Bản án số 699/2026/DS-PT ngày 21/05/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 699/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 699/2026/DS-PT ngày 21/05/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 699/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Cụ Nguyễn Văn N7 (chết năm 1946) và cụ Nguyễn Thị L2 (chết năm 1995) có 08 người con gồm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 699/2026/DS-PT
Ngày 21-5-2026
V/v: “Tranh chấp thừa kế quyền sử
dụng đất, hợp đồng tặng cho quyền
sử dụng đất, văn bản thỏa thuận
nhập tài sản riêng vào tài sản
chung”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
ỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Chiến
Các Thẩm phán:
+ Đinh Thị Ngọc Yến
+ Bà Lê Thị Bích Tuyn.
Thư ký phiên tòa: Ông Mạnh Hùng, Thư Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Trần
Thị Thùy Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 14 21 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh
xét xphúc thẩm công khai vụ án thụ số 83/2025/TLPT-DS ngày 02 tháng 02
năm 2026, về việc về “Tranh chấp thừa kế quyền sử dng đất, hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất, văn bản thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung”.
Do Bản án dân sự thẩm số 110/2025/DS-ST, ngày 04-12-2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực 7 - Tây Ninh có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xsố 365/2026/QĐXX-PT, ngày 16 tháng 4
năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:Nguyễn Thị N, sinh năm 1944 (chết năm 2024)
Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của N: Chị Ngô Nguyễn Hạnh N1,
sinh năm 1983, trú tại: Số E Ấp G, xã Đ, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Huỳnh Quốc H, sinh năm
1979, trú tại: Tổ A, ấp B, xã P, tỉnh Tây Ninh, có mặt.
2. Bị đơn: Nguyễn Thị N2, sinh năm 1940, trú tại: Ấp V, T, tỉnh Tây
Ninh, vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của Nguyễn Thị N2: Chị Nguyễn Thị Hồng
H1, sinh năm 1981, trú tại: Ấp V, xã T, tỉnh Tây Ninh, có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của Nguyễn Thị N2: Luật Ngô
Tn T - Văn phòng L3 -Đoàn Luật sư tỉnh T, có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Nguyễn Thị Hồng H1, sinh năm 1981, có mặt.
2. Anh Huỳnh Văn D, sinh năm 1966, có mặt.
3. Huỳnh Nguyễn Bình M, sinh năm 2008, vắng mặt.
4. Huỳnh Nguyễn Kim N3, sinh năm 2004, vắng mặt.
Cùng trú tại: ấp V, xã T, tỉnh Tây Ninh.
5. Chị Nguyễn Thị Hồng D1, sinh năm 1963, trú tại: Ấp M, xã R, tỉnh Tây
Ninh, có mặt.
6. Bà Hà Thị P, sinh năm 1925; (chết năm 2024)
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời người kế thừa quyền
nghĩa vụ tố tụng của Hà Thị P:
6.1. Anh Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1964, trú tại: Số F ấp B, xã B, Thành ph
Hồ Chí Minh, có mặt.
6.2. Anh Nguyễn Ngọc N4, sinh năm 1952, trú tại: Số B Tổ A ấp B, xã B,
Thành phố Hồ C Minh, có mặt.
6.3. Anh Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1971, trú tại: Ấp B, B, Thành phố Hồ
Chí Minh, có mặt.
6.4. Chị Nguyễn Thị Lệ T2, sinh năm 1955, trú tại: Số B ấp B, B, Thành
phố Hồ Chí Minh, có mặt.
6.5. ChịNguyễn Thị Lệ Thanh, sinh năm 1967, trú tại: 763 p B, B, Thành
phố Hồ Chí Minh, có mặt.
6.6. Anh Nguyễn Ngọc T3, sinh năm 1957, trú tại: Ấp M, C, tỉnh An Giang,
có mặt.
6.7. Anh Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1966, trú tại: Số H ấp B, xã B, Thành phố
Hồ Chí Minh, có mặt.
6.8. Anh Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1950, trú tại: Số F ấp B, xã B, Thành phố
Hồ Chí Minh, có mặt.
6.9. Chị Huỳnh X, sinh năm 1981;
6.10. Chị Nguyễn Thị Nhật N5, sinh năm 1980;
6.11. Chị Nguyễn Ngọc Nguyên T4, sinh năm 1983;
6.12. Anh Nguyễn Ngọc T5, sinh năm 1969;
Cùng trú tại: Ấp B, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
7. Nguyễn Thị T6, sinh năm 1934, trú tại: J (B) S, đường N, phường T,
thành phố Hồ C Minh, vắng mặt.
Người đại diện theo y quyền của Nguyễn Thị T6: Anh Nguyễn Ngọc B,
sinh năm 1975, trú tại: Số B M, phường M, thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
8. Bà Nguyễn Thị D2, sinh năm 1932, trú tại: Ấp A, xã B, Thành phố Hồ Chí
Minh, vắng mặt.
9. Bà Nguyễn Thị T7, sinh năm 1931, trú tại: Ấp V, xã T, tỉnh Tây Ninh, vắng
mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của T7: Anh Thành Đ, sinh năm 1971, trú
tại: Tổ D, ấp V, xã T, tỉnh Tây Ninh, có mặt.
10. Anh Lê Hữu Đ1, sinh năm 1970, có mặt
11. Chị Lê Nguyễn Thị Phương N6, sinh năm 1972, vắng mặt.
12. Chị Lê Nguyễn Thị Phương U, sinh năm 1973, vắng mặt.
Cùng trú tại: Ấp V, xã T, tỉnh Tây Ninh.
13. Anh Lê Hữu T8, sinh năm 1969, trú tại: Số B Đ, phường X, Thành phố Hồ
Chí Minh, vắng mặt.
14. Chi nhánh Trung tâm phát triển quỹ đất khu vực C; Địa chỉ: số A Quốc lộ
E, khu phố H, xã C, tỉnh Tây Ninh.
15. Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoài T9 Chủ tịch Ủy ban nhân
dân xã T, vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Duy L1 Chuyên viên Phòng Kinh
tế Hạ tầng, vắng mặt.
16. Văn phòng C2;
Địa chỉ: Số B đường N, xã C, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Văn Đ2 Trưởng Văn phòng, vắng
mặt.
17. Văn phòng C3;
Địa chỉ: Số B đường N, xã C, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn D3 Trưởng Văn phòng,
vắng mặt.
18. Công ty TNHH S.
Trụ sở: ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh.
Nời đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Cẩm P1 Tổng giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền:
- Ông Nguyễn Thái A1, sinh năm 1987, trú tại: Số A P, phường X, Thành phố
Hồ Chí Minh, vắng mặt.
- Ông Hồ Viết P2, sinh năm 1982, trú tại: Tổ A ấp L, M, tỉnh Tây Ninh,
vắng mặt.
4. Người kháng cáo: Nguyễn Thị N2 bị đơn chị Nguyễn Thị Hồng
H1, anh Huỳnh Văn D là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn, nời kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn, cùng
người đại diện theo ủy quyền thống nhất trình bày:
Cụ Nguyễn Văn N7 (chết năm 1946) và cụ Nguyễn Thị L2 (chết năm 1995)
08 người con gồm: Bà Nguyễn Thị C (chết năm 2017), ông Nguyễn Văn A2 (chết
năm 2010), bà Nguyễn Thị T7, bà Nguyễn Thị D2, Nguyễn Thị T6, Nguyễn
Thị N2, bà Nguyễn Thị C1 ã chết năm 2020), bà Nguyễn Thị N (chết năm 2024).
Khi còn sống cụ N7 cụ L2 tạo lập được phần đất diện tích khoảng
15.621m
2
. Khoảng năm 1990, Nguyễn Thị N2 về Tân Tập sống cùng cụ L2. Năm
1995, cụ L2 chết không để lại di chúc. N2 tự ý kê khai, đăng toàn bộ phần
đất trên mà không thông báo cho các anh chị em trong gia đình biết. Năm 1997
N2 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm các thửa 846, 922, 923,
Tờ bản đồ số 3, đất toạ lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Phần đất này hiện N2 chỉ còn đứng tên thửa số 923, diện tích 223m
2
, đất
thổ. Trước đó, vào khoảng năm 2006, bà N2 đã chuyển cho con gái chị Nguyễn
Thị Hồng H1 3.697m
2
2.585m
2
(chị H1 nhập vào tài sản chung vợ chồng với anh
Huỳnh Văn D), chuyển cho bà Nguyễn Thị C1167m
2
, cho ông Nguyễn Văn B1
(chồng của Nguyễn Thị T6) 195m
2
; bị thu hồi một phần diện tích 9.116m
2
(diện tích thu hồi này bà N2 đã nhận tiền bồi thường).
Chị Ngô Nguyễn Hạnh N1 người con duy nhất của nguyên đơn - Nguyễn
Thị N (chết), chng bà N và bà N đã ly hôn.
Khi khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế theo quy định pháp luật đối
với toàn bộ phần diện tích đất mà bà N2 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất nhà trên đất. Sau đó, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu chia
thừa kế đối với phần quyền sử dụng đất còn lại do chị H1, anh D, bà N2 hiện đứng
tên. Cụ thể nguyên đơn yêu cầu:
- hiệu Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa Nguyễn Thị N2 cho
chị Nguyễn Thị Hồng H1 đối với Thửa đất số 846, diện tích 501m
2
; Thửa đất 922,
diện tích 3.196m
2
, và Thửa đất số 3209 (tách từ thửa 922), diện tích 2.858m
2
, cùng
tờ bản đồ số 3, đất tại ấp V, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
- hiệu thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung vchồng đối với
Thửa đất số 3209 (tách từ thửa 922), diện tích 2.858m
2
, Tờ bản đồ số 3, đất tại ấp
V, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
- Chia di sản thừa kế của c Nguyễn Văn N7 cụ Nguyễn Thị L2 chết để lại,
bao gồm: quyền sử dụng đất Thửa đất số 846, diện tích 501m
2
, Thửa đất số 922,
diện tích 3.196m
2
(do chị Nguyễn Thị Hồng H1 đứng tên quyền sử dụng đất), Thửa
đất số 3209, diện ch 2.858m
2
(do anh Huỳnh Văn D đứng tên quyền sử dng đất),
Thửa đất số 923, diện tích 223m
2
(do bà Nguyễn Thị N2 đứng tên quyền sử dụng
đất). Hiện các thửa đất nêu trên đã được Nhà nước thu hồi, bồi thường theo giá cụ
thể như sau:
1. Thửa đất số 846, diện tích 501m
2
và thửa 922, diện tích 3.196m
2
giá bồi
thường là 7.819.943.000 đồng.
2. Thửa đất 3209, diện tích 2.585m
2
có giá bồi thường là 1.475.595.000 đồng.
3. Thửa đất số 923, diện tích 219m
2
có giá bồi thường là 1.571.982.000 đồng.
Tổng số tiền bồi thường giá trị quyền sử dụng đất do đất bị thu hồi
10.867.520.000 đồng. Do đó, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ xác định
số tiền trên là di sản của cụ Nguyễn Thị L2 và yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật
thành tám phần bằng nhau, nguyên đơn được hưởng một phần tương ứng với số tiền
1.358.440.000 đồng, ngoài ra, không có yêu cầu khác.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đồng thời người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan – chị Nguyễn Thị Hồng H1 trình bày:
Chị xác định cụ N7 cụ L2 08 người con như nguyên đơn trình bày. Cụ
N7 chết trước năm 1975, cụ L2 chết năm 1995. Đối với yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn và những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, N2 chị không
đồng ý.
Nguồn gốc phần đất diện tích 15.621m
2
N2 được cấp Giấy chứng
nhận quyn sử dụng đất vào năm 1997 do bà N2 quản lý, canh tác sử dụng từ trước
năm 1997, sau đó N2 kê khai được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
từ năm 1997. N2 không mua đất của ông Nguyễn Văn A2 như lời trình bày
tại phiên hòa giải ngày 26-6-2024. Đây phần đất N2 tự khai hoang, quản lý,
sử dụng từ trước năm 1997. Cho nên việc bà N2 tặng cho chị quyền sử dụng đất là
hợp pháp. Cụ Nguyễn Thị L2 mcủa bà N2, có sống cùng bà N2 trước khi chết.
Việc cụ L2 có đất hay không, chị không biết, nhưng chị khẳng định phần đất mà bà
N2 đứng tên là do N2 tự tạo lập, không phải của cụ L2 cụ N7 để lại như các
đương sự khác trình bày. N2 canh tác quản lý, sử dụng phần đất này từ trước và
sau giải phóng, đã thực hiện nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước đầy đủ.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Huỳnh Văn D trình bày: Anh
không đồng ý với yêu cầu chia thừa kế đối với phần diện tích anh đang đứng tên
quyền sử dụng đất, anh thống nhất với lời trình bày của chị Nguyễn Thị Hồng H1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Hồng D1 trình bày:
Nguyễn Thị C chết năm 2017, chị người con duy nhất của bà C, chồng C
chết trước bà C rất lâu. Chị thống nhất với phần trình bày về hàng thừa kế và nguồn
gốc đất ca nguyên đơn. Theo chị biết, phần đất này có nguồn gốc của cụ N7cụ
L2 quản lý, sử dụng từ năm 1922. Năm 1969, cụ L2 khai, được cấp quyền sử
dụng đất. Năm 1975, cụ L2 khai được đứng tên quyền sử dụng đất. Nhưng do
thời gian quá lâu, hiện không còn lưu giữ các giấy ttrên. N2 lấy chồng năm
1965. Năm 1968-1989, bà N2 ly hôn, sang sống chung với C N C. Đến
khoảng năm 1990, bà N2 và con N2 chị H1 chuyển về Tân Tập sinh sống cùng
cụ L2. Phần đất diện tích trên 15.000m
2
được cấp tương ứng với số nhân khẩu,
thời điểm đó cụ L2 08 người con. Năm 1995, cụ L2 chết, không đlại di chúc,
cụ L2 chưa được cấp quyền sdụng đất. Năm 1997, bà N2 đăng , khai toàn
bộ phần đất của cụ L2 không ý kiến của các anh chị, em trong gia đình. Trong
ván này, chị khởi kiện (yêu cầu độc lập) như yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
yêu cầu được hưởng 1/8 di sản thừa kế là quyền sử dụng đất mà N2, anh D, chị
H1 hiện đang đứng tên quyền sử dụng đất. Do hiện các phần đất này đã quyết
định thu hồi, bồi thường nên yêu cầu được nhận số tiền bồi thường giá trị quyền sử
dụng đất do đất bị thu hồi là 1.358.440.000 đồng, ngoài ra không có yêu cầu khác.
Người đại diện theo ủy quyền của Nguyễn Thị T6 anh Nguyễn Ngọc B
trình bày: Anh thống nhất với lời trình bày của phía nguyên đơn về những người
thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ N7, cụ L2, về nguồn gốc phần đất là của cụ N7
và cụ L2. Trong vụ án này, bà Nguyễn Thị T6 khởi kiện (yêu cầu độc lập) như yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu được hưởng 1/8 di sản thừa kế là quyền sử
dụng đất mà N2, anh D, chị H1 hiện đang đứng tên quyền sử dụng đất. Do hiện
các phần đất này đã quyết định thu hồi, bồi thường nên yêu cầu được nhận số
tiền bồi thường gtrị quyền sử dụng đất do đất bị thu hồi 1.358.440.000 đồng,
ngoài ra không có yêu cầu khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Ngọc K trình bày: Anh
là con của ông Nguyễn Văn A2Thị P, ông A2 và bà P đã chết. Ông A2
P có 11 người con gồm: Nguyễn Ngọc T1, Nguyễn Ngọc N4, Nguyễn Ngọc L,
Nguyễn Thị Lệ T2, Nguyễn Thị Lệ T10, Nguyễn Ngọc T3, Nguyễn Ngọc K,
Nguyễn Ngọc T11 ã chết), Nguyễn Ngọc A, Nguyễn Thị Hồng T12 ã chết),
Nguyễn Ngọc H2 ã chết). Anh T11 vợ chị Huỳnh X, không con. Chị
Nguyễn Thị Hng T12 có con là Nguyễn Ngọc T5, chị T12 và chồng ch T12 đã ly
hôn từ rất lâu. Anh Nguyễn Ngọc H2 con Nguyễn Thị Nhật N5 Nguyễn
Ngọc Nguyên T4, vợ chồng anh H2 cũng đã ly hôn từ rất lâu.
Anh thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N, lời trình bày của
nguyên đơn về nguồn gốc đất, về hàng thừa kế của cụ N7, cụ L2, thời gian mất của
cụ N7, cụ L2. Cụ L2 chết năm 1995. Thời điểm cụ L2 chết, N2 đang sống chung
với cụ L2.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Nguyễn Ngọc T1 trình bày: Phần
đất mà bà N2 được cấp quyền sử dụng đất năm 1997 có nguồn gốc của cụ N7 và c
L2 quản lý, sử dụng từ trước năm 1975, đến khi cụ L2 mất năm 1995. Sau đó, năm
1997, N2 tự khai, đăng cấp quyền sử dụng đất, con cháu trong gia đình
không ai biết. Khi bà N khởi kiện, các con ông A2 mới biết là bà N2 đã được đứng
tên quyền sử dụng đất.
Trước khi cụ L2 chết, anh người sống chung với cụ L2 từ năm 1978 đến năm
1983 (thời điểm này anh đi bộ đội), nên anh biết rõ nguồn gốc đất. Thời chế độ cũ
cụ L2 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất này nhưng
do quá lâu nên giấy thiện không còn. Khoảng năm 1990, N2 vsống chung với
cụ L2. Từ đó, bà N2 cùng cụ L2 quản lý, sử dụng đất cho đến nay.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Ngọc N4, anh Nguyễn
Ngọc L, chị Nguyễn Thị Lệ T2, chị Nguyễn Thị Lệ T10, anh Nguyễn Ngọc T3, anh
Nguyễn Ngọc A là con của ông Nguyễn Văn A2bà Hà Th P, thống nhất với lời
trình bày của anh Nguyễn Ngọc K và anh Nguyễn Ngọc T1.
Trong vụ án y, những người thừa kế của ông A2 bà P thống nhất khởi
kiện (yêu cầu độc lập) như yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu được hưởng
1/8 di sản thừa kế quyền sdụng đất N2, anh D, chị H1 hiện đang đứng
tên quyền sử dụng đất. Do hiện các phần đất này đã có quyết định thu hồi, bồi thường
nên yêu cầu được nhận số tiền bồi thường giá trị quyền sử dụng đất do đất bị thu
hồi là 1.358.440.000 đồng, ngoài ra không có yêu cầu khác.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Hữu Đ1 trình bày: Anh thống
nhất với lời trình bày của nguyên đơn về hàng thừa kế của cụ N7, cụ L2, về nguồn
gốc các thửa đất tranh chấp. Nguyễn Thị C1 con của cụ Nguyễn Văn N7
cụ Nguyễn Thị L2. Nguyễn Thị C1 chết năm 2020. Chồng C1ông Lê Hữu
T13 chết năm 2004. Vchồng C1 04 người con Hữu T8, Hữu Đ1,
Lê Nguyễn Thị Phương N6, Lê Nguyn Th Phương U.
Trong vụ án này, anh và chị N6 khởi kiện (yêu cầu độc lập) như yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn, yêu cầu được hưởng 1/8 di sản thừa kế là quyền sử dụng đất
mà bà N2, anh D, chị H1 hiện đang đứng tên quyền sử dụng đất. Do hiện các phần
đất này đã quyết định thu hồi, bồi thường nên yêu cầu được nhận số tiền bồi
thường giá trị quyền sử dụng đất do đất bị thu hồi là 1.358.440.000 đồng, ngoài ra
không có yêu cầu nào khác; chị U, và anh T8 không có ý kiến.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị D2 trình bày:
con của cụ Nguyễn Văn N7 (chết trước năm 1975) và cụ Nguyễn Thị L2 (chết năm
1995). Cụ N7 cụ L2 08 người con gồm Nguyễn Thị C, Nguyễn Văn A2,
Nguyn Th T7, Nguyễn Thị D2, Nguyễn Thị T6, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Th C1,
Nguyễn Thị N. Theo bà, nguồn gốc phần đất mà bà Nguyễn Thị N2 đang quản lý,
sử dụng là của cụ L2 để lại. Sau khi cụ L2 chết, phần đất này do bà N2 quản lý, sử
dụng cho đến nay. Còn việc N2 được cấp quyền sdụng đất hay chưa thì
không biết. Đối với yêu cầu khởi kiện chia thừa kế của các anh chị em của đối
với bà N2, bà không có ý kiến. Bà không yêu cầu chia thừa kế đối với phần quyền
sử dụng đất bà N2 quản lý, sử dụng, không ý kiến cũng không tranh
chấp gì trong vụ án này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH S có ý kiến như sau:
Công ty TNHH S chủ đầu Dự án đầu xây dựng kinh doanh kết cấu hạ
tầng Khu Công nghiệp N, được Thủ ớng phê duyệt chủ trương đầu tại Quyết
định số 1420/QĐ-TTg ngày 20-8-2021. Công ty luôn tuân th đầy đủ các nghĩa vụ
của nhà đầu tư theo quy định pháp luật, thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ tài chính và
phối hợp với cơ quan nhà nước trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Công ty là đơn vị thuê lại đất của Nhà nước để triển khai dự án theo quy định
của pháp luật về đất đai; do đó, các thủ tục thu hồi đất, phê duyệt phương án và chi
trả bồi thường được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Toàn bộ việc xác định đối tượng, thẩm định phương án chi trả tiền bồi
thường thuộc thẩm quyền và trách nhiệm của Chi nhánh Trung tâm phát triển Quỹ
đất khu vực C.
Công ty không trực tiếp chi trả, không có quyền quyết định người được nhận
tiền bồi thường, không phát sinh bất kỳ quyền hoặc nghĩa vụ dân sự nào trong
các tranh chấp giữa các nhân quyền sử dụng đất tại khu vực dự án. Do đó, việc
Công ty được mời tham gia vụ án chỉ mang tính phối hợp cung cấp thông tin hành
chính, chứ không phải là bên có quyền lợi hoặc nghĩa vụ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi
kết quả giải quyết vụ án.
Tại Văn bản số 2000/BQLDAĐTXD-PTQĐ ngày 04-6-2024, người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan - Ban Q (nay là Chi nhánh Trung tâm phát triển quỹ đất khu
vực C) cung cấp thông tin như sau: Các thửa đất số 846 (pcl) (diện tích 501m
2
), 922
(pcl) (diện tích 3.196m
2
), 3209 (diện tích 2.585m
2
), 923 (diện tích 219m
2
), 2068
(diện tích 195m
2
), cùng tờ bản đồ số 3, đất tại T, Ủy ban nhân dân huyện đã ban
hành quyết định thu hồi đất và quyết định bi thường thuộc dự án Khu công nghiệp
N. Hiện các chủ sử dụng các thửa đất nêu trên chưa nhận tiền bồi thường, trong đó:
tiền bồi thường đối với thửa đất số 3209, số tiền 1.779.112.000 đồng Công ty TNHH
S đã chuyển tiền vào tài khoản của Ban quản dự án nhưng phát sinh tranh chấp
nên Ban quản lý dự án không thực hiện thủ tục chi trả; đối với các thửa đất còn lại
thì Công ty TNHH S chưa chuyển tiền vào tài khoản của B2.
Tại Bản án dân sự thẩm số số 110/2025/DS-ST, ngày 04-12-2025 của Tòa
án nhân dân Khu vực 7 - Tây Ninh quyết định:
Căn cứ Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 228 Bộ luật
Tố tụng dân sự; Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật Tố tụng Hành chính,
Luật pháp người chưa thành niên, Luật phá sản Luật Hòa giải, Đối thoại tại
Tòa án số 85/2025/QH15; các điều 609, 610, 611, 614, 623, 649, 650, 651, 660 Bộ
luật Dân sự; các điều 3, 166, 170, 203 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 ca Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị N (do chị Ngô Nguyễn
Hạnh N1 kế thừa), chị Nguyễn Thị Hồng D1, anh Nguyễn Ngọc T1, anh Nguyễn
Ngọc N4, anh Nguyễn Ngọc L, chị Nguyễn Thị Lệ T2, chị Nguyễn Thị Lệ T10, anh
Nguyễn Ngọc T3, anh Nguyễn Ngọc K, anh Nguyễn Ngọc A, chị Huỳnh X, chị
Nguyễn Thị Nhật N5, chị Nguyễn Ngọc Nguyên T4, anh Nguyễn Ngọc T5,
Nguyễn Thị T6, Nguyễn Thị T7, anh Hữu Đ1, chị Nguyễn Thị Phương N6
về việc “Tranh chấp thừa kế” với bà Nguyễn Thị N2.
1.1. Xác định di sản của c Nguyễn Thị L2 là số tiền 10.867.520.000 đồng –
số tiền bồi thường giá trị quyền sử dụng đất do các thửa đất số 846, 922, 3209, 923
(một phần thửa), Tờ bản đồ số 3, đất tại xã T, huyện C, tỉnh Long An (nay là xã T,
tỉnh Tây Ninh) bị thu hồi, theo các quyết định bồi thường số 9549/-UBND, số
8989/QĐ-UBND, số 9778/QĐ-UBND ngày 26-12-2022 của Ủy ban nhân dân
huyện C, tỉnh Long An (nay là tỉnh Tây Ninh).
1.2. Hàng thừa kế thứ nhất của cụ Nguyễn Thị L2 bao gồm: bà Nguyễn Thị C,
ông Nguyễn Văn A2, Nguyễn Thị T7, bà Nguyễn Thị D2, bà Nguyễn Thị T6, bà
Nguyễn Thị N2, bà Nguyễn Thị C1, bà Nguyễn Thị N.
1.3. Chị Ngô Nguyễn Hạnh N1 được nhận 1/9 di sản (tương ứng với phần của
Nguyễn Thị N, đã chết năm 2024) là 1.207.502.222 đồng;
1.4. Bà Nguyễn Thị N2 được nhận 2/9 di sản là 2.415.004.444 đồng;
1.5. Các anh (chị) Nguyễn Ngọc T1, Nguyễn Ngọc N4, Nguyễn Ngọc L,
Nguyễn Thị Lệ T2, Nguyễn Thị Lệ T10, Nguyễn Ngọc T3, Nguyễn Ngọc K, Huỳnh
X, Nguyễn Ngọc A, Nguyễn Ngọc T5, Nguyễn Thị Nhật N5, Nguyễn Ngọc Nguyên
T4 được nhận 1/9 di sản (tương ứng với phần của ông Nguyễn Văn A2),
1.207.502.222 đồng;
1.6. Bà Nguyễn Thị T7 được nhận 1/9 di sản là 1.207.502.222 đồng;
1.7. Chị Nguyễn Thị Hồng D1 được nhận 1/9 di sản (tương ứng với phần của
Nguyễn Thị C, đã chết năm 2017) là 1.207.502.222 đồng;
1.8. Bà Nguyễn Thị T6 được nhận 1/9 di sản là 1.207.502.222 đồng;
1.9. Anh Hữu Đ1 chị Nguyễn Thị Phương N6 đại diện nhận 1/9 di
sản (tương ứng với phần của Nguyễn Thị C1, đã chết năm 2020) là 1.207.502.222
đồng;
1.10. Giao Nguyễn Thị Ngộ N8 quản lý phần di sản Nguyễn Thị
D2 được hưởng 1.207.502.222 đồng (do Nguyễn Thị D2 không yêu cầu
chia di sản thừa kế trong vụ án này);
Các đương sự được quyền liên hệ Chi nhánh Trung tâm phát triển quỹ đất khu
vực C để nhận tiền bồi thường tương ứng với giá trị phần di sản được hưởng.
Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành và quyền kháng cáo.
Ngày 09/12/2025, b đơn Nguyễn Thị N2 người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan chị Nguyễn Thị Hồng H1, anh Huỳnh Văn D nộp đơn kháng cáo yêu cầu
Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu độc lập của những người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn Nguyễn Thị N2 người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Hồng H1, anh Huỳnh Văn D giữ nguyên yêu
cầu kháng cáo, nguyên đơn không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn, đề nghị
giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật Ngô Tn T bo v quyn li ích hp pháp ca Nguyn Th N2
trình bày:
Căn c các tài liu, chng c trong h sơ v án, yêu cu khi kin ca nhng
ngưi tha kế ca cụ Nguyn Th L2 là không có căn c. Vì:
C N7 chết năm 1946, cụ L2 chết năm 1995, hai cụ không được Nhà nước cp
Giy chng nhn quyn s dụng đất và tài sn gn lin với đất.
Nguyễn Thị N2 là người trc tiếp qun lý, s dụng đất t năm 1993 cho
đến nay và kê khai đăng ký được cp giy Giy chng nhn quyn s dụng đất đối
vi các thửa đất 846, 922, 923 là đúng theo trình tự, thủ tục do Nhà nước quy định.
Quá trình sử dụng đất, N2 thc hin đầy đủ nghĩa vụ thuế hàng năm theo đúng
quy định. Đến năm 2006, N2 lp hợp đồng tng cho C1 167m
2
thuc mt phn
tha 846, tng cho ông Nguyễn Văn B1 195m
2
thuộc một phần thửa 846 tặng
cho chị Nguyễn Thị Hng H1 501m
2
thuộc phần còn lại của thửa 846.
Các hàng thừa kế của c N7, cụ L2 cho rằng bà N2 đăng ký cp quyn s dng
đất, anh ch em trong gia đình không biết là không phù hợp, không đúng với thc tế
khách quan.
T những phân tích nêu trên, đ ngh Hội đng xét x chấp nhận kháng cáo
của N2 vợ chồng chị H1- anh D, sửa bản án thẩm bác yêu cu khi kin
của nguyên đơn.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa phúc
thẩm:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm thẩm chp hành đúng quy định của
pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; Hi đồng xét xử tiến hành xét x
đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và Thư ký phiên tòa
thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn; các đương sự đều thực hin đúng quyền
nghĩa vụ của đương sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà
N2 vợ chồng chị H1- anh D, sửa bản án thẩm theo ớng không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào
kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của c đương sự, ý kiến đại diện Viện kiểm
sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Ngày 04/12/2025 Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Tây Ninh xét
xử thẩm vụ kiện, ngày 09/12/2025 bà Nguyễn Thị N2 bị đơn và chị Nguyễn
Thị Hồng H1, anh Huỳnh Văn D là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nộp đơn
kháng cáo toàn bộ bản án thẩm, kháng cáo trong hạn luật định, nên vụ án được
xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo thấy rằng:
[2.1] Về nguồn gốc đất qtrình sử dụng: Nguyên đơn cho rằng nguồn gốc
các thửa đất số 846/501 m
2
; 922/3.196 m
2
; 3209/2.585 m
2
; 923/219 m
2
do cụ N7,
cL2 tạo lập, trước năm 1975 thì cụ L2 sử dụng sau năm 1975 thì cụ L2con trai
là ông A2 cùng cháu nội là anh T1 sử dụng đất. Từ năm 1993 thì bà N2 quản lý, sử
dụng cho đến nay.
N2 cho rằng đối với thửa đất số 922/5.781 m
2
(sau này tách thành 02 thửa
trong đó thửa 3209/2.585 m
2
) do nhận sang nhượng lại của vợ chồng ông
A2- bà P vào năm 1992, diện tích đất còn lại là do bà khai phá mà có được và quản
lý, sử dụng từ năm 1993 cho đến nay.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án có cơ sở xác định thửa đất
số 846/501 m
2
thửa số 923/219 m
2
nguồn gốc do cụ L2 tạo lập và sau năm
1975 cL2 về cất nhà trên thửa đất số 923/219 m
2
. Riêng đối với thửa đất số
922/5.781 m
2
tại bản tường trình nguồn gốc đất do bà N2 khai ngày 10/4/2012 (BL
số 339) trước và sau 15/10/1993 là đất lúa, trước năm 1992 do ông Nguyn Văn
A2 sdụng, từ 1992 đến 15/10/1993 ông A2 chuyển nhượng cho N2 sử dụng,
sau ngày 15/10/1993 N2 sử dụng. N2 cung cấp giấy mua bán đất ruộng lập
ngày 18/5/1992 nhưng P (vông A2) và các con ông A2 không thừa nhận việc
ông A2- P sang nhượng đất cho N2 đối với thửa đất số 922/5.781 m
2
. Tuy
nhiên căn cứ vào bản tường trình về nguồn gốc đất do N2 khai ngày 10/4/2012
thời gian này chưa phát sinh tranh chấp đất, giấy mua bán đất từ năm 1992
cho đến nay ông A2- P cùng các con không quản lý sử dụng đất do N2
quản lý sử dng.
Về quá trình sử dụng đất: Có cơ sở xác định đối với đất sản xuất lúa thì trước
năm 1993 thì do cụ L2 ông A2, các con ông A2- anh T1 người quản sử dụng
sản xuất lúa. Từ năm 1993 sau khi bà N2 về chung sống cùng cụ L2 thì do N2
quản lý, sử dụng. Đối với thửa đất số 923/219 m
2
đất thổ thì do cụ L2 quản lý, sử
dụng cất nhà ở, sau khi cụ L2 chết (1995) thì bà N2 quản lý sử dụng cho đến nay.
[2.2]Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người quản lý, sử dụng
đất.
Nguyên đơn cho rằng các thửa đất nêu trên do cụ N7, cL2 tạo lập, sau khi
các cụ chết không đlại di chúc nên yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật. Tuy nhiên
nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ là các loại giấy đất qua các thời kỳ cấp
cho cụ N7, cL2; diện tích đất trên cụ L2 không khai đăng ký kể cả ông A2
con trai duy nhất của cụ L2 cũng không kê khai, đăng , không quản lý sử dụng từ
năm 1993 cho đến nay.
Diện tích các thửa đất nêu trên được N2 quản lý, sử dụng duy nhất, liên tục
xuyên suốt từ năm 1993 cho đến nay đã khai đăng được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất vào ngày 08/12/1997 đúng quy định pháp luật về đất đai.
[2.3] Thực hiện quyền, nghĩa vụ của người quản lý, sử dụng đất.
Trong quá trình sdụng đất N2 đã thực hiện nghĩa vụ nộp thuế nông nghiệp
từ năm 1993 đến năm 1996 (BL số 249-253) cho nhà nước. Năm 2006 bà N2 tặng
cho quyền sử dụng đất cho bà C1 diện tích 167 m
2
(BL 360); tặng cho ông B1
chồng T6 diện tích 195 m
2
nhưng các con, cháu cL2 không ai có ý kiến hoặc
tranh chấp. Việc nguyên đơn cho rằng không biết bà N2 được cấp giấy đất là không
có căn cứ.
[2.4] Diện tích các thửa đất mà nguyên đơn tranh chấp yêu cầu chia di sản
thừa kế thực tế đã được N2 quản lý, sử dụng liên tục, xuyên suốt t năm 1993
đối với đất sản xuất lúa quản sử dụng nhà cất trên thửa đất thổ sau đó
N2 đã kê khai, đắng và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó,
diện tích các thửa đất trên không phải là là di sản thừa kế ca cụ N7- c L2.
Toà án cấp thẩm xác định diện tích đất tranh chấp nêu trên di sản thừa
kế của cụ L2 chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của nguyên đơn chưa xem xét
đầy đủ, toàn diện các quy định pháp luật về đất đai và chưa đúng thực tế sử dụng
đất của các bên đương sự.
[3] Từ những phân tích trên schấp nhận kháng cáo của N2 vợ
chồng chị H1, anh D; chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát sửa bản án thẩm
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn.
[4] Về án phí: Do sửa án thẩm nên xác định lại nghĩa vụ chịu án phí
thẩm, án phí phúc thẩm các đương sự không phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, 309 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Thị N2, chị Nguyễn Thị Hồng H1
anh Huỳnh Văn D.
Sửa bản án dân s sơ thẩm số 110/2025/DS-ST, ngày 04-12-2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực 7 - Tây Ninh.
Căn cứ Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 228 Bộ
luật Tố tụng dân sự; các Điều 116, 117, 119, 122 của Bộ luật Dân sự; các Điều 2, 3
của Luật Đất đai năm 1993; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ p Tòa án;
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị N (do chị Ngô
Nguyễn Hạnh N1 kế thừa), chị Nguyễn Thị Hồng D1, anh Nguyễn Ngọc T1, anh
Nguyễn Ngọc N4, anh Nguyễn Ngọc L, chị Nguyễn Thị Lệ T2, chị Nguyễn Thị Lệ
T10, anh Nguyễn Ngọc T3, anh Nguyễn Ngọc K, anh Nguyễn Ngọc A, chị Huỳnh
X, chị Nguyễn Thị Nhật N5, chị Nguyễn Ngọc Nguyên T4, anh Nguyễn Ngọc T5,
Nguyễn Thị T6, bà Nguyễn Thị T7, anh Lê Hữu Đ1, chị Lê Nguyễn Thị Phương
N6 về việc:
- Yêu cầu tuyên bố hiệu Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà
Nguyễn Thị N2 cho Nguyễn Thị Hồng H1 đối với Thửa đất s846, diện tích
501m
2
; Thửa đất 922, diện tích 3.196m
2
, Thửa đất số 3209 (tách từ thửa 922),
diện tích 2.858m
2
, cùng tờ bản đồ số 3, đất tại ấp V, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
- Yêu cầu hiệu thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung vợ chồng
đối với Thửa đất s 3209 (tách từ thửa 922), diện tích 2.858m
2
, Tờ bản đồ s 3, đất
tại ấp V, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
- Chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn N7 cụ Nguyễn Thị L2 chết đ
lại, bao gồm: Quyền sdụng đất thửa đất s846 diện tích 501m
2
, thửa đất số 922
diện tích 3.196m
2
, thửa đất s3209 diện tích 2.858m
2
, thửa đất số 923, diện tích
223m
2
đối với bà Nguyễn Thị N2.
2. Về án phí:
Án phí sơ thẩm:
2.1. Chị Ngô Nguyễn Hạnh N1 phải chịu 300.000 đồng.
2.2. Anh Hữu Đ1, chị Nguyễn Thị Phương N6 mỗi người phải chịu
300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạmng án phí đã nộp 26.376.600 đồng theo
Biên lai thu số 0004021 ngày 09-9-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh,
hoàn trả cho anh Đ1 và chị N6 số tiền còn lại2.577.600 đồng.
2.3. Các anh (chị) Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Thị Lệ T10, Nguyễn Ngọc K,
Huỳnh X, Nguyn Ngc T5, mi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự
thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.848.872 đồng theo các
Biên lai thu số 0013676, 0013675, 0013678, 0013677, 0013680 ngày 18-11-2024
của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, hoàn trả số tiền
còn lại 2.348.872 đồng.
Chị Nguyễn Thị Nhật N5 chị Nguyễn Ngọc Nguyên T4 mỗi người phải
chịu 300.000 đng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạmng án
phí đã nộp 3.848.872 đồng theo Biên lai thu số 0013679 ngày 18-11-2024 của Chi
cục Thi hành án Dân shuyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, hoàn trả cho chị N5 chị
T4 số tiền 3.248.872 đồng.
2.4. Chị Nguyễn Thị Hồng D1, Nguyễn Thị T7, Nguyễn Thị T6, anh
Nguyễn Ngọc T1, anh Nguyễn Ngọc N4, chị Nguyễn Thị Lệ T2, anh Nguyễn Ngọc
T3, anh Nguyễn Ngọc A là người cao tuổi, thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án
phí theo quy định pháp luật.
Án phí phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu.
Hoàn trả cho chị Nguyễn Thị Hồng H1, anh Huỳnh Văn D mỗi người 300.000
đồng tiền tạm ứng án phí kháng cáo theo các biên lai thu số 0014587 số 0014591
ngày 09/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện thi hành án hoặc bị
ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân
sự.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND. TTN;
- Phòng KTNV&THA;
- TAND Khu vực 7 -TN;
- THADS tỉnh TN;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu tập án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã )
Lê Hữu Chiến
Tải về
Bản án số 699/2026/DS-PT Bản án số 699/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 699/2026/DS-PT Bản án số 699/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất