Bản án số 610/2026/DS-PT ngày 31/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 610/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 610/2026/DS-PT ngày 31/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 610/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 31/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Hủy bản án sơ thẩm do thiếu người liên quan
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 610/2026/DS-PT
Ngày 31-3-2026
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Trúc.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Ngọc Mai;
Ông Nguyễn Văn Huỳnh.
- Tphiên tòa: Trần Hoài Thu Thư Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm t nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Tuyền – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 27 31 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh (Cơ sở B) xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ
lý số 1683/2025/TLPT-DS ngày 30 tháng 12 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 95/2025/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo, kháng
nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 920/2026/QĐ-PT ngày
25 tháng 02 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm 3413/2026/-PT
ngày 16 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa
các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Hòa M, sinh năm 1961; địa chỉ: tổ E, khu
phố K, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm
1990; địa chỉ: thôn L, N, tỉnh Gia Lai; địa chỉ liên lạc: số B, đường H, khu phố
G, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh, người đại diện theo ủy quyền (Hợp
đồng ủy quyền ngày 19/6/2024). Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phạm Tự T
là Luật sư của Công ty L4 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. Có mặt.
2
- Bị đơn:
1. Ông Lê Đinh Công N, sinh năm 1985; địa chỉ: tổ B, khu phố K, phường
T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Lê Đinh Công N: Ông Trần Anh
T1, sinh năm 1999 và ông Nguyễn Tấn T2, sinh năm 2001; cùng địa chỉ liên lạc:
số F Y, phường T, Thành phHồ Chí Minh, người đại diện theo ủy quyền (Giấy
ủy quyền ngày 17/6/2025). Ông T2 có mặt, ông T1 vắng mặt.
2. Bà Nguyễn Hoa L1, sinh năm 1987; địa chỉ: tổ B, khu phố K, phường T,
Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Ông Đăng
C, sinh năm 1984; địa chỉ thường trú: số B, khu phố B, phường B, Thành phố H
Chí Minh; địa chỉ liên lạc: số D, Nguyễn Văn L2, khu phố C, phường B, tỉnh
Đồng Nai.
Người đại diện hợp pháp của ông Lê Đăng C: Ông Lê Quang Đ, sinh năm
1998; địa chỉ: thôn Đ, N, tỉnh Quảng Trị; địa chỉ liên lạc: số D, Nguyễn Văn
L2, khu phố C, phường B, tỉnh Đồng Nai, người đại diện theo ủy quyền (Hợp
đồng ủy quyền ngày 17/02/2025). Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Trần Hiệp L3, sinh năm 1960; địa chỉ: tổ B, khu phố K, phường T,
Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn xin vắng mặt.
2. Ông Trần Minh K, sinh năm 1988; địa chỉ: D, khối C, lô A, khu dân cư
H, khu phố E, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn xin vắng mặt.
3. Văn phòng C2; địa chỉ: sC, Nguyễn Chí T3, khu phố T, phường T,
Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Trương Nguyên T4, chức vụ: Trưởng
Văn phòng, là người đại diện theo pháp luật. Có đơn xin vắng mặt.
- Người kháng cáo: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đăng
C.
- Viện Kiểm sát kháng nghị: Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 05/QĐ-
VKS-DS ngày 08 tháng 10 năm 2025 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân
Khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 28/11/2023, ông Lê Đinh Công N, bà Nguyễn Hoa L1 (sau viết tắt là
ông N, L1) thỏa thuận kết Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử
dụng đất và tài sản gắn liền trên thửa đất số 933, tờ bản đồ số 8 theo Giấy chứng
nhận quyền sdụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số
3
vào sổ cấp GCN: CS 11132 ngày 16/11/2020, đứng tên ông Đinh Công N cho
Nguyễn Thị Hòa M (sau viết tắt là M) với giá là 5.000.000.000 đồng.
Ngày 28/11/2023, bà M đã đặt cọc 1.300.000.000 đồng đến ngày
22/12/2023 đặt cọc thêm 500.000.000 đồng. Tổng số tiền đã đặt cọc
1.800.000.000 đồng.
Do thửa đất số 933 đang thế chấp để bảo đảm khoản vay của ông N
tại Ngân hàng TMCP S (S1) - Chi nhánh P (sau viết tắt Ngân hàng) với số tiền
khoảng 3.200.000.000 đồng nên hai bên có thỏa thuận trong thời hạn 06 tháng từ
ngày đặt cọc, M thanh toán khoản vay của ông N T5 Ngân hàng để
xóa thế chấp và thực hiện các thủ tục hành chính chuyển nhượng quyền sử dụng
đất.
Ngày 12/4/2024, M đã chuyển khoản 3.165.000.000 đồng qua tài khoản
của ông Trần Minh K (con ruột bà M). Sau đó, ông K chuyển toàn bộ số tiền trên
vào số tài khoản thu nợ 36610080001 của Nguyễn Hoa Lê M1 tại Ngân hàng
TMCP S (S1) để thanh toán khoản vay của bà L1, ông N tại Ngân hàng.
Trong ngày 12/4/2024, bà M đã bàn giao số tiền còn lại 35.000.000 đồng
cho bên bà L1, ông N và nhận nhà, đất trên thực tế.
Cùng ngày 12/4/2024, hai bên cũng đã Hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất diện tích 194,4m
2
thuộc thửa đất s933, t
bản đồ số 8 tại phường T nhưng chưa chứng thực được vì chưa xóa thế chấp. Do
C1 sử dụng căn nđể tiếp tục kinh doanh nên đã thuê lại của bà M từ ngày
12/4/2024.
Ngày 17/2/2024 ngày 22/4/2024, ông N L1 đã ủy quyền cho ông
Trần Minh K, theo Hợp đồng ủy quyền số 6536, quyển số 04/2024 TP/CC-SCC-
HĐGD ngày 17/4/2024 do Văn phòng C3, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận
Hợp đồng ủy quyền số 6775, quyển số 04/2024 TP/CC-SCC-HĐGD ngày
22/4/2024 do Văn phòng C3, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận, để ông K tất
toán các khoản vay tại Ngân hàng, tiến hành các thủ tục xóa thế chấp, chuyển
nhượng sang tên cho bà M.
Ngày 03/5/2024, ông K thực hiện thủ tục chuyển nhượng cho M theo
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 2877, quyển số
05/2024/TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C2, tỉnh Bình Dương chứng thực.
Sau đó, M có liên hệ quan Nhà nước thẩm quyền để làm thủ tục
đăng ký sang tên chuyển quyền sử dụng đất thì được thông báo Tòa án nhân dân
thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã ban hành Quyết định áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời số 02/2024/QĐ-BPKCTT ngày 03/5/2024 để phong tỏa tài sản
đối với thửa đất số 933 nêu trên.
Do đó, bà M yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
- ng nhận hiệu lực pháp luật của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất được Văn phòng C2 công chứng ngày 03/5/2024, số công chứng 2877,
quyển số 05/2024/TP/CC-SCC/HĐGD đối với thửa đất số 933, tờ bản đồ số 8 tại
4
phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương giữa bên chuyển nhượng ông Đinh
Công N và Nguyễn Hoa L1 với bên nhận chuyển nhượng Nguyễn Thị
Hòa M.
- Công nhận cho bà Nguyễn Thị Hòa M được toàn quyền sử dụng phần đất
diện tích 194,4m
2
thuộc thửa đất số 933, tờ bản đồ số 8 tại phường T, thành
phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CY317756, số vào sổ cấp GCN: CS11132 do
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 16/11/2020. Tài sản gắn liền với
đất là căn nhà hai tầng kết cấu bê tông cốt thép, mái lợp tôn, tường gạch, nền lát
gạch diện tích khoảng 200m
2
và các tài sản khác gắn liền với đất.
- ng nhận cho Nguyễn Thị Hòa M được quyền liên hệ cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền để làm thủ tục sang tên chuyển quyền sử dụng đất và tài sản
gắn liền trên đất theo quy định của pháp luật.
Diện tích thửa đất nhận chuyển nhượng bao gồm 56,3m
2
(ODT 52,6m
2
và
CLN 3,7m
2
) đã bị thu hồi theo Quyết định số 2683/QĐ-UBND ngày 24/7/2023
của Ủy ban nhân dân thành phố T nên thuộc quyền sử dụng của M, bà M được
nhận tiền bồi thường.
Đối với yêu cầu độc lập của ông Đăng C (sau viết tắt là ông C) thì bà M
không đồng ý. Từ thời điểm hai bên thỏa thuận Hợp đồng đặt cọc ngày 28/11/2023
đến ngày Hợp đồng chuyển nhượng được công chứng ngày 03/5/2024 không
có bất kỳ bản án, quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác định thửa
đất số 933 có tranh chấp, bị biên, áp dụng biện pháp khác để bảo đảm thi hành
án. Trường hợp Tòa án tuyên bố hợp đồng hiệu thì M yêu cầu giải quyết
hậu quả hợp đồng vô hiệu đảm bảo quyền lợi của bà M.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Đinh ng N ông Nguyễn
Tấn T2 trình bày:
Thống nhất lời trình bày của nguyên đơn về quá trình thỏa thuận thực
hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất. M đã đặt cọc 1.800.000.000
đồng. Tại thời điểm giao kết hợp đồng, thửa đất đang thế chấp tại Ngân hàng
Thương mại Cổ phần S (S1) Chi nhánh P.
Ngày 12/4/2024, bà Nguyễn Hoa L1 ông Trần Minh K (con của M)
đến Ngân hàng thanh toán khoản vay nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
thực hiện thủ tục chuyển nhượng. Theo Biên bản làm việc cùng ngày, tổng dư nợ
tại thời điểm tất toán là 3.164.935.514 đồng. Ông Trần Minh K đã chuyển khoản
toàn bộ số tiền nêu trên vào tài khoản thu nợ số: 36610080001 đứng tên Nguyễn
Hoa L1, theo hướng dẫn của Ngân hàng S1. Ngân hàng cam kết sẽ trả lại bản
chính giấy chứng nhận quyền sdụng đất trong vòng 05 - 07 ngày kể từ ngày
hoàn thành nghĩa vụ thanh toán, đồng thời sẽ thông báo ngay cho ông K để cùng
tham dự tại thời điểm trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cùng ngày, hai bên
đã lập văn bản xác nhận tiền đã giao dịch (1.800.000.000 đồng đặt cọc +
3.164.935.514 đồng giải chấp) và bàn giao thực tế tài sản cho bà M quản lý.
5
Đến ngày 03/5/2024, Hợp đồng được chứng nhận hợp pháp theo số công
chứng 2877, quyển s05/2024/TP/CC-SCC/HĐGD. M không nộp được hồ
đăng sang tên tại Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai thành phố T do diện
tích đất chuyển nhượng đã bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Ông N xác
định giao dịch giữa ông N, bà L1 với bà M hợp pháp nên có hiệu lực theo Điều
117 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ông C cho rằng hợp đồng chuyển nhượng này nhằm “tẩu tán tài sản”
nhận định chủ quan không đúng thực tế. Giao dịch trên tiến hành công khai từ
ngày 28/11/2023 ký hợp đồng đặt cọc, đặt cọc bổ sung, thanh toán khoản vay tại
Ngân hàng S1, giải chấp tài sản, bàn giao tài sản thực tế hợp đồng được
công chứng theo quy định pháp luật vào ngày 03/5/2024. Số tiền ông N chuyển
nhượng thửa đất trên đã sử dụng toàn bộ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay tại Ngân
hàng S1 là khoản vay bảo đảm 3.164.935.514 đồng số tiền còn lại thanh
toán nghĩa vụ trả nợ cho ông C là khoản vay không tài sản bảo đảm. Ông N đã
chuyển khoản cho ông C 2.779.999.900 đồng qua số tài khoản 39363688888 -
Ngân hàng M3 (ngày 28/11/2023, chuyển khoản 700.000.000 đồng; ngày
01/12/2023, chuyển khoản 999.999.900 đồng; ngày 16/12/2023, chuyển khoản
380.000.000 đồng; ngày 22/12/2023, chuyển khoản 700.000.000 đồng).
Vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” do ông Lê Đăng C khởi kiện Tòa
án thụ vào ngày 17/5/2024 được giải quyết bằng Quyết định công nhận s
thỏa thuận của các đương sự vào ngày 21/8/2024 sau thời điểm giao dịch chuyển
nhượng đã hoàn tất về mặt thực tế pháp lý. Vì giữa ông C ông N qua làm ăn
phát sinh khoản nợ hơn 20 tỷ đồng từ ngày 01/6/2023 đến ngày 27/11/2023,
ông N đã nhiều lần thanh toán cho ông C số tiền 23.266.499.270 đồng. Do ông C
liên tục đòi nợ gây áp lực nên ông N đã đề nghị ông C nhận chuyển nhượng thửa
đất 933 để trừ nợ nhưng C không đồng ý thửa đất 933 đang thế chấp Ngân hàng.
vậy, ông N đã tìm người khác chuyển nhượng nhà đất số tiền chuyển nhượng
đã thanh toán nợ cho Ngân hàng và ông C.
Ông N khẳng định rằng việc chuyển nhượng tài sản cho Nguyễn Thị
Hòa M loại trừ nghĩa vụ trả nợ của ông N đối với ông Lê Đăng C. Ông N còn số
tiền khoảng 1,6 tỷ đồng bồi thường do Ủy ban nhân dân thành phố T thu hồi đất,
theo Quyết định số 2683/-UBND ngày 24/7/2023 và Quyết định số 3411/-
UBND ngày 08/8/2023. Tuy nhiên, số tiền này hiện đang do Trung tâm Phát triển
quỹ đất tỉnh Bình Dương quản lý và chưa được chi trả, do ông C đơn đề nghị
tạm ngưng chi trả. Ông N đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ án theo quy định
pháp luật.
Bị đơn Nguyễn Hoa L1 trình bày: Thống nhất lời trình bày của ông N.
Riêng tiền bồi thường thu hồi diện tích đất 56,3m
2
thuộc thửa đất số 933 đã chuyển
nhượng cho M nên bà M được nhận tiền bồi thường.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập ông Lê Đăng C
do người đại diện hợp pháp là ông Lê Quang Đ trình bày:
6
Ông Đăng C nguyên đơn trong vụ án dân sự thụ số 159/2024/TLST-
DS ngày 17/5/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” với bị đơn là ông
Đinh Công N Nguyễn Hoa . Trong quá trình giải quyết vụ án, đtránh
trường hợp ông N chuyển nhượng thửa đất số 933 nhằm tẩu tán tài sản, gây khó
khăn, cản trở cho quá trình giải quyết vụ án thi hành án, ông C đã yêu cầu áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Ngày 03/5/2024, Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 02/2024/QĐ-
BPKCTT: “Phong tỏa quyền sử dụng đất thửa đất số 933, tờ bản đồ số 8 tại
phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số vào sổ CS11132 ngày 16/11/2020 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B
cấp cho ông Lê Đinh Công N”.
Ngày 21/8/2024, Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số
106/2024/QĐST-DS.
Ngày 28/11/2024, Chi cục Thi hành án dân sthành phố Tân Uyên ban
hành Quyết định số 13/QĐ-CCTHADS về việc cưỡng chế kê biên quyền sử dụng
đất tài sản gắn liền với đất đối với quyền sử dụng đất thửa đất số 933, tờ bản
đồ số 8 tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số CY 317756, số vào sổ CS 11132 ngày 16/11/2020 do Sở Tài
nguyên Môi trường tỉnh B cấp cho ông Đinh Công N. Do ông Đinh Công
N liên tục trốn tránh làm việc với cơ quan thi hành án nên việc thi hành án gặp
nhiều cản trở.
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Nguyễn Thị Hòa M
với ông Đinh Công N, Nguyễn Hoa L1 đối với thửa đất số 933 vào ngày
03/5/2024 trong khi quyền sử dụng đất đã bị phong tỏa là trái quy định của pháp
luật. Mặt khác, thời điểm này ông N gửi cho ông C bản chụp hợp đồng chuyển
nhượng có công chứng với giá trị 5.000.000.000 đồng để yêu cầu ông C hủy yêu
cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm đăng biến động quyền sử dụng
đất. Thực tế ông N không nhận 5.000.000.000 đồng trả nợ cho ông C. Hợp đồng
giữa ông N, L1 vớiM hợp đồng giả cách, trái với quy định của pháp luật,
nhằm tẩu tán tài sản để trốn tránh thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ông C. Do đó, ông
C có yêu cầu độc lập như sau:
Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển
nhượng ông Đinh Công N Nguyễn Hoa L1 với bên nhận chuyển
nhượng Nguyễn Thị Hòa M đối với thửa đất số 933, tờ bản đồ số 8 tại phường
T, thành phố T, tỉnh Bình Dương vô hiệu.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Hiệp L3 ông Trần Minh
K: Thống nhất lời trình bày và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C2 cung cấp thông tin:
Ngày 03/5/2025, ông Trần Minh K (đại diện theo ủy quyền của ông
Đinh Công N và Nguyễn Hoa L1) với Nguyễn Thị Hòa M yêu cầu công
7
chứng viên Văn phòng C2 chứng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất đối với thửa đất số 933, tờ bản đồ số 8, diện ch 194,4m² tọa lạc tại phường
T, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CY317756, số vào sổ cấp GCN:
CS11132 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 16/11/2020.
Tại thời điểm công chứng, Công chứng viên Văn phòng C2 đã kiểm tra, tra
cứu không có thông tin ngăn chặn trên phần mềm sở dữ liệu công chứng tỉnh
Bình Dương, không nhận được đơn thư thưa kiện của đương sự, không nhận được
thông báo thụ vụ án của Tòa án và nhận thấy các bên tham gia ký kết hợp đồng
năng lực hành vi dân sự phù hợp theo quy định của pháp luật, đã tự nguyện
thỏa thuận giao kết hợp đồng, nội dung thỏa thuận các bên trong hợp đồng không
vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức hội. Các bên đã đọc lại
hợp đồng, đã đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong hợp đồng và đã ký vào hợp đồng
trước sự mặt của công chứng viên. Công chứng viên đã giải thích hậu quả pháp
của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đúng thủ tục, đúng trình tự
và tuân theo quy định của pháp luật.
Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 17 - Thành phố Hồ CMinh văn
bản cung cấp thông tin có nội dung như sau:
Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương (nay là
Phòng Thi hành án dân sKhu vực 17 - Thi hành án n sự Thành phố Hồ Chí
Minh) nhận được Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số
02/2024/QĐ-BPKCTT ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên
vào cùng ngày 03/5/2024.
Hiện nay Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 17 - Thi hành án dân sự Thành
phố H đang thi hành Quyết định công nhận thỏa thuận của các đương s số
106/2024/QĐST-DS ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 95/2025/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hòa M với
bị đơn ông Lê Đinh Công N và bà Nguyễn Hoa L1 về việc Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng
C2 công chứng ngày 03/5/2024, số công chứng 2877, quyển số 05/2024/TP/CC-
SCC/HĐGD đối với thửa đất số 933 tờ bản đồ số 8 tại phường T, thành phố T,
tỉnh Bình Dương (nay phường T, Thành phố Hồ CMinh) giữa bên chuyển
nhượng ông Đinh Công N Nguyễn Hoa L1 với bên nhận chuyển
nhượng là bà Nguyễn Thị Hòa M có hiệu lực pháp luật.
Nguyễn Thị Hòa M được quyền sử dụng diện tích 194,4m
2
thuộc thửa
đất số 933 tờ bản đồ số 8 tại phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Tài sản gắn liền
với đất là căn nhà ở diện tích 95,5m
2
; mái che diện tích 65,4m
2
; mái che di động
diện tích 23,4m
2
. (Kèm theo mảnh trích lục địa chính)
8
Các đương sự quyền, nghĩa vụ liên hệ quan Nhà nước thẩm quyền
thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến quyền sử dụng đất và tài sản gắn
liền trên đất theo quy định của pháp luật.
2. Không chấp nhận nhận yêu cầu độc lập của người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan ông Lê Đăng C.
Ngoài ra, bản án còn tuyên vchi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo,
trách nhiệm thi hành án.
Ngày 06/10/2025, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu độc
lập ông Đăng C kháng cáo toàn bộ bản án thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc
thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
Ngày 08/10/2025, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 17 - Thành
phố Hồ Chí Minh có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 05/QĐ-VKS-DS theo
hướng hủy bản án dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan ông Đăng C giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không
thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên
kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 17 - Thành phố Hồ
Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: đề nghị Hội đồng xét
xử không chấp nhận kháng cáo của ông C, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Quyền sử
dụng đất hợp đồng chuyển nhượng tuân thủ quy định tại khoản 1 Điều 188
Luật Đất đai năm 2013 (tương ứng với khoản 1 Điều 45 Luật Đất đai 2024)
khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013. Bên nhận chuyển nhượng bà Nguyễn
Thị Hòa M đã thanh toán hết tiền chuyển nhượng, nhận bàn giao thực tế đất và tài
sản trên đất để quản lý, sử dụng đã thực hiện nộp hồ sang tên quyền sử dụng
đất tại quan đăng đất đai. Nvậy, đủ căn cứ để xác định hợp đồng
chuyển nhượng bất động sản y là một giao dịch có thật, công khai, hợp pháp
đã hoàn tất, đầy đủ các yếu tố của một giao dịch dân shiệu lực theo quy
định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Bị đơn không trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho ông C, ngoài thửa đất nêu trên thì bị
đơn đang chủ sử dụng thửa đất số 1473, tờ bản đồ số 3 tọa lạc tại phường T,
Thành phố Hồ Chí Minh do Nguyễn Hoa L1 đại diện đứng tên. Đồng thời, phía
bị đơn cam kết nghiêm túc thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ông Đăng C theo
Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 106/2024/QĐST-DS ngày 21/8/2024.
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của ông C
đều khẳng định tại thời điểm ông N, bà L1 ký kết hợp đồng đặt cọc, hợp đồng
chuyển nhượng bất động sản tại thửa đất 933 cho M thì ông N đều thực hiện
9
công khai chụp hợp đồng chuyển nhượng gửi cho ông C biết. Điều này càng
khẳng định bị đơn ông N và L1 không có hành vi che giấu giao dịch nhằm
mục đích tẩu tán tài sản. Từ thời điểm ngày 01/6/2023 đến ngày 27/11/2023, ông
N đã trả cho ông C số tiền 23.266.499.270 đồng. Đồng thời, thửa đất số 933 không
phải là tài sản bảo đảm cho hợp đồng vay giữa ông C, ông N và bà N1 khi ông
N và bà Lê N tiền đặt cọc từ bà M đã dùng tiền đặt cọc cùng với tài sản khác của
mình để thanh toán một phần nợ cho ông C với số tiền là 2.799.999.900 đồng, số
tiền chuyển nhượng còn lại dùng thanh toán tiền vay bảo đảm tại Ngân hàng.
Mặt khác, tại Biên bản định giá ngày 08/5/2025 thể hiện tổng gtrị đất và tài sản
trên đất 4.102.614.380 đồng. Kết quả định giá tài sản ngày 23/11/2020 của
Ngân hàng 4.405.000.000 đồng. Như vậy, giá trị nhà, đất tại thửa đất số 933
qua định giá đều thấp hơn giá bà M nhận chuyển nhượng là 5.000.000.000 đồng.
Nên việc ông Lê Đăng C yêu cầu tuyên bố Hợp đồng nêu trên vô hiệu do giả tạo
là không có căn cứ.
vậy, có đủ sở để xác định Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất số công chứng 2877 ngày 03/5/2025 giữa bên chuyển nhượng là Nguyễn Hoa
L1, Đinh Công N và bên nhận chuyển nhượng Nguyễn Thị Hòa M là có hiệu
lực pháp luật. Hợp đồng chuyển nhượng là thật, giao dịch diễn ra công khai,
minh bạch, tự nguyện không nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ với bất kỳ bên
thứ ba nào. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Đinh Công N trình bày: Ông
N L1 đã chuyển nhượng cho M toàn bộ thửa đất số 933, bao gồm phần
diện tích đất bị thu hồi; thỏa thuận bằng lời nói vtiền bồi thường đất bị thu
hồi cũng thuộc về M. Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa ông N, bà L1bà M.
Bị đơn Nguyễn Hoa L1: thống nhất ý kiến đã trình bày, đề nghị Hội đồng
xét xử công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông N, bà L1
và bà M.
Đại din Vin Kim sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan
điểm:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Những người tiến hành tố tụng
người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đơn kháng cáo của ông Lê Đăng C trong hạn luật định.
Về việc giải quyết vụ án: Sau khi phân tích các tình tiết của ván, đối chiếu
với quy định của pháp luật nhận thấy thửa đất số 933 đã bị thu hồi một phần diện
tích đất 56,3m² thu hồi đền bù 1.600.000.000 đồng nhưng chưa được chi tr
do tranh chấp, tiền vẫn nằm tại Trung tâm Phát triển quỹ đất thuộc Ủy ban nhân
dân thành phố T. Tòa án cấp thẩm không đưa Ủy ban nhân dân thành phố T
vào tham gia tố tụng với cách người quyền lợi, nghĩa vliên quan vi phạm
Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân s2015. Đồng thời, thửa đất số 933 nêu trên đã bị
Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên ra Quyết định biên theo Quyết
10
định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án nhân dân thành phố Tân
Uyên nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không đưa Cơ quan thi hành án dân sự tham gia
tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là thiếu sót.
Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 17 Thành
phố Hồ Chí Minh là có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án dân
sự sơ thẩm, giao hồ cho Tòa án cấp thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục
chung.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được
thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình y
của đương sự, Luật sư, Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc
lập ông Đăng C đúng quy định nộp trong thời hạn quy định tại Điều 272,
Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên đủ điều kiện để thụ lý và xét
xử theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Hiệp L3,
ông Trần Minh K, người đại diện hợp pháp của Văn phòng C2 vắng mặt do
yêu cầu giải quyết vắng mặt, nên căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định.
[2] Về kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Đăng
C kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 17 - Thành
phố Hồ Chí Minh thấy rằng:
[2.1] Thửa đất số 933, tờ bản đồ số 8, tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình
Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh), diện tích 194,4m
2
, theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với
đất số vào sổ cấp GCN: CS 11132 ngày 16/11/2020, đứng tên ông Lê Đinh Công
N là tài sản chung của ông N L1. Trong đó, diện tích 56,3m
2
(ODT
52,6m
2
CLN 3,7m
2
) đã bị thu hồi theo Quyết định s2683/QĐ-UBND ngày
24/7/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố T về việc thu hồi đất của ông Lê Đinh
Công N để thực hiện công trình nâng cấp, mở rộng đường từ ngã B đến ngã ba
giao với tuyến đường Đ.
[2.2] Bà M, bà L1 cho rằng bà M nhận chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số
933, diện tích 194,4m
2
, khi nhận chuyển nhượng biết đất bị thu hồi một phần
các bên thỏa thuận M được hưởng tiền bồi thường quyền sử dụng đất khi
nhà nước chi trả. Riêng ông N tại Tòa án cấp sơ thẩm xác định không chuyển
nhượng diện ch 56,3m
2
bthu hồi nhưng đến phiên tòa phúc thẩm, người đại
diện hợp pháp của ông N thừa nhận đã chuyển nhượng cho M toàn bộ thửa đất
số 933, gồm diện tích đất bị thu hồi 56,3m
2
. Như vậy, M ông N, L1 đã
11
thỏa thuận chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 933 nêu trên, bao gồm phần diện
tích đất đã bị thu hồi.
Tại khoản 11 Điều 3 của Luật Đất đai 2013 quy định:“Nhà nước thu hồi
đất là việc Nnước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà
nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp
luật về đất đai”. thể thấy việc Nhà nước thu hồi đất làm dẫn đến hậu quả pháp
lý làm chấm dứt quyền sử dụng đất của người sử dụng đất và Nhà nước trả lại giá
trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi nếu thuộc trường hợp thu hồi
đất có đền bù. Tức về mặt pháp luật, ông N và bà M chấm dứt quyền sử dụng đối
với một phần diện tích thuộc thửa đất số 933, cụ thể diện tích đất bị thu hồi 56,3m
2
,
thời điểm này quyền sử dụng đất thuộc quyền quản của Ủy ban nhân n
thành phố T.
Tuy nhiên, khi giải quyết vụ án, Tòa án cấp thẩm không đưa quan
quản lý đất đai đối với phần đất bị thu hồi tham gia tố tụng với tư cách người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để làm rõ quyền lợi của nhà nước, quyền lợi chủ sử
dụng đất đối với phần đất bị thu hồi là thiếu sót.
[2.3] Căn cứ Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất tài
sản trên đất ngày 28/11/2023; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
12/4/2024; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 03/5/3024 giữa bên
chuyển nhượng là ông Lê Đinh Công N, bà Nguyễn Hoa L1 và bên nhận chuyển
nhượng là bà Nguyễn Thị Hòa M không có nội dung thỏa thuận nào đối với diện
tích đất bị thu hồi quyền lợi đối với số tiền bồi thường theo Quyết định số
3411/QĐ-UBND ngày 08/8/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố T. M ông
N, L1 đều không chứng minh được thỏa thuận về việc ai được hưởng quyền
đối với số tiền được bồi thường do thu hồi đất. Lời khai của ông N còn mâu thuẫn
với nhau về nội dung này. Đồng thời, Quyết định số 3411/QĐ-UBND ngày
08/8/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố T đã quyết định bồi thường, htrợ cho
ông Đinh Công N. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm không thể xem xét, giải quyết
số tiền bồi thường thuộc về ai trong vụ án này, nếu giải quyết sẽ vi phạm nguyên
tắc hai cấp xét xử.
[2.4] Ngoài ra, ngày 15/4/2024, ông C khởi kiện ông N V việc
tranh chấp hợp đồng vay tài sản, đồng thời yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời phong tỏa đối với thửa đất số 933 nêu trên.
Ngày 03/5/2024, Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên ban hành Quyết
định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 02/2024/QĐ-BPKCTT ngày
03/5/2024 phong tỏa đối với thửa đất số 933 nêu trên. giao quyết định trên cho
Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên vào hồi 14 giờ 50 phút ngày
03/5/2024.
Ngày 03/5/2024, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên ban hành
Quyết định thi hành án số 1330/QĐ-CCTHADS.
Cùng ngày 03/5/2024, ông Đinh Công N Nguyễn Hoa K1
chuyển nhượng cho Nguyễn Thị Hòa M thửa đất s933, tờ bản đsố 8 theo
12
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C2 công chứng
ngày 03/5/2024, số công chứng 2877, quyển số 05/2024/TP/CC-SCC/HĐGD.
Ngày 04/5/2024, Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai thành phố T nhận
quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nên bà M không thực hiện được
thủ tục đăng ký biến động theo quy định.
Ngày 28/11/2024, Chi cục Thi hành án dân sthành phố Tân Uyên ban
hành Quyết định số 13/QĐ-CCTHADS về việc cưỡng chế kê biên quyền sử dụng
đất tài sản gắn liền với đất đối với quyền sử dụng đất thửa đất số 933, tờ bản
đồ số 8 tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (bút lục 205).
Xét thấy, thửa đất số 933 nêu trên không phải tài sản bảo đảm cho giao
dịch vay tài sản giữa ông C ông N, bà L1 mà đây tài sản được thế chấp để
bảo đảm nghĩa vụ trả nợ vay tín dụng của L1 ông N với Ngân hàng. Trường
hợp bà M không nhận chuyển nhượng thì tài sản thuộc tài sản thế chấp hợp pháp
cho Ngân hàng. Do đó, Minh chứng M2 được đã thanh toán hết tiền chuyển
nhượng cho ông N, bà Lê N1 quyền lợi của bà M2 phải được bảo đảm trong giao
dịch chuyển nhượng thửa đất số 933. Tuy nhiên, hiện nay các quyết định nêu trên
vẫn đang có hiệu lực thi hành, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên công nhận hiệu lực của
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C2 công chứng
ngày 03/5/2024, số công chng 2877, quyển số 05/2024/TP/CC-SCC/HĐGD
Nguyễn Thị Hòa M được quyền sử dụng diện tích 194,4m
2
thuộc thửa đất số
933, tờ bản đồ số 8 tại phường T, Thành phố Hồ Chí Minh và tài sản gắn liền với
đất là căn nhà ở diện tích 95,5m
2
; mái che diện tích 65,4m
2
; mái che di động diện
tích 23,4m
2
không xém xét hiệu lực của các quyết định nêu trên, không xem
xét đến diện tích đất bị thu hồi số tiền đền bù, chưa đánh giá toàn diện hiệu lực
của hợp đồng chuyển nhượng dẫn đến công nhận cdiện tích đất bị thu hồi cho
nguyên đơn là không thể thi hành án được.
[2.5] Tnhững nhận định nêu trên nhận thấy, Tòa án cấp thẩm sai sót
trong việc giải quyết vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được, cho
nên cần thiết phải hủy bản án thẩm, giao hồ cho Tòa án cấp thẩm giải
quyết lại vụ án theo thtục chung. Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân Khu vực 17 Thành phố Hồ Chí Minh và kháng cáo của ông Lê Đăng
C là có cơ sở chấp nhận.
[3] Quan điểm vnội dung giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp.
[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 3 Điều 308, Điều 310, Điều 313 của B
luật Tố tụng dân sự;
13
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu
cầu độc lập ông Đăng C; chấp nhận kháng nghị theo Quyết định kháng ngh
phúc thẩm số 05/QĐ-VKS-DS ngày 08 tháng 10 năm 2025 của Viện trưởng Viện
Kiểm sát nhân dân Khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 95/2025/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Giao hồ vụ án cho Tòa án nhân dân Khu vực 17 Thành phố Hồ C
Minh giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Hoàn trả cho ông Lê Đăng C 300.000 đồng
(ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai
thu tạm ng án phí, lệ phí Tòa án số 0025651 ngày 13/10/2025 của Thi hành án
dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
- THADS Thành phố Hồ Chí Minh;
- Phòng THADS Khu vực 17 – Thành phố Hồ
Chí Minh;
- TAND khu vực 17 Thành phố Hồ Chí
Minh;
- Đương sự;
- Lưu: HS, VP (19).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Thanh Trúc
Tải về
Bản án số 610/2026/DS-PT Bản án số 610/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 610/2026/DS-PT Bản án số 610/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất