Thị Kim Liên
Kiểm sát viên.
Ngày 29/01/2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xphúc thẩm
công khai vụ án thụ số 497/2025/DS-PT ny 22/12/2025 về việc “Tranh chấp
hợp đồng vay tài sản và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 49/2025/DS-ST ngày 11/9/2025 của Toà án
nhân dân khu vực 4-Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 43/2025/QĐ-PT ngày
09/01/2026; giữa:
1. Nguyên đơn: Anh Ông Trần Văn B, sinh năm 1968; địa ch: T dân ph C,
th trn ĐN, huyn Lc Nam, tnh Bc Giang (nay là thôn C, xã Lc Nam, tnh Bc
Ninh) (có mt).
2. Đồng b đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1966; địa ch: T dân ph N,
th trn ĐN, huyn Lc Nam, tnh Bc Giang (nay là thôn N, xã Lc Nam, tnh Bc
Ninh) (có mt).
+ Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1990; địa ch: T dân ph N, th trn ĐN,
huyn Lc Nam, tnh Bc Giang (nay là thôn N, xã Lc Nam, tnh Bc Ninh) (có
mt).
Ông D, chị L ủy quyền cho anh Dương Ngô G, sinh năm 1983, địa chỉ: Số
329, đường L1, phường Bắc Giang, tỉnh Bắc Ninh. (Có mặt)
+ Ông Phạm Văn T, sinh năm 1953; địa ch: T dân ph N, th trn ĐN,
huyn Lc Nam, tnh Bc Giang (nay là thôn N, xã Lc Nam, tnh Bc Ninh) (vng
2
mt).
+ Chị Nguyễn Th O, sinh năm 1989; quê quán: Tổ dân ph N, th trn ĐN,
huyn Lc Nam, tnh Bc Giang (nay là thôn N, xã Lc Nam, tnh Bc Ninh); nơi
: S 29, ngõ 333, đường Tân Th, t 4, phường Tây Thnh, qun Tân Trng,
thành ph Tân Bc, Đài Loan (vng mt).
3. Người có quyn li, nghĩa v liên quan:
+ Bà Nguyễn ThT2, sinh năm 1973; địa ch: T dân ph C, th trn ĐN,
huyn Lc Nam, tnh Bc Giang (nay là thôn C, xã Lc Nam, tnh Bc Ninh) (
mt).
* Người kháng cáo: Bị đơn chị Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn D.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện các lời khai có trong hồ sơ, nguyên đơn ông Trần
Văn B trình bày:
Ông và vợ chồng ông D, bà T3 có mối quan hệ quen biết. Trong khoảng thời
gian tnăm 2011 đến năm 2013, ông cho ông D, T3 vay tổng cộng 04 lần
tiền, cụ thể như sau:
Lần 1: Ngày 28/02/2011, ông cho ông D T3 vay số tiền là 15.000.000
đồng. Khi vay tiền lập Biên nhận vay tiền ông D, T3 ng nhận, mục
đích ông D T3 vay số tiền này của ông để mục đích làm ăn kinh tế. Hai
bên thỏa thuận miệng với nhau lãi suất 2%/ tháng khi nào ông cần thì ông
sẽ báo cho ông D, bà T3 trước 1 tháng để ông, bà chuẩn bị tiền trả cho ông.
Lần 2: Ngày 30/12/2011, ông cho ông D T3 vay số tiền là 28.000.000
đồng. Khi vay tiền lập Biên nhận vay tiền ông D, T3 cùng nhận, mục
đích ông D T3 vay số tiền này của ông để mục đích làm ăn kinh tế. Hai
bên thỏa thuận miệng với nhau lãi suất 2%/ tháng khi nào ông cần thì ông
sẽ báo cho ông D, bà T3 trước 1 tháng để ông, bà chuẩn bị tiền trả cho ông.
Lần 3: Ngày 30/7/2012, ông cho ông D T3 vay số tiền 40.000.000
đồng. Khi vay tiền có lập Biên nhận vay tiền và lần này chỉ có bà T3 ký nhận, mục
đích T3 vay số tiền này của ông để mục đích làm ăn kinh tế. Hai bên thỏa
thuận miệng với nhau lãi suất 2%/ tháng khi nào ông cần thì ông sẽ báo
cho bà T3 trước 1 tháng để bà chuẩn bị tiền trả cho ông.
Lần 4: Ngày 12/6/2013, ông đưa cho T3 stiền là 65.000.000 đồng.
Lần này do bà T3 nói với ông là bà T3 thể xin cho ông làm công việc bảo
vệ tại Ngân hàng đầu phát triển, chi nhánh tại Lục Nam. T3 hẹn với ông
01 tháng sau, tức ngày 12/7/2013 bà T3 không xin được việc cho ông thì
T3 sẽ hoàn trả lại ông số tiền 65.000.000 đồng này. Do ông tin tưởng T3 sẽ xin
được việc cho ông nên ông đồng ý với thỏa thuận đó đã giao cho T3 số tiền
65.000.000 đồng. Giữa ông T3 lập Giấy nhận tiền, T3 ông cùng
nhận.
Ông xác định, ông D T3 vay tiền của ông vào ngày 28/02/2011
ngày 30/12/2011 với tổng số tiền 43.000.000 đồng nợ chung của ông D
T3, ông vay tiền của ông để làm ăn kinh tế gia đình cùng nhận nợ với
ông. Còn lần vay ngày 30/7/2012 ngày 12/6/2013 với tổng số tiền
3
105.000.000 đồng là do một mình T3 vay, ông D không ký nhận nợ nên ông
không có tài liệu gì chứng minh. Tất cả những lần ông cho ông D, bà T3 vay đều là
tiền của riêng ông, một mình ông đứng ra cho vay, không liên quan đến vợ ông.
Từ năm 2012 đến nay, ông đã đòi rất nhiều lần nhưng ông D, T3 không
trả cho ông được đồng tiền gốc tiền lãi nào. Năm 2020, bà T3 chết, sau khi
T3 chết thì ông đã yêu cầu ông D phải trả ông số tiền trên nhiều lần nhưng ông D
không trả, ông đã khởi kiện đến Tòa án nhưng sau đó lại rút đơn để cho ông D thu
xếp tự trả tiền cho ông nhưng đến nay ông D không trả cho ông đồng nào.
Nay, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 4 Bắc Ninh buộc
một mình ông D phải trả cho một mình ông ½ số nợ chung với bà T3 là 21.500.000
đồng (trong tổng số 43.000.000 đồng nợ chung) buộc ông Nguyễn Văn D phải
thực hiện nghĩa vụ tài sản do T3 chết để lại, cụ thể ông D phải trả cho ông số
tiền 126.500.000 đồng tiền gốc T3 đã vay như trên. Bởi vì, hiện nay toàn bộ
tài sản chung của ông D T3 do ông D quản sử dụng. Hàng thừa kế
thứ nhất của bà T3 ông T chị O, chị L không liên quan đến các tài sản này.
Ông T bố đẻ của T3 không cùng T3 không liên quan đến tài sản của
T3 từ khi T3 kết hôn với ông D, hiện nay ông T tuổi đã cao nên không
khả năng vkinh tế. Còn chị O thì lấy chồng Đài Loan đã nhiều năm nay cũng
không liên quan đến tài sản chung của ông D, bà T3; chị L cũng đã lấy chồng và có
gia đình riêng từ nhiều năm nay cũng không liên quan đến tài sản chung của
ông D, bà T3.
Ông xác định hàng thừa kế thứ nhất của bà T3 gồm có ông Phạm Văn T, ông
Nguyễn Văn D, chị Nguyễn Thị O chị Nguyễn Thị L. Ngoài ra, T3 không
người con chung, con riêng, con nuôi nào khác.
+ Đối với tiền lãi thì ông đề nghị như sau:
Đối với tổng số tiền 43.000.000 đồng ông D T3 vay của ông vào
ngày 28/02/2011 ngày 30/12/2011 thì ông tự nguyện yêu cầu tính tiền lãi từ
ngày 01/01/2012 đến hết ngày 30/8/2025 13 năm 08 tháng chẵn, mức lãi suất
ông đề nghị giải quyết là 0,75%/ tháng.
Đối với số tiền 40.000.000 đồng bà T3 vay của ông vào ngày 30/7/2012, ông
tự nguyện yêu cầu tính tiền lãi từ ngày 01/8/2012 đến hết ngày 30/8/2025 13
năm 01 tháng chẵn, mức lãi suất ông đề nghị giải quyết là 0,75%/ tháng.
Đối với số tiền 65.000.000 đồng ông đưa cho T3 để xin việc cho ông
không phải T3 vay của ông, vì vậy ông không yêu cầu lãi suất.
- Tại lời khai ngày 12/8/2025, ông Trần Văn B ý kiến như sau: Ông khởi
kiện ông Nguyễn Văn D về việc ông buộc Nguyễn Văn D phải trả cho ông toàn bộ
số tiền nợ gốc 148.000.000 đồng lãi suất theo quy định của pháp luật (trong
đó có nợ chung của ông D và bà T3, có nợ riêng của T3).
Tuy nhiên, do T3 đã chết từ năm 2020, khi khởi kiện ông chbuộc một
mình ông D phải thực hiện nghĩa vụ cả phần của T3 ông D T3 vợ
chồng và số nợ này phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của ông D T3. Hơn nữa
bố đẻ T3 các con của ông D T3 cũng không liên quan đến việc ông D
T3 vay tiền của ông. Nhưng quá trình giải quyết vụ án ông D không thừa
nhận số tiền đã nông, di sản thừa kế của T3 để lại vẫn chưa được c hàng
thừa kế phân chia hàng thừa kế thứ nhất của T3 không đồng ý thực hiện
4
nghĩa vụ về tài sản T3 để lại nhưng cũng không từ chối về quyền tài sản đối
với di sản thừa kế của T3. vậy, ông đề nghị được thay đổi yêu cầu khởi kiện
như sau:
+ Buộc ông Nguyễn Văn D phải trả cho ông số tiền nợ gốc 21.500.000
đồng và lãi suất là 0,75% kể từ ngày 01/01/2012 đến hết ngày 30/8/2025.
+ Buộc hàng thừa kế thứ nhất của T3 gồm cụ Phạm Văn T, ông Nguyễn
Văn D, chị Nguyễn Thị O và chị Nguyễn Thị L phải cùng có trách nhiệm thực hiện
nghĩa vụ về tài sản T3 đlại đó trả lại cho ông tổng số tiền nợ gốc
126.500.000 đồng.
Về lãi suất thì ông đề nghị như sau: Đối với số tiền nợ gốc 21.500.000
đồng ông đề nghị tính lãi suất 0,75% kể từ ngày 01/01/2012 đến hết ngày
30/8/2025; Đối với số tiền nợ gốc 40.000.000 đồng ông đề nghị tính lãi suất
0,75% kể từ ngày 01/8/2012 đến hết ngày 30/8/2025; đối với số tiền 65.000.000
đồng thì ông tự nguyện không yêu cầu lãi suất. Ngoài ra ông đề nghị Tòa án tuyên
buộc trả lãi suất chậm trả theo quy định của pháp luật cho đến khi hoàn trả ông đủ
số tiền nợ gốc là 148.000.000 đồng.
Từ việc thay đổi yêu cầu khởi kiện như trên thì ông đnghị Tòa án thay đổi
cách tham gia tố tụng trong ván của ông Phạm Văn T, chị Nguyễn Thị L và
chị Nguyễn ThO từ người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thành bị đơn.
Ngoài ra, ông Trần Văn B không có yêu cầu nào khác.
* Tại biên bản lấy lời khai, bị đơn là ông Nguyễn Văn D trình bày:
Ngày 28/02/2011 và ngày 30/12/2011 giữa ông Trần Văn B và vợ chồng ông
giấy Biên nhận vay tiền ngày 28/02/2011 về việc vợ chồng ông vay của
ông B số tiền 15.000.000 đồng và giấy Biên nhận vay tiền ngày 30/12/2011 đối với
số tiền 28.000.000 đồng. Số tiền vay này thật và vợ chồng ông cùng nhận,
chữ của vợ chồng ông tại giấy Biên nhận vay tiền ngày 28/02/2011 ngày
30/12/2011 đúng. Tuy nhiên, theo ông nhớ thì khi vchồng ông hai tờ giấy
vay tiền này ông B đưa cho vợ chồng ông vào tờ giấy đánh máy hoàn toàn,
chỉ phần chữ vchồng ông viết tay. Nay ông xác nhận lại chtại 02
giấy biên nhận này không phải là chữ ký của ông.
Khi ký giấy vay tiền ngày 28/02/2011 đối với số tiền 15.000.000 đồng thì vợ
chồng ông thế chấp cho ông B 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nông
nghiệp) bản gốc đã được UBND huyện Lục Nam cấp số N 816077 ngày 03/9/1999
mang tên hộ ông Nguyễn Văn D đối với 1.026m
2
đất nông nghiệp địa chtại
Tiên Hưng, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (nay là thị trấn ĐN, huyện Lục Nam).
Nay ông B khởi kiện ông đối với số tiền này thì ông giữ nguyên phản tố
buộc ông B, T2 phải trách nhiệm trả lại cho ông 01 Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất (nông nghiệp) bản gốc đã được UBND huyện Lục Nam cấp số N
816077 ngày 03/9/1999 mang tên hộ ông Nguyễn Văn D như trên.
Đối với Giấy nhận tiền ngày 12/6/2013 giữa T3 ông B giấy Biên
nhận vay tiền ngày 30/7/2012 giữa T3 ông B thì ông xác định không liên
quan đến ông, T3 cũng không mang số tiền nào khác về để chi tiêu sinh hoạt
trong gia đình ông cũng xác định không việc T3 giấy biên nhận ngày
12/6/2013 và ngày 30/7/2012. Ông xác nhận chữ ký của bà T3 tại 02 Giấy vay tiền
này là không đúng.
5
Ông và bà T3 là vợ chồng, quá trình chung sống ông bà có tài sản chung như
sau: diện tích đất n 600m
2
(gồm cả đất đất vườn) tại thửa đất số 135, tờ
bản đồ số 49 đã được UBND huyện Lục Nam cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số BB 103025 ngày 18/6/2010 mang tên ông Nguyễn Văn D bà Phạm Thị
T3, thửa đất có địa chỉ tại thôn N, xã Tiên Hưng (nay là tổ dân phố N, thị trấn ĐN),
huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang và toàn bộ tài sản gắn liền với đất.
Sau đó ông đã bán 200m
2
và hiện nay còn hơn 400m
2
, diện tích cụ thể ông
sẽ cung cấp cho Tòa án sau. Nguồn gốc thửa đất này của gia đình ông do bm
ông để lại ttrước, đến năm 2010 tvợ chồng ông làm thủ tục cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất.
Tài sản gắn liền với đất bao gồm: 01 ngôi nhà trần, 1 tầng diện tích hơn
140m
2
xây dựng năm 2022 (sau khi T3 đã mất, bà T3 mất năm 2020) tường
bao, sân thềm, cổng làm cùng thời gian khi làm nhà. Nguồn tiền để xây dựng lên
các công trình này do con i tôi Nguyễn Thị O cho ông để làm nhà chứ không
có tiền của ông và bà T3.
Ông xác định toàn bộ nguồn gốc tài sản chung này là không có công sức của
ông T3. vậy, ông đnghị Tòa án quá trình giải quyết vụ án xem xét
đánh giá để đảm bảo quyền lợi cho ông.
Ngoài ra, ông Nguyễn Văn D không có ý kiến nào khác.
* Tại biên bản lấy lời khai, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị
Nguyễn Thị L trình bày:
Bản thân chị trước đây không hề biết việc bố, mẹ chị vay nợ tiền của ông
Trần Văn B, chị đi lấy chồng tnhững năm 2009. Đến khi ông B khởi kiện bố chị
đến Tòa án nhân dân huyện Lục Nam thì chmới được bchị nói lại cho biết sự
việc. Chị xác định bản thân chị không liên quan đến toàn bộ sự việc vay tiền này.
Tuy nhiên, bản thân chị có ý kiến như sau:
Đi vi Giấy nhn tin ngày 12/6/2013 gia bà T3 và ông B và giy Biên nhn
vay tin ngày 30/7/2012 gia T3 ông B thì ch c định là không có vic mẹ chị
vay tin ca ông B như vy.
Đi vi Biên nhn vay tin ngày 28/02/2011 ngày 30/12/2011 giữa ông B và
b mẹ chị thì b chcó tha nhận là đúng ch của b mẹ chị và s vic vay tin
như vy. Tuy nhiên theo bố chị i thì bố chị nh thì khi hai giy vay tin này là
ông B đưa cho b mẹ chị ký vào t giấy đánh máy hoàn toàn, ch có phn ch ký là bố
m chị viết tay.
Chị có ý kiến về khối tài sản chung của bố mẹ chị thì chị có ý kiến như sau:
Quá trình chung sống bố mẹ chị tài sản chung như sau: diện tích đất
hơn 600m
2
(gồm cả đất ở và đất vườn) tại thửa đất số 135, tờ bản đồ số 49 đã được
UBND huyện Lục Nam cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 103025
ngày 18/6/2010 mang tên ông Nguyễn Văn D Phạm Thị T3, thửa đất địa
chỉ tại thôn N, Tiên Hưng (nay tổ dân phố N, thị trấn ĐN), huyện Lục Nam,
tỉnh Bắc Giang và toàn bộ tài sản gắn liền với đất.
Sau đó bố mẹ chị đã bán 200m
2
và hiện nay còn hơn 400m
2
. Nguồn gốc thửa
đất này của gia đình chị do ông nội chị để lại từ trước, đến m 2010 thì bố
mẹ chị làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
6
Tài sản gắn liền với đất bao gồm: 01 ngôi nhà trần, 1 tầng diện tích hơn
140m
2
xây dựng năm 2022 (sau khi T3 đã mất, bà T3 mất năm 2020) tường
bao, sân thềm, cổng làm cùng thời gian khi làm nhà. Nguồn tiền để xây dựng lên
các công trình này là do chị gái chị Nguyễn Thị O cho bố để làm nhà chứ không có
tiền của bố mẹ chị. Bản thân chị cũng không có đóng góp gì vào khối tài sản chung
này.
Chị xác định toàn bộ nguồn gốc tài sản chung này là không công sức của
bố mẹ chị. vậy, chị đề nghị Tòa án quá trình giải quyết vụ án xem xét đánh
giá để đảm bảo quyền lợi cho bố chị.
Ngoài ra, chị Nguyễn Thị L không còn ý kiến nào khác.
* Tại biên bản lấy lời khai, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị
Nguyễn Thị O trình bày:
Chị là con gái của bà Phạm Thị T3 ông Nguyễn Văn D. Hiện tại chị đang
làm việc và sinh sống tại Đài Loan theo địa chỉ số 29, ngõ 333, đường Tân Thụ, tổ
4, phường Tây Thịnh, quận Tân Trạng, thành phố Tân Bắc, Đài Loan.
Chị mới về Việt Nam từ ngày 01/8/2025, đến ngày 15/8/2025 này chị lại
sang Đài Loan. Đối với vụ án tranh chấp giữa ông Trần Văn B và ông Nguyễn Văn
D tôi có ý kiến như sau:
Bản thân chị trước đây không hề biết việc bố, mchcó vay nợ tiền của ông
Trần Văn B, chị đi xuất khẩu lao động Đài Loan từ những năm 2007. Đến năm
2022 chị mới được biết ông B khởi kiện bố chị đến a án nhân dân huyện Lục
Nam thì chị mới được bố chị nói lại cho biết sự việc. Khi còn sống thì mẹ chị cũng
không nói chuyện cho chị được biết việc vay nợ của những ai. Chị xác định bản
thân chị không liên quan đến toàn bộ sự việc vay tiền này. Nên chị không đồng ý
trả nợ cho mẹ chị, chị từ chối việc trả nợ thay cho mẹ chị. Còn đối với tài sản di
sản thừa kế của mẹ chị thì chị đồng ý nhận theo quy định của pháp luật.
Chị có ý kiến về khối tài sản chung của bố mẹ chị thì chị có ý kiến như sau:
Quá trình chung sống bố mẹ chị tài sản chung như sau: diện tích đất
hơn 600m
2
(gồm cả đất ở và đất vườn) tại thửa đất số 135, tờ bản đồ số 49 đã được
UBND huyện Lục Nam cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 103025
ngày 18/6/2010 mang tên ông Nguyễn Văn D Phạm Thị T3, thửa đất địa
chỉ tại thôn N, Tiên Hưng (nay thôn N, Lục Nam, tỉnh Bắc Ninh toàn
bộ tài sản gắn liền với đất.
Tuy nhiên, tài sản này của hộ gia đình gồm ông nội chị (ông nội chị
mất năm 2010), bố chị, mẹ chị và 2 chị em chị.
Sau đó bố mẹ chị đã bán 200m
2
và hiện nay còn hơn 400m
2
. Nguồn gốc thửa
đất này của gia đình chị do ông nội chị để lại từ trước, đến năm 2010 thì bố
mẹ chị làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tài sản gắn liền với đất bao gồm: 01 ngôi nhà trần, 1 tầng diện tích hơn
140m
2
xây dựng năm 2022 (sau khi bà T3 đã mất, bà T3 mất năm 2020) tường
bao, sân thềm, cổng làm cùng thời gian khi làm nhà. Nguồn tiền để xây dựng lên
các công trình này là do chị cho bố để làm nhà chứ không tiền của bố mẹ chị.
Em gái chị là chị L cũng không có đóng góp gì vào khối tài sản chung này.
Toàn bộ tài sản này gia đình chị chưa thực hiện việc phân chia di sản thừa kế
và cũng chưa có thỏa thuận về việc phân chia thừa kế di sản của mẹ chị.
7
Chị xác định toàn bộ nguồn gốc tài sản chung này không có công sức của
bố mẹ chị. vậy, chị đề nghị Tòa án quá trình giải quyết vụ án xem xét đánh
giá để đảm bảo quyền lợi cho bố chị.
Ngoài ra, chị Nguyễn Thị O không còn ý kiến nào khác.
* Tại biên bản lấy lời khai, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Phạm Văn T trình bày:
Ông là bố đẻ của Phạm Thị T3, việc vay mượn giữa ông B T3, ông
D như nào thì ông không được biết, ông cũng không liên quan đến sự việc này, ông
D T3 cũng không nói gì với ông ông ng không cùng ông D T3
nên cũng không nắm được sự việc. Đề nghị a án giải quyết theo quy định của
pháp luật.
Ngoài ra, ông Phạm Văn T không còn ý kiến nào khác.
* Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành thu thập một số tài liệu,
chứng cứ như sau:
- Tại biên bản làm việc, Chi nhánh văn phòng đăng đất đai huyện Lục
Nam cung cấp: Ông Nguyễn Văn D là chủ sử dụng 01 thửa đất đứng tên hộ gia
đình ông Nguyễn Văn D, cụ thể: diện tích 608m
2
, địa chỉ: Tổ dân phố N, thị trấn
ĐN, huyện Lục Nam, s vào sổ 01133 ngày 01/12/2000 theo quyết định số
632/QĐ-UB, theo bản đồ địa chính hiện nay thửa đất thuộc tờ bản đồ 49, thửa số
135.
Ngày 18/6/2010, ông D đã bán một phần thửa đất cho ông Hoài Nam
Hoàng Thị Tuyết. UBND huyện Lục Nam đã quyết định về việc chỉnh
biến động số 1588 để cấp đổi Giấy chứng nhận cho ông D, T3 diện tích sau khi
chuyển nhượng 577,5m
2
. Ông Nguyễn Văn D Phạm Thị T3 đã được
UBND huyện Lục Nam cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 103025
ngày 18/6/2010 đối với thửa đất số 135, tờ bản đồ số 49 diện tích 577,5m
2
(trong đó: đất ở là 200m
2
, đất vườn là 377,5m
2
).
- Tại biên bản xác minh, ông Trần Văn Chiến, chức vụ: Cán bộ địa chính
Lục Nam trình bày: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1966 địa chỉ tại tổ dân phố
N, thị trấn ĐN, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (nay Lục Nam) là chủ sử
dụng 01 thửa đất đứng tên hộ gia đình ông Nguyễn Văn D, cụ thể: diện tích 608m
2
,
địa chỉ thửa đất: Tdân phN, thị trấn ĐN, huyện Lục Nam, Bắc Giang (nay
TDP N, xã Lục Nam, tỉnh Bắc Ninh), số vào sổ 01133 ngày 01/12/2000 theo
quyết định số 632/QĐ-UB. Theo bản đồ địa chính hiện nay thửa đất thuộc tờ bản
đồ 49, thửa số 135.
Ngày 18/6/2010, ông D đã chuyển nhượng một phần thửa đất này, UBND
huyện Lục Nam đã quyết định về việc chỉnh biến động s1585 để cấp đổi
Giấy chứng nhận cho ông Nguyễn Văn D và bà Phạm Thị T3 (vợ ông D), diện tích
sau khi chuyển nhượng là 577,5m
2
(trong đó: đất ở 200m
2
, đất vườn là 377,5m
2
)
thửa đất số 135, tờ bản đồ số 49.
* Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đơn đề nghị xem xét, thẩm
định tại chỗ và định giá tài sản.
- Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 14/5/2025 như sau:
+ Hội đồng tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản gồm: Thửa
đất diện tích 475m
2
(trong đó: đất 97,5m
2
, đất vườn 377,5m
2
) đã được
8
UBND huyện Lục Nam cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 103025
ngày 18/6/2010 đối với thửa đất số 135, tờ bản đồ số 49 mang tên ông Nguyễn Văn
D Nguyễn Thị T3, địa chỉ tại tổ dân phố N, thị trấn ĐN, huyện Lục Nam,
tỉnh Bắc Giang. Thửa đất cách cạnh tiếp giáp như sau: phía Nam giáp đường
tông của thôn; phía Tây giáp thửa đất nhà ông Hiệp, Lan; phía Đông giáp thửa
đất nhà ông Ngạn, bà Xuyến; phía Bắc giáp với thửa đất ao của gia đình.
+ Tài sản trên đất gồm: 01 ngôi nhà cấp 3, loại 2 dạng mái Nhật diện tích
142m
2
, xây dựng năm 2022; 01 sân lát gạch lá nem, lát năm 2022 diện tích
90m
2
; ngoài ra còn 02 trụ cổng, cánh cổng lắp năm 2022 nhưng các đương sự
không đề nghị xem xét, thẩm định.
- Kết quả định giá tài sản ngày 14/5/2025 như sau:
+ Đối với thửa đất có diện tích 475m
2
(trong đó: đất ở là 97,5m
2
, đất vườn là
377,5m
2
) đã được UBND huyện Lục Nam cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số BB 103025 ngày 18/6/2020 đối với thửa đất số 135, tbản đồ số 49 mang
tên ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị T3, địa chỉ tại tổ dân phố N, thị trấn ĐN,
huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang thì xác định thửa đất thuộc vị trí ngõ xóm còn lại.
Căn cứ Quyết định số 40/QĐ-UBND ngày 27/11/2024 của UBND tỉnh Bắc
Giang quy định về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 72/QĐ-UBND ngày
21/12/2021 quy định về bảng giá đất trên địa bàn tỉnh Bắc Giang thì giá trị thửa đất
được quy định như sau: Giá đất 3.000.000 đồng/m
2
; giá đất vườn 60.000
đồng/m
2
.
Sau khi tham khảo giá trị tại vị trí tương đồng thời điểm hiện tại thì xác
định giá như sau: Giá đất ở là 7.000.000 đồng/m
2
; giá đất vườn là 500.000
đồng/m
2
.
+ Đối với tài sản trên đất: 01 ngôi nhà cấp 3, loại 2 dạng mái Nhật diện
tích 142m
2
, xây dựng năm 2022 sau khi khấu hao thì giá trị còn lại 645.390.000
đồng; 01 sân lát gạch lá nem, lát năm 2022 diện tích 90m
2
sau khi khấu hao thì
giá trị còn lại 10.080.000; ngoài ra còn 02 trụ cổng, cánh cổng lắp năm 2022
nhưng các đương sự không đề nghị định giá tài sản.
* Ngày 22/5/2025, ông Nguyễn Văn D nộp đơn yêu cầu phản tố đề nghị Tòa
án giải quyết buộc ông Trần Văn B phải trả lại cho ông Nguyễn Văn D 01 giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số N 816077 ngày 03/9/1999.
* Ngày 04 tháng 6 năm 2025, Tòa án tiến hành mphiên họp về kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng các đương sự không
thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
* Ngày 04 tháng 6 năm 2025, ông Nguyễn Văn D m đơn đề ngh giám
định ch ký, chữ viết của ông Nguyễn Văn D bà Phạm Thị T3 tại Biên nhn vay
tin ngày 30 tháng 7 năm 2012; Giy nhn tiền ngày 12 tháng 6 năm 2013; Biên nhn
vay tin ngày 28 tháng 02 m 2011 Bn nhn vay tin ngày 30 tháng 12 năm 2011.
* Tại Kết luận giám định số 1194/KL-KTHS ngày 20/6/2025 của Phòng kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang đã kết luận:
“1. Chdạng chữ viết, chữ viết có nội dung Dân- Nguyễn Văn D” dưới
mục Chồng” trên c tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2) so với chữ ký, chữ
viết mang tên Nguyễn Văn D trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M5) do
cùng một người ký, viết ra”.
9
2. Chữ ký dạng chữ viết, chữ viết có nội dung T3- Phạm Thị T3dưới mục
“Vợ”, “Người nhận” trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A4) so với chữ
ký, chữ viết mang tên Phạm Thị T3 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M6, M7, M8)
do cùng một người ký, viết ra”.
Với nội dung trên, bản án dân sự thẩm số 49/2025/DS-ST 11/9/2025 của
Toà án nhân dân khu vực 4 –Bắc Ninh đã quyết định:
Căn c: Điu 463, khon 1 Điu 466; Điu 468 và Điu 469, Điu 615 B
lut dân s; Điu 26, Điu 35, Điu 39, Điu 227, Điu 228, khon 1 Điu 147,
Điu 150, Điu 271 và Điu 273 B lut t tng dân s;
Đim đ khon 1 Điu 12, Điu 26 và Điu 27 ca Ngh quyết s
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ca y ban thường v Quc hi, quy định
v mc thu, min, gim, thu, np, qun lý và s dng án phí, l phí Tòa án, Xử:
1. Chp nhn toàn b yêu cu khi kin ca ông Trần Văn B:
+ Buc ông Nguyễn Văn D phi tr cho mt mình ông Trần Văn B tng s
tin là 37.768.500 đồng.
+ Buc nhng người là hàng tha kế th nht ca bà Phm Th T3 gm ông
Phm Văn T, ông Nguyễn Văn D, ch Nguyn Th O và ch Nguyễn Thị L có trách
nhim thc hin nghĩa v v tài sn ca người chết để li.
C th buc ông Phm Văn T, ông Nguyễn n D, ch Nguyn Th O và ch
Nguyễn Thị L, mi người phi tr cho ông Trần Văn B s tin là 37.300.450 đồng.
2. Đình ch yêu cu phn t ca ông Nguyễn Văn D đối vi ông Trần n B
v vic buc ông Trần n B phi tr li cho ông Nguyễn Văn D 01 giy chng
nhn quyn s dng đất s N 816077 ngày 03/9/1999.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo, quyền
thi hành án đối với các đương sự.
Sau khi xét x thẩm, ngày 23/9/2025, bị đơn ông Nguyễn Văn D, chị
Nguyễn Thị L kháng cáo đề nghị sửa một phần bản án dân sự thẩm s
49/2025/DS-ST 11/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 4 Bắc Ninh; Xem xét,
xác định lại tính xác thực của Giấy biên nhận vay tiền ngày 03/7/2012 Giấy
nhận tiền ngày 12/6/2013, làm việc Phạm Thị T3 thực sự vay số tiền
40.000.000 đồng ngày 03/7/2012 nhận số tiền 65.000.000 đồng ngày 12/6/2013
từ ộng Trần Văn B hay không; Xác định phần di sản của T3 để lại đối với quyền
sử dụng đất tại thửa đất diện tích 475m2 đã được UBND huyện Lục Nam cấp
lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 103025 ngày 18/6/2010 đối với thửa
đất số 135, tờ bản đồ số 49 mang tên ông Nguyễn Văn D Phạm Thị T3; Xác
định lại giá trị di sản thực tế của Phạm Thị T3 sau khi đã khấu trừ các khoản
viện phí, chi phí hợp cho việc mai táng và các khoản nnhững người thừa
kế của T3 đã thanh toán thay cho T3. Đối với phần di sản của T3 sau khi
trừ đi các khoản chi phí hợp trên, còn lại bao nhiều sẽ được thanh toán cho
khoản nợ của nguyên đơn (ông Trân Văn Bộ).
10
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị
đơn vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với
nhau về việc giải quyết vụ án.
Ông Giang đại diện theo y quyền của bị đơn trình bày: B đơn kháng cáo 1
phn bn án sơ thm, đề ngh Tòa án cp phúc thm sa bn án sơ thm, xem xét
li tính xác thc ca giy vay tin 40.000.000 và 65.000.000đ, xác định li phn di
sn do người chết để li đối vi tha đất, xác định li giá tr di sn ca bà T3 sau
khi tr các khon chi phí hp lý. Tòa sơ thẩm ch căn c vào giy biên nhn tin để
kết lun bà T3 có vay tin ca ông B. Tuy nhiên c thành viên trong gia đình
T3 không biết và không được bà T3 thông báo vic này. Trên giy vay tin năm
2012, 2013 là ch ký ca bà T3 nhưng ni dung không đúng thc tế. Bà T3 ch làm
nông không có mi quan h để xin vic cho ông B. Toà thẩm xác định di sn
ca bà T3 để li là ½ quyn s dng đất là không đúng, tha đất này đực cp ln
đầu cho h gia đình (thi đim đó 5 thành viên) do đó đây là quyn s dng
chung ca c h gia đình. Vic toà án sơ thẩm xác định tng giá tr tài sn bà T3 để
li là 435.000.000đ là chưa hp lý, cần khấu trừ các khoản chi ptheo thứ tưu
tiên thanh toán mà BLDS quyy định.
Nguyên đơn ông Trần Văn B không đồng ý với kháng cáo của bị đơn.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị T2 không đống ý với
kháng cáo của bị đơn.
+ Đại diện VKSND tỉnh Bắc Ninh phát biểu:
V t tng: T khi th lý cho đến khi Ngh án, thm phán, Thư khý và HĐXX
thc hin đầy đủ các trình t, th tc t tng đảm bo quy định ca BLTTDS.
V vic chp hành pháp lut ca người tham gia t tng: Đã thc hin đúng
các quyền, nghĩa v được quy định ti Điu 70, 71, 72, 73 BLTTDS.
V ni dung: Đề ngh HĐXX áp dụng khon 01 Điu 308 B lut t tng dân
s, x: Không chp nhn kháng cáo ca ông D, chị L, gi nguyên bn án sơ thm
số 49/2025/DS-ST 11/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 4 –Bắc Ninh.
Án phí DSPT: Ông Nguyễn Văn D phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Ông Nguyễn Văn D, chị Nguyễn Thị L kháng cáo trong thời hạn luật
định nên xác định kháng cáo là hợp lệ.
[1.2] Ông Phạm Văn T, chị Nguyễn Thị O đã được triệu tập hợp lệ nhưng
vắng mt. Tòa án xét xvắng mặt ông T, chị O đảm bảo quy định tại Điều 296
của Bộ luật Tố tụng dân sự.
11
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn D, chị Nguyễn Thị L, Hội
đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Xét yêu cầu của ông Nguyễn Văn Bộ về việc buộc ông Nguyễn Văn D
phải trả cho ông số tiền nợ gốc là 21.500.000 đồng và lãi suất 0,75% kể từ ngày
01/01/2012 đến hết ngày 30/8/2025 buộc hàng thừa kế thứ nhất của T3 gồm
cụ Phạm Văn T, ông Nguyễn Văn D, chị Nguyễn Thị O chị Nguyễn Thị L phải
cùng trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ về tài sản T3 để lại đó trả lại cho
ông tổng số tiền nợ gốc là 126.500.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy:
[2.2.1] Căn cứ khởi kiện của nguyên đơn bản gốc Biên nhận vay tiền ngày
28/2/2011, ngày 30/12/2011, Biên nhận vay tiền ngày 30/7/2012, Giấy nhận tiền
ngày 12/6/2013 đã xuất trình cho Tòa án. Quá trình giải quyết vụ án, ban đầu ông
D xác nhận chữ ký, chữ viết của ông tại 02 giấy Biên nhận vay tiền ngày
28/02/2011 và ngày 30/12/2011 là đúng chữ ký, chữ viết của ông, còn chữ ký, chữ
viết của T3 tại 04 giấy còn lại là không đúng. Sau đó ông D thay đổi lời khai và
cho rằng tất cả chữ ký, chviết của ông T3 tại 04 Giấy biên nhận đó đều
không đúng ông đã yêu cầu Tòa án cho giám đnh giám định chữ ký, chữ viết
của ông T3 tại 04 Giấy biên nhận ông B cung cấp. Tại Kết luận giám
định số 1194/KL-KTHS ngày 20/6/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh
Bắc Giang đã kết luận:
+ Chữ dạng chữ viết, chữ viết nội dung “Dân- Nguyễn Văn D” dưới
mục “Chồng” tại Biên nhận vay tiền ngày 28/02/2011 ngày 30/12/2011 so với
mẫu chữ viết mẫu cần so sánh là do cùng một người ký, viết ra”.
+ Chữ ký dạng chữ viết, chữ viết có nội dung T3- Phạm Thị T3dưới mục
“Vợ”, “Người nhận” tại Biên nhận vay tiền các ngày 28/02/2011, ngày 30/12/2011,
ngày 03/7/2012 và Giấy nhận tiền ngày 12/6/2013 so với mẫu chữ viết mẫu cần so
sánh là do cùng một người ký, viết ra”.
Như vậy, căn cứ xác định ông Nguyễn Văn D Phạm Thị T3 là
người trc tiếp viết và ký vào Biên nhận vay tiền các ngày 28/02/2011, ngày
30/12/2011 Phạm Thị T3 người trực tiếp vào Biên nhận vay tiền ngày
30/7/2012, Giấy nhận tiền ngày 12/6/2013. Mc dù ông D xác nhận chỉ vay của
ông B 15.000.000 đồng theo Biên nhận vay tiền ngày 28/02/2011 nhưng không
đưa ra được tài liu chng c nào chng minh cũng như không có tài liu chng c
chng minh ông b cưỡng ép, la di khi ký kết Biên nhận vay tiền ngày
30/12/2011. Do đó, n c xác định: gia ông Nguyễn Văn Bộ và ông Nguyễn
Văn D, Phạm Thị T3 xác lập hp đồng vay tài sn ngày 28/02/2011, số tiền
vay 15.000.000đ và hợp đồng vay tài sản ngày 30/12/2011, s tin vay là
28.000.000đ; giữa ông Nguyễn Văn Bộ, Phạm Thị T3 xác lập hợp đồng vay
tài sản ngày 30/7/2012 ngày 12/6/2013. Xét thấy, khi ký giy vay tin các bên
đều có đủ năng lc pháp lut dân s và năng lc hành vi dân s. Ni dung giy vay
tin không trái pháp lut và đạo đức xã hi. Theo ni dung ca giy vay tin này
do các bên xác lp th hin thì đây là khon vay không k hn được quy định ti
Điu 478 B lut Dân s 2005.
[2.2.2] V vic thc hin nghĩa v tr n:
12
Đối với Biên nhận vay tiền các ngày 28/02/2011, ngày 30/12/2011 do ông
Nguyễn Văn D, Phạm Thị T3 cùng trực tiếp nên xác định đây là khoản nợ
chung của ông D T3. Ông B xác định ông D, T3 chưa thc hin nghĩa v
tr n. Phía ông D không xuất trình được các tài liu, chng c chng minh cho
vic đã tr n cho ông B theo các giy vay tin trên. Do đó ,Hi đồng xét x xác
định ông Nguyễn Văn D, Phạm Thị T3 đã vi phm nghĩa v tr n theo tha
thun trong hp đồng, vi phm nghĩa v tr tin theo quy định ti Điu 474 B lut
dân s năm 2005. Khon tin ông B cho vay, ông B vợ là bà Nguyễn Thị T2
xác định là tin riêng ca ông B cho ông D, T3 vay, đến nay bà không có yêu
cu gì. Do vy Tòa án cp sơ thm buc ông Nguyễn Văn D phi có trách nhim
tr cho Nguyn Văn Bộ ½ s tin gc còn n của khoản vay ngày ngày
28/02/2011, ngày 30/12/2011 cụ thể 21.500.000 đồng là có căn c phù quy định
ti Điu 471 B lut Dân s năm 2005.
Đối với Biên nhận vay tiền ngày 30/7/2012, Giấy nhận tiền ngày 12/6/2013
do Phạm Thị T3 trực tiếp ký, trong nội dung Giấy vay không thể hiện mục đích
vay, ông D khẳng định không biết việc T3 vay số tiền này, T3 cũng không
mang số tiền nào khác về để chi tiêu sinh hoạt trong gia đình, do đó, xác định đây
là nợ riêng của bà T3.
Năm 2020 T3 chết và không để lại di chúc. Căn cứ các tài liệu trong hồ
sơ vụ án xác định hàng thừa kế thứ nhất của bà Phạm Thị T3 gồm: cụ Phạm Văn T,
ông Nguyễn Văn D, chị Nguyễn Thị O chị Nguyễn Thị L. Tòa án đã tiến hành
xác minh tài sản của T3 t thấy: Phạm Thị T3 ông Nguyễn Văn D đã
được UBND huyện Lục Nam cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB
103025 ngày 18/6/2020 đối với thửa đất số 135, tờ bản đồ số 49, địa chỉ tại tổ dân
phố N, thị trấn ĐN, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (nay thôn N, Lục Nam,
tỉnh Bắc Ninh). Ông D chị L xác định thửa đất này được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất lần đầu năm 2000 cho hộ gia đình ông Nguyễn Văn D gồm 5
thành viên, do đó, T3 chỉ 1/5 quyền sử dụng đất. Xét thấy, căn cứ vào tài
liệu, chứng cứ trong hthể hiện năm 2020, ông D, T3 người thực hiện thủ
tục cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 135, tbản
đồ số 49, địa chỉ tại tdân phố N, thị trấn ĐN, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
(nay thôn N, Lục Nam, tỉnh Bắc Ninh) mang tên ông Nguyễn Văn D
Phạm Thị T3. Ông D, T3 sử dụng ổn định từ đó đến nay, không ai có ý kiến gì.
Hiện nay Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này vẫn đang giá trị pháp lý. Do
đó, xác định thửa đất số 135, tbản đồ số 49 diện tích 475m
2
là tài sản chung
của ông D và bà T3 được hình thành trong thời kỳ hôn nhân và di sản của bà T3 để
lại là ½ quyền sử dụng đất tại thửa đất diện ch 475m
2
(trong đó: đất
97,5m
2
, đất vườn là 377,5m
2
). Đối với tài sản gắn liền với đất là 01 ngôi nhà cấp 3,
loại 2 dạng mái Nhật diện tích 142m
2
, xây dựng năm 2022; 01 sân lát gạch đá
13
nem, lát năm 2022 diện tích 90m
2
; ngoài ra còn 02 trụ cổng, cánh cổng lắp năm
2022 được hình thành sau khi T3 chết nên không phải là di sản của bà T3.
Căn cứ kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ định gtài sản ngày 14/5/2025
xác định di sản của T3 chết để lại tổng giá trị 435.625.000 đồng (Trong
đó: 48,75m
2
đất ở x 7.000.000 đồng/m
2
= 341.250.000 đồng và 188,75m
2
đất vườn
x 500.000 đồng/m
2
= 94.375.000 đồng).
Hiện tại, toàn bộ di sản của T3 để lại do ông Nguyễn Văn D đang trực tiếp
quản lý. Di sản này chưa được hàng thừa kế thứ nhất của T3 gồm cụ Phạm n
T, ông Nguyễn Văn D, chị Nguyễn Thị O chị Nguyễn Thị L thoả thuận phân
chia. Bên cạnh đó cụ T, ông D, chị L chO cũng không tchối nhận di sản của
T3. Trong vụ án này ông B yêu cầu hàng thừa kế thứ nhất phải trả số tiền gốc
T3 vay 126.500.000 đồng (gồm số tiền vay ngày 28/02/2011 ngày
30/12/2011 21.500.000 đồng; số tiền vay ngày 03/7/2012 40.000.000 đồng
số tiền nhận ngày 12/6/2013 65.000.000 đồng). Liên quan đến di sản T3 để
lại như đã định giá 435.625.000 đồng, lớn hơn số tiền T3 vay của ông B.
Trong trường hợp phân chia các hàng thừa kế đều được hưởng số tiền lớn hơn số
tiền phải chịu do ông B yêu cầu. Do vậy, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất
của T3 gồm ông T, ông D, chị O chị L cùng phải trách nhiệm thực hiện
nghĩa vụ về tài sản do T3 đlại phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 615
của Bộ luật Dân sự.
Ông B, chị L kháng cáo đề nghị xác định lại giá trị di sản thực tế của bà Phạm
Thị T3 sau khi đã khấu trừ các khoản viện phí, chi phí hợp lý cho việc mai táng và
các khoản nợ mà những người thừa kế của T3 đã thanh toán thay cho T3,
HĐXX xét thấy, việc chi trả các khoản viện phí, mai táng phí hay các khoản nợ
khác của T3 nghĩa vụ của ông T, ông B, chị L, chị O những người thuộc
hàng thừa kế thứ nhất của T3. Tại cấp thẩm, ông T, ông D, chị O, chị L đều
xác định chưa phân chia di sản thừa kế do T3 để lại cũng không thỏa thuận
nào khác đối với di sản này, do đó, nội dung kháng cáo này của ông B, chị L
không có căn cứ.
Tnhững phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thẩm chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn B, buộc ông Nguyễn Văn D phải
nghĩa vụ trả cho ông B stiền là 21.500.000 đồng buộc những người thừa kế
thứ nhất của bà T3 gồm ông T, ông D, chị O chị L trách nhiệm thực hiện
nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại, cụ thể ông T, ông D, chO chị L phải
trả cho nguyên đơn ông B số tiền 126.500.000 đồng tiền gốc (mỗi người phải trả
31.625.000) là có căn cứ, phù hợp với Điều 466 và Điều 615 của Bộ luật Dân sự.
[2.2] Về lãi suất: Ông Trần Văn B đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông
Nguyễn Văn D hàng thừa kế thứ nhất của bà T3 phải trả i suất theo quy định
của pháp luật thì thấy:
* Đối với số tiền ngốc 15.000.000 đồng ông D T3 vay của ông
B vào ngày 28/02/2011 thì tại giấy biên nhận vay tiền không ghi thời hạn trả tiền,
không ghi thỏa thuận về lãi suất. Nguyên đơn cho rằng khi vay hai bên thỏa thuận
lãi suất 2%/ tháng, bị đơn cho rằng lãi suất 9%/ tháng. Tuy lời khai của các
đương sự smâu thuẫn nhưng đều xác định thỏa thuận về lãi suất. Căn cứ
14
khoản 2 Điều 469 của Bộ luật dân sự xác định đây hợp đồng vay không kỳ hạn
i. Nay, ông Trần Văn B đề nghị tính lãi suất theo quy định của pháp luật,
HĐXX xét thấy: Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân s khoản 1
Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất,
phạt vi phạm thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định
tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự tức 10%/năm (tương ứng 0,83%/tháng,
0,027%/ngày) của khoản tiền vay. Xét thấy mức lãi suất này thấp hơn mức lãi suất
các bên trình bày, lợi cho phía bị đơn nên chấp nhận yêu cầu tính lãi suất
ông B. Ông B xác định ông D, bà T3 chưa trả cho ông khoản tiền lãi nào, phía ông
D cũng không tài liệu, chứng cứ chứng minh đã trả tiền lãi cho ông B nên cần
buộc ông D T3 phải trả tiền lãi cho ông B nsau: Lãi suất tính từ ngày
28/02/2011 đến ngày xét xử thẩm 11/9/2025 14 năm 06 tháng 13 ngày,
mức lãi suất là 10%/năm.
Số tiền lãi cụ thể như sau: 15.000.000 đồng x 10%/ năm x 14 năm 06 tháng
13 ngày = 21.808.000 đồng.
Do số tiền nợ gốc 15.000.000 đồng nchung của ông D T3 nên ông
D phải chịu ½ số tiền lãi là 10.902.000 đồng.
* Đối với số tiền ngốc 28.000.000 đồng ông D T3 vay của ông
B vào ngày 30/12/2011 thì tại giấy biên nhận vay tiền không ghi thời hạn trả tiền,
không ghi thỏa thuận về lãi suất. Nguyên đơn cho rằng khi vay hai bên thỏa thuận
lãi suất 2%/ tháng, bị đơn không thừa nhận. Nguyên đơn không xuất trình được
tài liệu, chứng cứ nào chứng minh hai bên có thỏa thuận lãi suất vay. Căn cứ khoản
1 Điều 469 của Bộ luật dân sự xác định đây hợp đồng vay không kỳ hạn
không lãi. Do ông D T3 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ông B khởi kiện.
Nên ông D và bà T3 phải trả lãi cho ông B kể từ ngày ông B nộp đơn khởi kiện lần
đầu là 12/11/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm.
Từ những nhận định nêu trên, chấp nhận yêu cầu tính lãi suất ông B, buộc
ông D T3 phải trả tiền lãi cho ông B như sau: Lãi suất tính từ ngày
12/11/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm là 11/9/2025 là 03 năm 10 tháng, mức lãi suất
là 10%/năm (tương ứng 0,83%/tháng).
Số tiền lãi cụ thể như sau: 28.000.000 đồng x 10%/ năm x 03 năm 10 tháng =
10.733.000 đồng.
Do số tiền nợ gốc 28.000.000 đồng nợ chung của ông D và T3 nên ông
D phải chịu ½ số tiền lãi là 5.366.500 đồng.
* Đối với số tiền nợ gốc 40.000.000 đồng bà T3 vay của ông B vào
ngày 30/7/2012 thì tại giấy biên nhận vay tiền không ghi thời hạn trả tiền, không
ghi thỏa thuận về lãi suất. Nguyên đơn cho rằng khi vay hai bên thỏa thuận lãi suất
2%/ tháng, bị đơn không thừa nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 469 của Bộ luật dân
sự xác định đây hợp đồng vay không kỳ hạn không lãi. Do T3 vi phạm
nghĩa vụ trả nợ nên ông B khởi kiện. Nên T3 phải trả lãi cho ông B kể từ ngày
ông B nộp đơn khởi kiện lần hai là 02/02/2024 (lần đầu khởi kiện ông B không yêu
cầu giải quyết đối với số tiền gốc là 40.000.000 đồng) đến ngày xét xử sơ thẩm.
Từ những nhận định nêu trên, chấp nhận yêu cầu tính lãi suất ông B, buộc bà
T3 phải trả tiền lãi cho ông B như sau: Lãi suất tính từ ngày 02/02/2024 đến ngày
15
xét xử thẩm là 11/9/2025 01 năm 07 tháng 09 ngày, mức lãi suất 10%/năm
(tương ứng 0,83%/tháng, 0,027%/ngày).
Số tiền lãi cụ thể như sau: 40.000.000 đồng x 10%/ năm x 01 năm 07 tháng
09 ngày = 6.433.300 đồng.
* Như nhận định phần [2.1] thì cụ Phạm Văn T, ông Nguyễn Văn D, chị
Nguyễn Thị O chNguyễn Thị L phải trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ về tài
sản của người chết là bà T3 để lại nên cụ T, ông D, chO chị L phải chịu số tiền
lãi là 10.902.000 đồng + 5.366.500 đồng + 6.433.300 đồng = 22.701.800 đồng.
* Đối với số tiền 65.000.000 đồng ông B đưa cho T3 để xin việc cho ông
B không phải T3 vay của ông B, vậy ông B không yêu cầu lãi suất. Xét
thy: Vic ông B không đề ngh gii quyết lãi suất đối vi s tin 65.000.000 đồng
là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Như vậy, tổng cộng số tiền ông Nguyễn Văn D phải trả cho ông Trần
Văn B là: 21.500.000 đồng tiền nợ gốc + 16.268.500 đồng tiền lãi suất =
37.768.500 đồng.
Tổng cộng số tiền những người thừa kế thứ nhất của T3 gồm ông T, ông
D, chị O chị L trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết (bà
T3) để lại là: 126.500.000 đồng tiền nợ gốc + 22.701.800 đồng tiền lãi =
149.901.950 đồng (mỗi người phải trả 37.300.450 đồng).
Tại phiên tòa phúc thẩm, phía bị đơn không cung cấp thêm được tài liệu,
chứng cứ nào khác để chứng minh cho kháng cáo của mình. Do đó, không chấp
nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn D chị Nguyễn ThL, gi nguyên
bản án dân sự sơ thẩm số 49/2025/DS-ST 11/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực
4 –Bắc Ninh.
[3] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông
Nguyễn Văn D, chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị, Hội
đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận
kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn D chị Nguyễn Thị L, giữ nguyên bản án
dân sự thẩm số 49/2025/DS-ST 11/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 4 –Bắc
Ninh.
2. V án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Ông Nguyễn Văn D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng
được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp tại
Biên lai số 0000975 ngày 02/10/2025 của Thi hành án tỉnh Bắc Ninh. Xác nhận
ông D đã nộp xong tiền án phí dân sự phúc thẩm.
16
Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng
được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp tại
Biên lai số 0000974 ngày 02/10/2025 của Thi hành án tỉnh Bắc Ninh. Xác nhận chị
L đã nộp xong tiền án phí dân sự phúc thẩm.
3. Bn án phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Bắc Ninh;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND khu vực 4-Bắc Ninh;
- THADS tỉnh Bắc Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu HS
Nguyễn Ngọc Chung
Tải về
Bản án số 64/2026/DS-PT Bản án số 64/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 64/2026/DS-PT Bản án số 64/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất