Bản án số 58/2026/HS-PT ngày 21/05/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 58/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 58/2026/HS-PT ngày 21/05/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thái Nguyên
Số hiệu: 58/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/05/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Nguyễn Viết T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN
Bản án số: 58/2026/HSPT
Ngày: 21 - 5 - 2026
CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
ỚC CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ích Yên
Các Thẩm phán: Ông Đặng Minh Tuân và bà Thị An
- Thư ký phiên tòa: Hoàng Thị Mai Loan, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái
Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa:
Dương Thị Thu Hiền, Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét x
phúc thẩm công khai ván hình sự thlý số: 32/2026/TLPT-HS ngày 04 tháng 3 năm
2026, do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Viết T đối với bản án hình sự thẩm số
14/2026/HSST ngày 29/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thái Nguyên.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: NGUYỄN VIẾT T, sinh ngày 18/8/1986 tại: Thái Nguyên; Nơi thường
trú: Tổ dân phố T, phường V, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn
hoá (học vấn): lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch:
Việt Nam. Con ông Nguyễn Viết D (đã chết) và Nguyễn Thị V; Vợ: Dương Thu H;
Có một con sinh năm 2012.
- Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tngày 09/5/2025 đến nay, hiện bcáo đang bị
tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh T . (Có mặt tại phiên tòa)
Bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng nghị:
1. Nguyễn Quang T1, sinh năm 1990; Nơi trú: Tổ dân phố T,
phường V, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt)
2. Nguyễn Văn T2, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường
V, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt)
Người làm chứng:
Anh Dương Việt H1, sinh năm 1984; Tti: Xóm K, P, tỉnh Thái Nguyên. (Có
mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 00 gi30 phút ngày 09/5/2025, tổ công tác của ng an phường Đ, thành phố
P, tỉnh Thái Nguyên phát hiện tại nhà ca Nguyễn Viết T, địa chỉ ti tổ dân phố T,
phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (nay tổ dân phố T, phường V, tỉnh Thái
Nguyên) có các đối tượng có biểu hiện nghi vấn t chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Tổ công tác tiến hành kiểm tra thì phát hiện tại phòng ngủ đang 03 đối tượng ở trong
phòng, gồm: Nguyễn Quang T1, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Viết T. Các đối tượng khai
nhận vừa sử dụng ma túy tại chỗ của T xong thì bị quan Công an phát hiện. Sau
đó Nguyễn Quang T1, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Viết T đã tgiác lấy ttrong phòng
ngcủa T các công cụ, đồ vật các đối tượng dùng để sử dụng ma túy, gồm: 01 (một) túi
nilon trong suốt, bên trong có bám dính chất bt dạng tinh thể, trên miệng túi đường
kẻ màu xanh (niêm phong ký hiệu A); 01 (một) chai nhựa màu đỏ gắn 01 (một) ổng hút
màu trắng và 01 (một) ống hút màu xanh, 01 (một) bật lửa màu đỏ, 01 (một) mảnh giấy
màu trắng ánh kim, đã qua sdụng (toàn bộ niêm phong hiệu B). Tổ công tác đã
tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và đưa các
đối tượng cùng toàn bộ vật chứng về quan Công an để làm việc. Cùng ngày, Công
an phường Đ đã chuyển hồ sơ, đối tượng, vật chứng của ván tới quan Cảnh sát
điều tra Công an tỉnh T để giải quyết theo quy định.
Từ 00 giờ 35 phút đến 00 giờ 56 phút ngày 09/5/2025, Công an phường Đ, thành
phP đã phối hợp với Trạm y tế phường Đ, thành phố P tiến hành test nhanh xét nghiệm
ớc tiểu tìm chất ma túy đối với Nguyễn Quang T1, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Viết
T. Kết quả: Nguyễn Quang T1 dương tính với chất ma túy loại MET, MDMA; Nguyễn
Văn T2, Nguyễn Viết T dương tính với chất ma túy loại MET.
Tại bản Kết luận giám định số 490/KL-KTHS ngày 26/6/2025 ca Phòng K Công
an tỉnh T kết luận: 01 (một) túi nilon màu trong suốt, trên miệng túi đường kẻ màu
xanh trong niêm phong hiệu A gửi giám định có bám dính chất ma túy, loại
Methamphetamine; 01 (một) chai nhựa màu đỏ gắn 01 (một) ống hút màu trắng và 01
(một) ống hút màu xanh trong niêm phong hiệu B gửi giám định bám dính chất
ma túy, loại Methamphetamine. Không tìm thấy chất ma túy loại Heroine,
Methamphetamine, MDMA, Ketamine bám dính trên 01 (một) mảnh giấy màu trắng
ánh kim, đã qua sử dụng 01 (một) bật lửa màu đỏ trong bì niêm phong ký hiệu B gi
giám định. Do chất ma túy Methamphetamine bám dính trên mẫu vật gửi giám định
dạng vi vết, bám dính lượng ma túy rất nhỏ, dưới giới hạn định lượng ca phương pháp
phân tích, vì vậy không xác định được khối lượng Methamphetamine bám dính trên
các mẫu vật gửi giám định.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 19 giờ ngày 08/5/2025, Nguyễn Văn T2 gặp
Nguyễn Quang T1 tại quán B thuộc tổ dân phố V, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái
Nguyên (nay là tổ dân phố V, phường V, tỉnh Thái Nguyên). Tại đây Văn T2 rủ Quang
T1 cùng nhau mua ma túy dạng "đá" và "hồng phiến" về sử dụng thì Quang T1 đồng ý.
Sau đó Quang T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SYM Angel BKS: 20H6-3725 đi mua
ma túy còn Văn T2 vẫn ngồi ở quán B. Trên đường đi, do thiếu tiền nên Quang T1 gọi
điện thoại cho Văn T2 bảo Văn T2 góp tiền để mua ma túy, Văn T2 đồng ý rồi sử dụng
tài khoản Ngân hàng T3 của mình chuyển khoản số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn
đồng) vào tài khoản Ngân hàng V1 của Quang T1 đgóp tiền mua ma túy. Sau khi nhn
được tiền Văn T2 chuyển khoản cho mình, Quang T1 đi rút tổng số tiền 300.000 đng
(ba trăm nghìn đồng) gồm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) của Văn T2 vừa chuyển
khoản và 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) của Quang T1 rồi đi đến cổng khu dân
T thuộc phường T, thành ph P, tỉnh Thái Nguyên (nay phường V, tỉnh Thái
Nguyên) để mua ma túy. Tại đây, Quang T1 mua ma túy dạng "đá" "hồng phiến"
được đựng trong 01 túi nilon trong suốt của một người nam giới tên là H2 (không rõ họ
tên, địa chỉ cụ thể) với giá 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma
túy, Quang T1 điều khiển xe mô tô quay lại quán B rồi rủ Văn T2 vào nhà của Nguyn
Viết T để cùng sử dụng ma túy thì Văn T2 đồng ý. Quang T1 điều khiển xe mô tô chở
Văn T2 đến nhà của T tthấy cửa nhà không khóa, cả hai cùng đi vào trong nhà thì
thy T không nhà. Một lúc sau T đi uống rượu bia về nvà đi thẳng vào trong phòng
ngủ rồi nằm trên giường xem điện thoại. Lúc này, Quang T1 và Văn T2 cùng đi vào
phòng ngủ của T, sau đó Quang T1 lấy giấy bạc, bật lửa, chai nhựa cắm ống hút tại
phòng ngủ của T đặt lên giường. Quang T1 lấy gói ma túy tổng hợp vừa mua được ra
đổ hết ma túy lên giấy bạc, dùng bật lửa châm lửa đốt ma túy trên giấy bạc được gn
trên một đầu ống hút của chai nhựa rồi cầm đầu ống hút còn lại hút ma túy qua miệng
vào thể. Sau khi Quang T1 sử dụng ma túy xong thì Văn T2 cũng sử dụng ma túy
với cách thức tương tự. Sau đó Quang T1 gọi T ngồi dậy ri đưa cho T một đu ống hút
và bảo T sử dụng ma túy thì T đồng ý. T cầm một đầu ng hút còn Quang T1 châm bt
lửa đốt ma túy trên giấy bạc gắn trên một đầu ống hút của chai nhựa cho T sử dụng ma
túy hút vào thể. Sau khi sdụng ma túy xong, T tiếp tục nằm xuống giường xem
điện thoại nhưng không ngủ. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, Dương Việt H1
(sinh năm 1984; ttại: xóm K, xã P, tỉnh Thái Nguyên) gọi điện thoại cho Quang T1
thì Quang T1 đưa máy cho Văn T2 nghe, Văn T2 rủ H1 đến nhà T để sử dụng ma túy,
H1 đồng ý. Khoảng 20 phút sau, H1 đến nhà T, Quang T1 ra mở cửa cho H1 rồi cả hai
đi vào trong phòng ngủ của T. Tại đây H1, Quang T1, Văn T2 tự đốt ma túy rồi sử dng
bằng cách thức hút vào cơ thể. Lúc này, Quang T1 gọi T ngồi dậy rồi Quang T1 đưa
ống hút cho T và dùng bật lửa đốt ma túy trên giấy bạc để T hút ma túy vào cơ thể. Q
trình Quang T1, Văn T2 và H1 sử dụng ma túy thì T nằm ở giường cách các đối tượng
sử dụng ma túy khoảng 30cm, mặt quay về ng các đối tượng. Bản thân T nhìn thấy
các đối tượng sử dụng ma túy tại nhà của mình nhưng T để mặc cho các đối tượng sử
dụng và không có ý kiến gì. Đến khoảng hơn 22 giờ cùng ngày thì H1 đi về trước còn
Quang T1, Văn T2 và T vẫn tiếp tực sử dụng ma túy tại phòng ngủ của T. Đến khoảng
00 giờ 30 phút ngày 09/5/2025 khi Quang T1, Văn T2 và T sử dụng hết số ma túy trên
thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên.
Quá trình điều tra tngày 09/5/2025 đến ngày 12/10/2025 T khai nhận hành vi
phạm tội: T trực tiếp nhìn thy Quang T1, Văn T2 H1 sử dụng ma túy tại nhà của
mình nhưng bỏ mặc và cùng tham gia sử dụng ma túy cùng Quang T1, Văn T2 và H1,
nhưng sau này T thay đổi lời khai, không thừa nhận hành vi phạm tội. T cho rằng: Do
say rượu nên T nằm ngủ trên giường, khi Quang T1 gọi T dậy đưa ống hút cho T bảo
T "hút đi", rồi Quang T1 dùng bật lửa châm dưới giấy bạc cho T, thì T ngậm một đầu
ống hút để hút ma túy vào trong thể. Sau khi hút xong, T lại nằm ngủ tiếp nên không
biết các đối tượng làm nhà của T, không nhìn thấy các đối tượng sử dụng ma túy.
Tuy nhiên, căn cứ vào biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, kết
quxét nghiệm ma túy và lời khai của Nguyễn Quang T1, Nguyễn Văn T2, ơng Việt
H1 cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ vụ án đủ cơ sở xác định Nguyễn Viết T
hành vi "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy" quy định tại khoản 2 Điều
256 Bộ luật Hình sự.
Vật chứng của vụ án: 01 (một) niêm phong ký hiệu A bên trong cha 01 (một) túi
nilon trong suốt, trên miệng túi đường kẻ màu xanh; 01 (một) niêm phong hiệu
PS2, số 23017500 bên trong chứa: 01 (một) chai nhựa đỏ gắn 01 (một) ống hút màu
trắng, 01 (một) ống hút màu xanh, 01 (một) mảnh giấy màu trắng ánh kim, đã qua
sử dụng, 01 (một) bật lửa màu đỏ; 01 (một) niêm phong hiệu T2K bên trong chứa
01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu vàng, đã qua sdụng, 2 s
IMEI lần lượt 350141786205946 và 350141786146512, gắn thẻ sim số thuê bao
0328.567.185; 01 (một) niêm phong hiệu T3K bên trong chứa 01 (một) điện thoại
di động nhãn hiệu Redmi 12, vỏ màu đen, đã qua sử dụng, 2 số IMEI lần lượt
861209067903224 861209067903232, gắn thẻ sim số thuê bao 0344.701.608; 01
(một) niêm phong ký hiệu “THÀNH” bên trong chứa 01 (một) điện thoại di động nhãn
hiệu Iphone, vỏ màu vàng, đã qua sử dụng, 2 số IMEI lần lượt là 353892108811860
và 353892109300569; 01 (một) xe mônhãn hiệu SYM Angel, BKS: 20H6-3725; số
máy: VMEVA20238097, số khung: 013ME- 038097. Toàn bộ số vật chứng nêu trên
được chuyển đến kho vật chứng của Phòng Thi hành án dân skhu vực 2 - Thái Nguyên
chờ xử lý.
Tại bản án hình sự thẩm số 14/2026/HSST ngày 29/01/2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 2 - Thái Nguyên đã căn cứ đim d khoản 2 Điều 256; Điều 38 của Bộ lut
Hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết T 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù vtội “Chứa chấp
việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 09/5/2025.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo khác; xử lý
vật chứng; án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 05/02/2026 bị cáo Nguyễn Viết T kháng cáo kêu oan.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bcáo giữ nguyên nội dung kháng cáo. Bị cáo khai b
cáo trước đó bị cáo chưa lần nào sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo không biết việc
các đối tượng Văn T2, Quang T1 và H1 đến nhà bị cáo, nhà của bị cáo chỉ để bị cáo ở,
không sử dụng để chứa chấp người khác đến để sử dụng trái phép ma túy và cho rằng
những người kia lợi dụng việc bị cáo sống một mình nên đến nhà bị cáo để lôi kéo bị
cáo sử dụng trái phép ma túy.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên sau khi phân tích, đánh giá toàn
bộ nội dung vụ án các tài liệu trong hồ vụ án, xem xét toàn diện nội dung kháng
cáo, tính chất mức độ hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự của bị cáo, khẳng định Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Viết T
về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chma túy” theo quy định tại điểm d khoản
2 Điều 256 Bộ luật hình sự căn cứ, không oan. Đnghị Hội đồng xét xcăn cứ
điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng
cáo của bị cáo Nguyễn Viết T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo tranh luận: Bị cáo không đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát
cho rằng bị cáo có hành vi chứa chấp 03 đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy.
Đại diện Viện kiểm sát đối đáp: Theo tinh thần hướng dẫn tại Mục 7.2 Phần II
Thông liên tịch 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007
của Bộ C, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng
dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ lut
hình sự năm 1999 quy định: “Có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái
phép chất ma túy trường hợp hợp người địa điểm thuộc quyền chiếm hữu của
mình hoặc do mình quản lý, biết người khác là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy,
tuy không cho hthuê, mượn, địa điểm nhưng lại đmặc cho họ hai lần sdụng trái
phép chất ma túy trở lên hoặc để mặc cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy”.
Trong vụ án này, bcáo mặc không hành vi rcác bị cáo khác đến nhà để sử
dụng ma y, nhưng khi biết các bị cáo khác sdụng ma túy tại nhà của mình, bcáo
đã để mặc cho nhiều người sdụng ma túy còn cùng sdụng ma túy với họ. Việc
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh trênđúng, không oan. Sau khi đối đáp,
đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung đã đề nghị.
Lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Viết T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại toàn
bộ vụ án, không đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hvụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1]. Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Viết T làm trong hạn luật định đúng theo
thủ tục quy định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Căn cứ lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thẩm,
phúc thẩm, đối chiếu với các tài liệu chứng ckhác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét
xử có đủ căn cứ kết luận:
Ngày 08/5/2025, tại nhà ở của Nguyễn Viết T thuc tổ dân phố T, phường V, tỉnh
Thái Nguyên, Nguyễn Quang T1 và Nguyễn Văn T2 đã có hành vi tổ chức sử dụng trái
phép chất ma túy loại Methamphetamine cho nhiều người cùng sử dụng. Cụ th: Quang
T1Văn T2 đã cùng nhau góp số tiền 300.000 đồng (trong đó Nguyễn Quang T1 góp
100.000 đồng, Nguyễn Văn T2 góp 200.000 đồng) để mua ma túy, sau đó Quang T1
lấy ma túy dụng csử dụng ma túy gồm chai nhựa và ống hút đpha chế ma túy cho
Văn T2, T Dương Việt H1 cùng sử dụng. Quá trình Quang T1, Văn T2 H1 sử
dụng ma tuý tại nhà của T, mặc dù biết các đối tượng sử dụng ma túy nhưng T vẫn để
mặc cho các đối tượng sử dụng ma túy tại nhà của mình. Sau khi các đối tượng sdụng
ma tuý xong đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 09/5/2025 thì bị lực lượng Công an phát
hiện, kiểm tra và thu giữ vật chứng.
[3]. Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Viết T, Hội đng xét xử phúc thẩm thấy
rằng:
[3.1]. Bị cáo Nguyn Viết T kháng cáo kêu oan, cho rằng bị cáo không biết việc
Nguyễn Quang T1 Nguyễn Văn T2 đến nhà bị cáo với mục đích sdụng trái phép
chất ma túy; các đối tượng đã lợi dụng việc bị cáo sống một mình, lợi dụng mối quan
hệ quen biết để tự ý vào nhà, lợi dụng lúc bị cáo say rượu, không tỉnh táo để lôi kéo bị
cáo sdụng ma túy; đồng thời bị cáo cho rằng trong quá trình điều tra bị cáo bị hành
hung, đánh đập, tra tấn nên những lời khai ban đầu của bị cáo không khách quan.
[3.2]. Xét nội dung kháng cáo nêu trên, Hội đồng xét xthấy lời trình bày của bị
cáo không phù hợp với các tài liệu, chứng cđã được thu thập hợp pháp có trong h
vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng công khai tại phiên tòa. Cụ thể: biên bản bắt người
phạm tội quả tang thhiện vào hồi 00 giờ 30 phút ngày 09/5/2025, lực lượng Công an
kiểm tra tại phòng ngủ trong nhà của bị cáo T phát hiện Nguyễn Quang T1, Nguyễn
Văn T2, Nguyễn Viết T đang mặt tại đây thu gi01 túi nilon, 01 chai nhựa gắn
02 ng hút, 01 bật lửa, 01 mảnh giấy ánh kim là những dụng cụ dùng vào việc sử dụng
ma túy; kết quả test nhanh xác định Nguyễn Viết T dương tính với chất ma túy loại
Methamphetamine; kết luận giám định số 490/KL-KTHS ngày 26/6/2025 xác định trên
túi nilon chai nhựa gắn ống hút thu gi tại hiện trường đều bám dính
Methamphetamine. Bên cạnh đó, lời khai của Nguyễn Quang T1, Nguyễn Văn T2,
Dương Việt H1 chính những lời khai ban đầu của bị cáo T trong giai đoạn điều tra
đều phù hợp với nhau vdiễn biến sviệc. Theo quy định tại Điều 108 Bluật Tố tụng
hình sự, chứng cứ phải được kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện; đối chiếu
với quy định này thì các chứng cứ nêu trên có đủ giá trị chứng minh hành vi phạm tội
của bị cáo.
Từ các chứng cđã nêu đủ căn cứ xác định: Tối ngày 08/5/2025, sau khi
Nguyễn Quang T1 và Nguyễn Văn T2 góp tiền mua ma túy mang đến nhà của Nguyn
Viết T, cả hai đã vào phòng ngủ của T để sử dụng ma túy trên giường của T; Quang T1
là người 02 lần đưa ống hút cho T và châm lửa để T hút ma túy; tiếp đó Văn T2 còn rủ
Dương Việt H1 đến nhà của T để tiếp tục cùng sử dụng ma túy. Quá trình các đối tượng
sử dụng ma túy diễn ra trong thời gian dài tại phòng ngủ của T. Sau khi trực tiếp s
dụng ma túy, T nằm trên giường xem điện thoại nhưng không ngủ, nằm cách các đối
ợng sử dụng ma túy khoảng 30 cm, mặt quay về ớng các đối tượng. Như vậy, bị
cáo T không những mặt tại hiện trường còn trực tiếp nhìn thấy, biết hành vi
sử dụng trái phép chất ma túy của Quang T1, Văn T2 H1 đang diễn ra tại nơi thuc
quyền quản lý của mình, xong bị cáo không ngăn cản, không yêu cầu các đối tượng
chấm dứt hoặc rời khỏi nhà, mặc nhiên để cho hành vi đó tiếp diễn đến khi bị phát hiện.
Việc b cáo là chủ nơi ở, biết rõ việc sử dụng trái phép chất ma túy đang diễn ra tại nhà
mình nhưng vẫn để mặc cho các đối tượng tiếp tục sử dụng, về bản chất là đã tạo điều
kiện về địa điểm cho hành vi phạm tội được thực hiện. Do đó, lời trình bày của bị cáo
cho rằng mình không biết, không thấy, không để mặc cho các đối tượng sử dụng ma túy
tại nhà mình là không có căn cứ chấp nhận.
Đối với lời khai của bị cáo cho rằng do say rượu nên không tỉnh táo, không nhận
thức được việc các đối tượng sử dụng ma túy tại nhà mình, Hội đồng xét xử thấy rằng
lời khai này mâu thuẫn với chính diễn biến vụ án bị cáo đã thừa nhận các giai
đoạn trước, mâu thuẫn với kết quả test ma túy xác định bị cáo dương tính với M, đng
thời mâu thuẫn với các tài liệu khác thhiện bị cáo sau khi sdụng ma túy vẫn nằm
xem điện thoại nhưng không ngủ. Mặt khác, việc sử dụng ma túy tại phòng ngủ của bị
cáo không xảy ra tức thời mà diễn ra liên tục trong nhiều giờ, có thêm Dương Việt H1
đến cùng sử dụng, nên không có căn cứ để xác định bị cáotrong tình trạng hoàn toàn
mất khả năng nhận thức, không biết những đang diễn ra tại nmình. vậy, đây
chỉ là lời khai sau này của bị cáo nhằm trốn tránh trách nhiệm hình sự, không đủ cơ sở
để bác bỏ các chứng cứ buc tội khác có trong hồ sơ.
Đối với nội dung bị cáo cho rằng trong quá trình điều tra bị cáo bị hành hung, đánh
đập, tra tấn dẫn đến tinh thần hoảng loạn, Hội đồng xét xthấy: trong suốt quá trình
điều tra, truy tố, xét xthẩm, bị cáo không đơn khiếu nại, tố cáo nào liên quan
đến việc bị bức cung, dùng nhục hình hoặc bị xâm phạm thân thể. Tại các biên bản hỏi
cung bị can bản tự khai ban đầu, bị cáo đều xác nhận việc khai báo là khách quan,
đúng pháp luật, do bị cáo tự nguyện viết không bị ai đánh đập, ép buộc. Tại phiên
tòa phúc thẩm, bị cáo cũng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh
cho nội dung trình bày này. Do đó, không căn cxác định lời khai ban đầu của b
cáo được thu thập trái pháp luật, cũng không có căn cchấp nhận nội dung kháng cáo
theo hướng bị cáo bị ép buộc khai nhận.
[3.3]. Về tội danh, Hội đồng xét xử xét thấy hồ vụ án không thể hin Nguyn
Viết T người khởi xướng việc sử dụng ma túy, không góp tiền mua ma túy, không
trực tiếp đi mua ma túy, không rủ rê thêm người đến cùng sử dụng, không chuẩn bị ma
túy để tchức cho người khác sử dụng. Các hành vi này thuộc về Nguyễn Quang T1
Nguyễn Văn T2, nên việc cấp sơ thẩm xác định hai bị cáo này phạm tội “T chức sử
dụng trái phép chất ma túy” căn cứ. Đối vi Nguyễn Viết T, bcáo chủ nơi ,
biết rõ Quang T1, Văn T2 và H1 sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng ngủ trong nhà
mình, trực tiếp chứng kiến, trực tiếp cùng sử dụng nhưng không ngăn cản, vẫn để mặc
cho việc sử dụng trái phép chất ma túy tiếp diễn. Hành vi đó thuộc trường hợp “có bất
kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại
khoản 1 Điều 256 Bộ luật Hình sự; đồng thời việc chứa chấp đối với Quang T1, Văn
T2 H1 là đối với từ 02 người trở lên nên thuộc trường hợp định khung quy định tại
điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự. Bởi vậy, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyn
Viết T vtội “Chứa chấp việc sdụng trái phép chất ma túy” theo điểm d khoản 2 Điều
256 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3.4]. Về hình phạt, bcáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
theo Điều 52 Bluật Hình sự; đồng thời hồ sơ vụ án không thể hiện bị cáo có tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào theo Điều 51 Bộ luật Hình sự. Cấp sơ thẩm xpht
bị cáo 08 năm 06 tháng tù là nằm trong khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù ca
điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm
của hành vi phạm tội, đủ tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3.5]. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xphúc thẩm đủ căn cứ kết
luận kháng cáo kêu oan của bị cáo Nguyễn Viết T không có căn cchấp nhận. Cần
áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp
nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 14/2026/HSST ngày
29/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thái Nguyên.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5]. Về án phí hình sthẩm: Áp dụng điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình
sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Nguyễn Viết T
phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sthẩm nộp vào Ngân
sách Nhà nước.
[8]. Về án phí hình sphúc thẩm: Căn cNghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vQuốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Viết T phi
chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sphúc thẩm do kháng cáo của bị cáo
không được chấp nhận.
[9]. Đề nghị ca Kiểm sát viên tại phiên tòa căn cnên Hội đồng xét xử chp
nhận.
[10]. Các quyết định khác của Bản án thẩm không kháng cáo, không bị kháng
nghị, Hội đồng xét xkhông xem xét đã hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời
hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về căn cứ, áp dụng pháp luật:
- Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; không chấp nhận
kháng cáo của bị cáo Nguyễn Viết T; Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số
14/2026/HSST ngày 29/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thái Nguyên.
- Điểm d khoản 2 Điều 256; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
2. Về tội danh: Tuyên bố bcáo Nguyễn Viết T phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng
trái phép chất ma túy”.
3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết T 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/5/2025.
4. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình
sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ca Ủy ban thường vụ Quc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án. Buộc bị o Nguyễn Viết T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí
hình sự sơ thẩm nộp vào Ngân sách Nhà nước.
6. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Khoản 2 điều 136 của Bộ luật tố tụng
hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án phí l
phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Viết T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí
hình sự phúc thẩm.
7. Các quyết định khác của bản án thẩm s14/2026/HSST ngày 29/01/2026 ca
Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thái Nguyên có hiệu lực pháp luật ktừ ngày hết thời hn
kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
- TAND KV 2;
- VKSND KV 2;
- THADS KV 2;
- Bị cáo; Người TGTT;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Ích Yên
Tải về
Bản án số 58/2026/HS-PT Bản án số 58/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 58/2026/HS-PT Bản án số 58/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất