Bản án số 652/2026/DS-PT ngày 12/05/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 652/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 652/2026/DS-PT ngày 12/05/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 652/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: ông T làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị P, bà Nguyễn Thị C và ông Hồ Văn Đ chấm dứt hành vi cản trở, không cho ông T sử dụng thửa đất số 484, tờ bản đồ số 4, diện tích 1.002,6m², tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC686601, số vào sổ cấp GCN CH07422 do UBND huyện Đ cấp ngày 04/9/2015, đã chỉnh lý sang tên cho ông T vào ngày 15/11/2021 theo hồ sơ số 008991CN001, vì ông T là người nhận chuyển nhượng hợp pháp.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 652/2026/DS-PT
Ngày: 12-5-2026
V/v: Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
ỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Chiến
Các Thẩm phán:
+ Bà Phạm Thị Thanh Giang;
+ Bà Hoàng Thị Thuý Lành.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Mạnh Hùng, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Nguyễn
Thị Bé Thi - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc
thẩm công khai vụ án thụ lý số 35/2025/TLPT-DS ngày 02 tháng 02 năm 2026, về việc
“ Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 376/2025/DS-ST, ngày 26-9-2025 của Tòa án nhân
dân Khu vực 3 - Tây Ninh có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử số 320/2026/QĐXX-PT, ngày 02 tháng 04
năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1971, trú tại: 7, đường H, phường B,
Thành ph H Chí Minh, vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn T ông Ngô Anh K, sinh năm
1998, trú tại: ấp B, xã T, tỉnh Đồng Tháp, có mặt.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông T: Ông Phạm Tiến Thiên T1 Lut
sư, Văn phòng Luật sư Phm Thiên T1 thuc Đoàn Luật sư Thành phố H, có mặt.
2. Bị đơn:
2
- Nguyễn Thị P, sinh năm: 1954, trú tại: ấp A, xã A, tỉnh Tây Ninh, đơn xin
xét xử vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của Nguyễn Thị P: Ông Bùi Văn T2, sinh năm
1993, trú tại: Ấp G, xã N, tỉnh Tây Ninh, có mặt.
- Nguyễn Thị C, sinh năm 1992 ông Hồ Văn Đ, sinh năm 1986. Cùng trú
tại: ấp A, xã A, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Thị Cẩm L, sinh năm 1978, trú tại: Số G K, đường H, phường B,
thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1980, trú tại: ấp A, xã A, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
- Cháu Nguyễn Thành Đ1, sinh 2010;
- Cháu Hồ Thị Kim T4, sinh năm 2016.
Người đại diện hợp pháp cho cháu T4 và cháu Đ1: Ông Hồ Văn Đ và bà Nguyn
Th C. Cùng trú tại: ấp A, xã A, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
- Văn phòng C1Văn phòng C1. Địa chỉ trụ sở: ấp C, xã Đ, tỉnh Tây Ninh.
4. Người kháng cáo: ông Trần Văn T là nguyên đơn và bà Nguyễn Thị Cẩm L
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 09/02/2022, đơn khởi kiện bổ sung ngày 15/8/2022, cùng
các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa, người đại diện theo ủy
quyền của nguyên đơn là ông Ngô Anh K trình bày và yêu cầu:
Ngày 24/11/2020, tại Văn phòng C1, địa chỉ: ấp C, Đ, huyện Đ, tỉnh Long An,
hiện nayVăn phòng C1. Địa chỉ: ấp C, xã Đ, tỉnh Tây NinhNguyễn Thị Cẩm L
người đại diện theo ủy quyền của Nguyễn Thị P đã hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất cho ông Trần Văn T đối với thửa đất số 484, tbản đồ số 4, diện tích
1.002,6m², tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An, theo Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số CC686601, số vào sổ cấp GCN CH07422 do Ủy ban nhân dân huyện Đ
cấp ngày 04/9/2015 đứng tên Nguyễn Thị P.
Hợp đồng được công chứng tại Văn phòng C1 theo văn bản công chứng số 3999,
quyển số 11TP/CC-SCC/HĐGD. Các bên đã thực hiện việc giao nhận tiền đầy đủ.
Sau khi nhận chuyển nhượng, ông T đã liên hệ cơ quan Nhà nước thẩm quyền
đthực hiện thủ tục sang tên. Hồ được ghi nhận chỉnh sang tên cho ông T vào ngày
15/11/2021 theo hồ số 008991CN001. Tuy nhiên, khi ông T đến thăm đất t
Nguyễn Thị P cùng một số người thân đã ngăn cản, không cho ông T vào sử dụng đất,
không rõ căn cứ o đâu.
3
vậy, ông T làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị P, Nguyễn
Thị C và ông Hồ Văn Đ chấm dứt hành vi cản trở, không cho ông T sử dụng thửa đất số
484, tờ bản đồ số 4, diện tích 1.002,6m², tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An,
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC686601, số vào sổ cấp GCN CH07422
do UBND huyện Đ cấp ngày 04/9/2015, đã chỉnh sang tên cho ông T vào ngày
15/11/2021 theo hồ số 008991CN001, ông T người nhận chuyển nhượng hợp
pháp.
Theo đơn khởi kiện (phản tố) ngày 08/6/2022, đơn khởi kiện bổ sung ngày 06/9/2022
cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo
ủy quyền của bị đơn bà Nguyn Th P là ông Bùi Văn T2 trình bày và yêu cầu:
Vào khoảng ngày 20/8/2020, do con trai của bà P bị tai nạn cần tiền chữa trị nên bà
nhu cầu vay tiền. Thông qua giới thiệu, biết Nguyễn Thị Cẩm L người cho
vay tiền nên đồng ý vay của L stiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng), với
lãi suất 15.000.000 đồng/tháng, tương đương 3%/tháng, không ấn định thời hạn trả, khi
nào có tiền thì hoàn trả gốc. Để đảm bảo cho khoản vay, bà P thế chấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số CC686601, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH07422 do UBND
huyện Đ cấp ngày 04/9/2015 đứng tên bà P, đối với thửa đất số 484, tờ bản đồ số 4, diện
tích 1.002,6m², tọa lạc tại ấp A, A, huyện Đ, tỉnh Long An. Hiện nay A, tỉnh Tây
Ninh.
Người môi giới dẫn P đến Văn phòng C1 để giấy tờ vay nhận tiền. Tại đây,
nhân viên ca văn phòng C1 đưa giấy tờ cho bà ký, sau đó bà L giao tiền cho bà.
Đến khoảng tháng 11/2020, bà P tiếp tục hỏi vay bà L thêm 100.000.000 đồng, với
lãi suất 10.000.000 đồng/tháng (tức 10%/tháng), không thỏa thuận thời hạn trả, khi nào
trả hết gốc tđược nhận lại giấy tờ đất.
P cho biết đã đóng lãi đầy đ, L thường xuyên đến nhà thu tiền lãi. Giấy tờ
vay tiền của hai lần vay trên do bà L giữ.
Tính đến tháng 10/2021, bà L không còn đến thu lãi, bà P nhiều lần gọi điện nhưng
L không nghe máy, hoặc khi biết P gọi thì tắt máy. Tổng số tiền lãi P đã nộp
cho bà L là 295.000.000 đồng.
Đến khi ông Trần n T (chồng L) khởi kiện, P mới biết các giấy t trước
đây tại Văn phòng ng chứng không phải là giấy vay tiền, Hợp đồng ủy
quyền cho L đối với thửa đất nêu trên; sau đó L đã hợp đồng chuyển nhượng đ
cho chồng là ông T đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Việc làm của vợ chồng L không đúng thực tế, chỉ vay tiền thế chấp
giấy tờ đất, không có việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
4
Thửa đất này bà P đã cho con gái là Nguyễn Thị C từ năm 2010; con gái bà đã xây
nhà ở ổn định từ đó đến nay. Hiện trên đất có bốn người sinh sống, gồm: Nguyễn Thị C,
Hồ Văn Đ (con rể) và hai cháu ngoại Nguyễn Thành Đ1, Hồ Thị Kim T4. Ngoài ra, trên
đất còn có ba ngôi mộ của mẹ chồng bà P, chồng và con trai của bà P.
P khai rằng không biết chữ, khi đến phòng công chứng, nhân viên chỉ đưa
giấy tờ để bà không giải thích nội dung. Việc L lợi dụng, lừa bà hợp đồng
ủy quyền rồi sau đó chuyển nhượng cho ông T không đúng. Do đó, bà P đề nghị Tòa
án xem xét, giải quyết các yêu cầu sau:
Tuyên bố hiệu Hợp đồng ủy quyền do Văn phòng C1, quyển số 08.TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 20/8/2020;
Tuyên bố hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do Văn phòng C1
số 3999, quyển số 11.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/11/2020;
Hủy nội dung chỉnh biến động ngày 15/11/2021 về việc sang tên cho ông Trần
Văn T trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC686601, số vào sổ cấp giấy chứng
nhận CH07422 đối với thửa đất số 484, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại A, huyện Đ, tỉnh
Long An; Sau khi hủy, P được đăng khai, chỉnh lại quyền sử dụng đất theo
quy định pháp luật.
Theo đơn khởi kiện (phản tố) ngày 19/10/2022 cùng các lời khai trong quá trình
giải quyết vụ án bị đơn là ông Hồ Văn Đ trình bày và yêu cầu:
Ông Hồ Văn Đ Nguyn Th C vợ chồng hợp pháp, đăng kết hôn từ
năm 2010. Sau khi kết hôn, mẹ vợ Nguyễn Thị P cho C thửa đất s484, tờ
bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An, đvợ chồng ông bà xây nhà
ở và trông coi mồ mả của gia đình trên đất.
Ban đầu, vợ chồng ông xây dựng căn ncấp 4, kết cấu cột tông, mái tole,
làm nơi sinh sống. Đến khoảng năm 2017, ông Đ trúng snên tháo dỡ căn nhà xây
dựng căn nhà mới kiên cố n, trị giá khoảng hơn 01 tỷ đồng.
Từ thời điểm đó đến nay, vchồng ông ng hai con Nguyễn Thành Đ1
Hồ Thị Kim T4 sinh sống ổn định, liên tục trên đất, không ai tranh chấp hoặc ngăn
cản, cũng không hay biết việc vay tiền, thế chấp hay chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa bà P và bà L.
Ông cho rằng thửa đất căn nhà tài sản do mẹ cho do vợ chồng ông
tạo lập, sinh sống ổn định, nên việc L, ông T ký hợp đồng thuê đất ngày 01/12/2021
không đúng thực tế. Do đó, ông Đ không đồng ý với hợp đồng thuê đất đề nghTòa
án tuyên bố hiệu Hợp đồng thuê nhà đất ngày 01/12/2021 giữa bên cho thuê ông
Trần Văn Tbên thuê là bà Nguyễn Thị P, bà Nguyễn Thị C, đối với thửa đất số 484,
5
tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp A, A, huyện Đ, tỉnh Long An. Hiện nay là xã A, tỉnh Tây
Ninh.
Bị đơn Nguyn Th C vắng mặt nhưng văn bản trình bày ý kiến như sau:
thống nhất trình bày của ông Hồ Văn Đ, không trình bày bổ sung.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Cẩm L vắng mặt nhưng
có văn bản trình bày ý kiến như sau:
Do mối quan hệ quen biết với Nguyễn Thị P, nên khi biết P nhu cầu
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, L và chồng là ông Trần Văn T đã thỏa thuận nhận
chuyển nhượng thửa đất số 484, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp A, A, huyện Đ, tỉnh
Long An.
Tuy nhiên, do không am hiểu pháp luật, khi làm thủ tục tại Văn phòng C1, bà không
chuẩn bgiấy xác nhận đất nông nghiệp, nên được công chứng viên hướng dẫn lập hợp
đồng y quyền giữa P L trước, sau đó bà L thực hiện việc chuyển nhượng lại
thửa đất trên cho ông Trần Văn T. Sau đó, ông T đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất hợp pháp đứng tên mình.
Bà L cho rằng việc chuyển nhượng là hoàn toàn tự nguyện, có thật, không giả tạo.
Do đó, thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn T không
đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bị đơn bà Nguyn Th P về việc cho rằng hợp đồng ủy
quyền và hợp đồng chuyển nhượng là giả tạo.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án Văn phòng C1 nay Văn
phòng C1 trình bày tại công văn số 71/CV-VPCCTHT ngày 22/8/2022 như sau:
Vào ngày 20/8/2020 25/11/2020 ngày 24/11/2020 Văn phòng C1 tiếp nhận
yêu cầu công chứng Hợp đồng ủy quyền do Văn phòng C1, quyển số 08.TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 20/8/2020 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đt do Văn
phòng C1 số 3999, quyển số 11.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/11/2020.
Sau khi xem xét giấy tờ các bên không yêu cầu xác minh, Công chứng viên đã
chứng nhận hợp đồng. Văn phòng C1 xác nhận đã thực hiện việc công chứng các Hợp
đồng nêu trên đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 376/2025/DS-ST, ngày 26-9-2025 của Tòa án nhân
dân Khu vực 3 - Tây Ninh quyết định:
Căn cứ vào khoản 3, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điu 39,
Điều 147, Điều 165, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116; Điều
117; Điều 122; Điều 131; Điều 408; Điều 357; Điều 468 Bộ luật Dân sự; Điều 26; Điều
27; Điều 31 của Luật đất đai; Điều 26; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
6
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn T về việc yêu
cầu Tòa án buộc Nguyễn Thị P, Nguyễn Thị C ông HVăn Đ chấm dứt hành vi
cản trở, không cho ông T sử dụng thửa đất số 484, tờ bản đồ số 4, diện tích 1.002,6m²,
tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An, hiện nay là xã A, tỉnh Tây Ninh.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị P và ông Hồ Văn Đ về việc:
Vô hiệu hợp đồng ủy quyền số công chứng 2267, quyển số 08.TP/CC-SCC/HĐGD
ngày 20/8/2020 đối với thửa đất số 484, tbản đồ số 4, diện tích 1.002,6m², tọa lạc tại
ấp A, A, huyện Đ, tỉnh Long An, hiện nay là A, tỉnh Tây Ninh tại Văn phòng C1
nay là Văn phòng C1 giữa bà Nguyễn Thị P và bà Nguyễn Thị Cẩm L.
hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (không tài sản) số công
chứng 3999, quyển số 11.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/11/2020 đối với thửa đất số 484,
tờ bản đồ số 4, diện tích 1.002,6m², tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An, hiện
nay là A, tỉnh Tây Ninh tại Văn phòng C1 nay là Văn phòng C1 giữa bà Nguyễn Thị
P (do bà Nguyễn Thị Cẩm L đại diện với ông Trần Văn T.
Vô hiệu hợp đồng thuê nhà, đất ngày 01/12/2021 đối với thửa đất số 484, tờ bản đ
số 4, diện tích 1.002,6m², tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An, hiện nay là
A, tỉnh Tây Ninh giữa ông Trần Văn T với bà Nguyễn Thị P, bà Nguyễn Thị C.
Ông Trần Văn T nghĩa vụ nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
thửa đất cho cơ quan Nhà nước thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
để thu hồi, điều chỉnh, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp
luật.
Trường hợp không nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Cơ quan
nhà nước thẩm quyền căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án trình quan nhà
ớc có thẩm quyền để thu hồi, chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử
dụng cho các bên đương sự theo quy định.
Nguyễn Thị P được liên hệ quan Nnước thẩm quyền đăng và làm
thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 484, tờ bản đồ số 4, diện
tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 1.002,6 m², diện tích cắt ranh theo hiện
trạng sử dụng đất 937 tọa lạc tại ấp A, A, huyện Đ, tỉnh Long An, hiện nay
A, tỉnh Tây Ninh theo quy định.
Cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án, quyết định của
Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
Các đương sự không được ngăn cản các bên thực hiện quyền của người được xác
lập quyền sử dụng đất theo bản án, quyết định của Toà án. Trường hợp các bên vi phạm
7
việc sử dụng đất đã được xác định theo bản án, quyết định của Tòa án thì có quyền yêu
cầu cơ quan thi hành án ra quyết định cưỡng chế thi hành án.
(Vị trí, tứ cận, tbản đồ, loại đất nêu trên tại tại Mảnh trích đo địa chính số 95/2024
của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 15/7/2024 - kèm theo
bản án).
Bản án thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành, lãi suất chậm
trả và quyền kháng cáo.
Ngày 02/10/2025, ông Trần n T nguyên đơn Nguyễn Thị Cẩm L
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nộp đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm
sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện ca nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông T giữ nguyên yêu
cầu kháng cáo, bà P không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của ông T đề nghị giữ nguyên
bản án sơ thẩm.
Luật Phm Tiến Thiên T1 bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn
Văn T5 trình bày: Việc ủy quyền và việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các bên
là hợp pháp nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu yêu cầu kháng cáo của ông
Nguyễn Văn T5, sửa bản án sơ thẩm.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa Phúc thẩm:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm thẩm chấp hành đúng quy định của pháp
luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử đúng trình
tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và Thư phiên tòa thực hiện đúng
nhiệm vụ và quyền hạn; các đương sự đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương
sự.
- Về nội dung:
+ Nguyễn Thị Cẩm L đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng
mặt tại phiên toà nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu
kháng cáo của bà L.
+ Ông Trần Văn T kháng cáo nhưng không cung cấp chứng cứ mới nên đnghị
Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T, giữ nguyên bản án
thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
8
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả
tranh tụng tại phiên tòa,ý kiến của các đương sự, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng
xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Ngày 26/9/2025 Tòa án nhân dân Khu vực 3 - y Ninh xét xử
thẩm vụ kiện, ngày 02/10/2025 ông Trần Văn T là nguyên đơn và Nguyễn Thị Cẩm
L người quyền lợi nghĩa vụ liên quan nộp đơn kháng o bản án thẩm, kháng
cáo trong hạn luật định, nên vụ án được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Toà án đã mở phiên toà xét xử lần thứ nht vào ngày 21-4-2026 nhưng đã hoãn
phiên toà do vắng mt đương sự và tại phiên toà bà Nguyễn Thị Cẩm L đã được Toà án
triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt nên đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu
kháng cáo của bà L.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn T thấy rằng:
Diện tích đất 1.002,6m² thuộc thửa số 484, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp A, A,
tỉnh Tây Ninh đưc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 04/9/2015 do
Nguyễn Thị P đứng tên.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được thu thập tại hồ vụ án cơ s xác định
tại thời điểm Nguyễn Thị P hợp đồng uquyền cho Nguyễn Thị Cẩm L ngày
20/8/2020 nội dung L được thực hiện các quyền đối với diện tích đất 1.002,6m²
thuộc thửa đất số 484, tờ bản đồ số 4 L hợp đồng hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất diện tích nêu trên cho ông Trần Văn T ngày 24/11/2020 thì trên diện
tích đất 1.002,6m² căn nhà cấp 4 của vợ chồng ông Hồ Văn Đ Nguyễn Thị C
(con của bà P) xây trên đất, ngoài ra trên đất còn có 03 ngôi mộ. Khi P hợp đồng
uỷ quyền cho L L hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông T
các n không thoả thuận tài sản trên đất, không ý kiến của ông Hồ Văn Đ và
Nguyn Th C chủ sở hữu nhà trên đất. Mặt khác từ khi P ký hợp đồng uỷ quyền
cho bà L và bà L ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông T thì các bên
chưa giao nhận đất, P vợ chồng ông Hồ Văn Đ Nguyn Th C vẫn là người
quản lý, sử dụng đất.
Đối với hợp đồng thuê nhà đất lập ngày 01/12/2021 giữa bên cho thuê là ông Trần
Văn T và bên thuê Nguyễn Thị P, bà Nguyễn Thị C, đối với thửa đất số 484, tờ bản
đồ số 4, có nội dung: Ông T cho bà P, bà C thuê nhà ở và quyền sử dụng đất thuộc thửa
số 484, tờ bản đồ số 4, diện tích 1.002,6m² nhằm mc đích đ và canh tác đất nông
nghiệp. Tuy nhiên, như phân tích thì tài sản trên đất các bên không thoả thuận sang
nhượng, vẫn thuộc quyền quản lý, sử dụng của P vợ chồng ông Đ2, C. Mặt khác,
nhà trên đất tài sản chung của vợ chồng ông Đ2, C nhưng ông Đ2 không biết
không có ý kiến đối với hợp đồng thuê nhà đất.
Từ những phân tích trên, Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố vô hiệu hợp đồng uỷ quyền
giữa P L; vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất giữa L và ông
9
T; vô hiệu hợp đồng thuê nhà đất giữa ông T và bà P, C căn cứ, đúng quy định
pháp luật.
[3] Ông T kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới chứng minh cho
yêu cầu kháng cáo nên không chấp nhận. Đề nghị của Viện kiểm sát căn cứ nên
chấp nhận, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Về án phí: Ông T, bà L phải chịu án phí phúc thẩm dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Cẩm L.
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là ông Trần Văn T.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 376/2025/DS-ST, ngày 26-9-2025 của Tòa
án nhân dân Khu vực 3 - Tây Ninh.
Căn cứ vào khoản 3, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39,
Điều 147, Điều 165, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 116; Điều 117; Điều 122; Điều 131; Điều 408; Điều 357; Điều 468
Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 26; Điều 27; Điều 31 của Luật đất đai;
Căn cứ Điều 26; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn T về việc
yêu cầu Tòa án buộc Nguyễn Thị P, Nguyễn Thị C ông Hồ Văn Đ chấm dứt
hành vi cản trở, không cho ông T sử dụng thửa đất số 484, tờ bản đsố 4, diện tích
1.002,6m², tọa lạc tại ấp A, A, huyện Đ, tỉnh Long An, hiện nay A, tỉnh Tây
Ninh.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị P và ông Hồ Văn Đ về việc:
hiệu hợp đồng ủy quyền số công chứng 2267, quyển số 08.TP/CC-SCC/HĐGD
ngày 20/8/2020 đối với thửa đất số 484, tbản đồ số 4, diện tích 1.002,6m², tọa lạc tại
ấp A, A, huyện Đ, tỉnh Long An, hiện nay là A, tỉnh Tây Ninh tại Văn phòng C1
nay là Văn phòng C1 giữa bà Nguyễn Thị P và bà Nguyễn Thị Cẩm L.
hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (không tài sản) số công
chứng 3999, quyển số 11.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/11/2020 đối với thửa đất số 484,
10
tờ bản đồ số 4, diện tích 1.002,6m², tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An, hiện
nay là A, tỉnh Tây Ninh tại Văn phòng C1 nay là Văn phòng C1 giữa bà Nguyễn Thị
P (do bà Nguyễn Thị Cẩm L đại diện với ông Trần Văn T.
hiệu hợp đồng thuê nhà, đất ngày 01/12/2021 đối với thửa đất số 484, tờ bản
đồ số 4, diện tích 1.002,6m², tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An, hiện nay là
xã A, tỉnh Tây Ninh giữa ông Trần Văn T với bà Nguyễn Thị P, bà Nguyễn Thị C.
Ông Trần Văn T nghĩa vụ nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sdụng đất
thửa đất cho cơ quan Nhà nước thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
để thu hồi, điều chỉnh, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp
luật.
Trường hợp không nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Cơ quan
nhà nước thẩm quyền căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án trình cơ quan nhà
ớc có thẩm quyền để thu hồi, chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử
dụng cho các bên đương sự theo quy định.
Nguyễn Thị P được liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký và làm
thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 484, tờ bản đồ số 4, diện
tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 1.002,6 m², diện tích cắt ranh theo hiện
trạng sử dụng đất 937 tọa lạc tại ấp A, A, huyện Đ, tỉnh Long An, hiện nay
A, tỉnh Tây Ninh theo quy định.
quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cvào bản án, quyết định
của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
Các đương sự không đưc ngăn cản các bên thực hiện quyền của người được xác
lập quyền sử dụng đất theo bản án, quyết định của Toà án. Trường hợp các bên vi phạm
việc sử dụng đất đã được xác định theo bản án, quyết định của Tòa án thì có quyền yêu
cầu cơ quan thi hành án ra quyết định cưỡng chế thi hành án.
(Vị trí, tứ cận, tờ bản đồ, loại đất nêu trên tại tại Mảnh trích đo địa chính số 95/2024
của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 15/7/2024 - kèm theo
bản án).
3. Về chi phí đo đạc, định giá và xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí giám định
tổng cộng 30.255.000 đồng, số tiền này nguyên đơn chịu, nguyên đơn đã nộp chi
phí xong.
4. Về nghĩa vchậm thi hành án: kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người
được thi hành án đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền
lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ
luật Dân sự.
11
5. Án phí dân sự:
Án phí dân sự sơ thẩm:
- Buộc Trần n T nghĩa vụ chịu 1.200.000 đồng tiền án phí dân sự thẩm
nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0006676
ngày 24/5/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyn Đức Hòa (hiện nay là Thi hành án
Dân sự tỉnh Tây Ninh) ông Trần Văn T còn phải nộp tiếp 900.000 đồng án phí Dân sự
thẩm.
- Ông Hồ Văn Đ không phải chịu tiền án phí. H lại cho ông Hồ Văn Đ 300.000
đồng (batrăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự thẩm đã nộp (theo biên lai thu
số 0006971 ngày 19/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, hiện nay
là Thi hành án Dân sự tỉnh Tây Ninh).
Án phí dân sự phúc thẩm:
- Ông Trần Văn T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sphúc thẩm nhưng
được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0006982 ngày
13/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
- Nguyễn Thị Cẩm L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sphúc thẩm
nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0006980
ngày 13/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân
sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận
thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị ỡng chế thi hành
án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án
được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND. TTN;
- Phòng KTNV&THA;
- TAND Khu vực 3 -TN;
- THADS tỉnh TN;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu tập án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Lê Hữu Chiến
Tải về
Bản án số 652/2026/DS-PT Bản án số 652/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 652/2026/DS-PT Bản án số 652/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất