Bản án số 611/2026/DS-PT ngày 31/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 611/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 611/2026/DS-PT ngày 31/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 611/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 31/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: HỦY BẢN ÁN SƠ THẨM DO THU THẬP CHỨNG CỨ CHƯA ĐẦY ĐỦ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 611/2026/DS-PT
Ngày 31-3-2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Trúc.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Dũng;
Bà Nguyễn Thị Duyên Hằng.
- Tphiên tòa: Trần Hoài Thu Thư Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm t nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Đặng Kim Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh ( sở B) xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số
1155/2025/TLPT-DS ngày 10 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử
dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 64/2025/DS-ST ngày 29 tháng 5 năm 2025
của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân
dân Khu vực 17 – Thành phố Hồ Chí Minh) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 7093/2025/QĐ-PT ngày
28 tháng 11 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm 23439/2025/QĐ-PT
ngày 26 tháng 12 năm 2025; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 880/2026/QĐ-
PT ngày 16 tháng 01 năm 2026; Thông báo mở lại phiên tòa phúc thẩm số
2621/2026/TB-TA ngày 02 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trương Văn T, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị Kim
H, sinh năm 1959; địa chỉ: khu phố C, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương
(nay là khu phố C, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn (đối với bị đơn Huỳnh Thị L):
Ông Phạm Tiến Thiên T1, sinh năm 1983; địa ch: A1e.5.06, khu phố D, phường
A, thành phố T, tỉnh nh Dương (nayA1e.5.06, khu phố D, phường A, Thành
phố Hồ Chí Minh), là người đại din theo y quyền của nguyên đơn (Giấy y
quyn ngày 27/10/2023). Có mặt.
2
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn Nguyễn Thị
Kim H: Trần Thị Hải Y Luật sư của Văn phòng Luật sư Phạm Thiên T1
thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. Có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn:
1. Huỳnh Thị L, sinh năm 1932; địa chỉ: tổ D, khu phố C, phường T,
thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố C, phường T, Thành phố Hồ Chí
Minh).
Người đại diện hợp pháp của bị đơn bà Huỳnh Thị L: Ông Trương Văn N,
sinh năm 1961; địa chỉ: số E, đường Đ, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh
Đồng Nai (nay là số E, đường Đ, khu phố A, phường T, tỉnh Đồng Nai), là người
đại diện theo ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền ngày 23/10/2023). Có mặt.
2. Ông Trương Long C, sinh năm 1957; địa chỉ: số A C, khu phố P, phường
T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; địa chỉ hiện nay: tổ D, khu phố C, phường T, thành
phố T, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố C, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).
Có mặt.
3. Nguyễn Thị H1 (Huỳnh Thị T2), sinh năm 1932; địa chỉ: tổ D, khu
phố C, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay khu phố C, phường T,
Thành phố Hồ Chí Minh). Có đơn xin vắng mặt.
4. Trần Thị Mai T3, sinh năm 1974; địa chỉ: số F, khu phố D, phường
T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay số F, khu phố D, phường T, tỉnh Đồng Nai).
Có đơn xin vắng mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Trương Văn T, Nguyễn Thị Kim
H; bị đơn bà Huỳnh Thị L, ông Trương Long C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
V chng ông Trương Văn T, bà Nguyễn Thị Kim H (sau viết tắt là ông
T, bà H) qun lý, s dng thửa đất s 948, t bản đồ s 06, din tích 1.202m
2
, ti
phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, theo Giy chng nhn quyn s dng
đất (sau viết tắt là GCNQSDĐ) số CH00243 do y ban nhân dân (sau viết tắt là
UBND) huyện T, tỉnh Bình Dương cp ngày 24/02/2011. Thửa đất số 948 trưc
đây thuộc mt phn thửa đất s 20 có din tích khong 1.945m
2
, do v chng
ông T, bà H khai phá trưc năm 1980.
Phần còn lại của thửa đất số 20 thì một phần diện tích khoảng 743m
2
, bà
Huỳnh Thị L đã làm thủ tục cấp GCNQSDĐ, cụ thể: thửa đất số 1069 diện tích
287,8m
2
, nhập vào thửa đất số 715 diện tích 264,9m
2
theo GCNQSDĐ số
CU039482, số vào sổ cấp GCN: CH02283 do y ban nhân dân thị xã T, tỉnh
Bình Dương cấp ngày 17/01/2020 cho bà Huỳnh Thị L; phần còn lại là 190,3m
2
thuộc thửa đất số 20, hiện nay chưa được cấp GCNQSDĐ và phần đất này hiện
do v chng ông T, bà H đang quản lý, sử dụng.
3
Do đó, v chng ông T, bà H khi kin yêu cu Tòa án gii quyết: Công
nhận cho ông T, H được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 743m
2
, trong đó:
thửa đất số 20 diện tích 190,3m
2
; thửa đất số 1069 diện tích 287,8m
2
; thửa đất số
715 diện tích 264,9m
2
, tờ bản đồ số 06 tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình
Dương kiến nghị y ban nhân dân thành phố T thu hồi GCNQSDĐ số CU
039482, số vào sổ cấp GCN CH02283 ngày 17/01/2020 cấp cho Huỳnh Thị
Lữ .
Ngày 09/9/2024, ông T và H khởi kiện bổ sung đối vi ông Trương
Long C, Nguyễn Thị H1Trần Thị Mai T3 (sau viết tắt là ông C, bà H1,
T3) yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông C, H1 T3 nghĩa vụ trả
lại cho ông T H diện tích đất khoảng 200m
2
, tại khu phố C, phường T,
thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Đối vi các cây tràm trên đất tranh chấp do nguyên đơn trồng, đối vi
diện tích đất 01m
2
nguyên đơn không tranh chấp.
Đối vi diện tích đất 287m
2
thuộc thửa đất s 46 chưa ai được cấp
GCNQSDĐ, phần đất này nguyên đơn đang quản lý, sdụng, không ai tranh chấp
phần đất này nên nguyên đơn không tranh chấp.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối vi các bị
đơn yêu cầu Tòa án công nhận cho nguyên đơn diện tích đất 766,6m
2
, trong
đó: 190,3m
2
thuộc thửa đất số 20; 176,2m
2
thuộc thửa đất số 46; 121,9m
2
thuộc
thửa đất số 715 và 278,2m
2
thuộc thửa đất số 1069 theo Mảnh trích lục địa chính
ngày 24/5/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai thị T, tỉnh Bình
Dương yêu cầu bị đơn ông C, H1, T3 trả lại 47,3m
2
thuộc thửa đất số
716 theo Mảnh trích lục địa chính ngày 21/01/2025 của Chi nhánh Văn phòng
đăng ký đất đai thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Đối vi kết quả đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai thành
phố T, tỉnh Bình ơng ngày 21/01/2025 thì nguyên đơn không đồng ý cho
rằng kết quả đo đạc không lồng ghép bản đồ cấp GCNQSDĐ nên không xác định
được phần đất các bị đơn sử dụng của nguyên đơn. Do đó, nguyên đơn yêu cầu
Tòa án hoãn phiên tòa để tiến hành đo đạc, định giá lại đất tranh chấp. Đối vi
chữ ký của ông T tại Phiếu lấy ý kiến khu dân cư đề ngày 31/7/2018 trong hồ sơ
cấp đất cho Huỳnh Thị L tại Biên bản về việc đo đạc và xác định hiện trạng
mốc ranh gii sử dụng đất ngày 28/8/2014 trong hồ sơ cấp đất cho ông Trần Tử
B không phải chữ của ông T nên nguyên đơn yêu cầu giám định chữ ký của
ông T trong hai văn bản này.
Người đại din hp pháp ca b đơn Huỳnh Thị L ông Trương Văn
N trình bày:
Ông Trương Văn T, bà Nguyễn Thị Kim H mối quan hệ anh em họ
vi cha, mẹ của ông N là ông Trương Văn C1, chết năm 2003 và Huỳnh Thị
Lữ . Thửa đất s 20 có ngun gc là do ông bà nội để li t trưc năm 1975. Gia
đình ông T, bà H s dng mt phn thửa đất s 20 (là phần đất thuc thửa đất s
948), gia đình bà L qun lý, s dng phần đất còn li (nay là tha 1069, tha
4
715) và 01 phần đất thuc thửa 20 (chưa được cấp GCNQSDĐ). Năm 2010, ông
T, bà H làm th tc cấp GCNQSDĐ đối vi phần đất ông, bà qun lý, có đo đạc
thc tế và bà Huỳnh Thị L có ký xác nhn ranh gii đất được th hin ti Biên
bản trích đo địa chính thửa đất ngày 27/9/2010 ca Chi nhánh Văn phòng đăng
đất đai thị T, tỉnh Bình Dương. Bn v th hin r nội dung: diện tích
743m
2
thuộc thửa đất 20 là phần đất bà Huỳnh Thị L quản lý, sử dụng. Ngoài ra,
h cấp đất ca ông T, bà H còn có các văn bản khác thể hiện ôngxin cấp
GCNQSDĐ vi diện tích 1.202m
2
, thửa đất s 948 như Công văn số
1300/CNTU-KT ngày 24/5/2021 của Văn phòng Đăng đất đai thị xã T, tỉnh
Bình Dương.
Phần đất n li ca thửa đất s 20 do bà L qun lý, s dụng. Đến năm
2020, bà L làm th tc xin cấp GCNQSDĐ đi vi phần đất còn li ca thửa đất
s 20 và các thửa đất s 714, 715, 8, 893, 463, 379. Ngày 17/01/2020, bà L đưc
UBND thị T, tỉnh Bình Dương cấp GCNQSDĐ số CH02283 bao gm các tha
đất s 379, 463, 8, 714, 715, 893, 1069, trong đó mt phần đất ca thửa đất s 20
nhp vào tha 715, hình thành tha mi là 1069. Thời điểm bà L đưc cấp đất,
ông T, bà H là người cắm cột mốc để phân định ranh gii vi thửa đất số 948.
Nguyên đơn cho rằng đã trng tràm trên đất là không có căn c là vì trưc khi bà
L làm th tc cấp GCNQSDĐ vào năm 2020, v chng ông T, bà H có xin bà L
trng tràm ti gn phần đt có m của gia đình bà L. Do mối quan hlà anh
em trong gia đình nên bà L mi đồng ý cho trng tràm, không có vic ông, bà
qun lý s dng phần đất này như đơn khởi kiện đã nêu. Vic cấp GCNQSDĐ
cho bà L là hp pháp nên ông N đề ngh Tòa án không chp nhn toàn b yêu cu
khi kin của nguyên đơn.
Đối vi cây trồng trên thửa đất số 1069, phần đất còn lại của thửa đất số 20
do nguyên đơn trồng, bị đơn s thanh toán lại giá trị cho nguyên đơn theo kết
quả định giá của Hội đồng định giá thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Bị đơn ông Trương Long C trình bày:
Cha của ông C là ông Trần Tử B, sinh năm 1927, chết năm 2018. Ông B
vợ tên Nguyễn Thị H1 (còn có tên gọi khác là bà Huỳnh Thị T2). Ông B bà T2
có 02 người con chung là ông C và bà Trần Thị Mai T3. Ngoài những người con
này, ông B không còn người con nuôi, con riêng nào khác.
Thửa đất số 716, tờ bản đồ số 06, diện tích 162m
2
tại phường T, thành phố
T, tỉnh Bình Dương, ông Trần Tử B được y ban nhân dân thị T, tỉnh Bình
Dương cấp GCNQSsố CH01309 ngày 17/3/2015. Nguồn gốc đất do ông
nội để lại cho cha mẹ của ông C. Tại cạnh hưng y tiếp giáp đường đất (hiện
trạng đường nhựa). Con đường này trưc đây đường đất nhưng sau đó N
nưc vận động nhân dân hiến đất làm đường nên gia đình ông C hiến một phần
đất thuộc thửa đất s716 làm đường nên con đường mi rộng như hiện nay, phần
đất còn lại gia đình ông C vẫn quản lý, sdụng đến nay. Tiếp giáp đất gia đình
ông C là phần đất còn lại của thửa đất số 20 do bà Huỳnh Thị L quản lý, sử dụng,
không tiếp giáp thửa 948 của ông T, H. Do đó, việc ông T, H tranh chấp vi
5
gia đình ông C, ông không đồng ý, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo đúng quy
định của pháp luật.
Bị đơn bà Nguyễn Thị H1 (Huỳnh Thị T2), bà Trần Thị Mai T3 thống nhất
ý kiến trình bày của ông Trương Long C.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông T, bà H trình
bày ý kiến tranh luận: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn ông T, bà H đối vi bị đơn ông C, bà H1, bà T3.
Tại Bản án dân sự thẩm số 64/2025/DS-ST ngày 29 tháng 5 năm 2025
của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân
dân Khu vực 17 Thành phố Hồ Chí Minh) đã tuyên:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Văn T,
Nguyễn Thị Kim H vi bị đơn Huỳnh Thị L về việc yêu cầu công nhận diện
tích đất 725m
2
trong đó thửa đất số 20 diện tích 99,5m
2
; thửa đất số 1069 diện tích
344,1m
2
; thửa đất số 715 diện tích 234,1m
2
, tờ bản đồ số 06 tại phường T, thành
phố T, tỉnh Bình Dương.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Văn T,
Nguyễn Thị Kim H vi bị đơn ông Trương Long C, bà Nguyễn Thị H1 (Huỳnh
Thị T2), bà Trần Thị Mai T3 về việc yêu cầu ông Trương Long C, bà Nguyễn Thị
H1 (Huỳnh Thị T2), Trần Thị Mai T3 chấm dt hành vi cản trở ông Nguyễn
Văn T4, Nguyễn Thị Kim H sử dụng đất trả lại diện tích đất khoảng 47,3m
2
,
thuộc thửa đất số 716.
3. Huỳnh Thị L nghĩa vụ thanh toán gtrị 284 cây tràm trên phần
diện tích đất 223,1m
2
thuộc thửa 715, thửa đất số 1069 và diện tích 99,5m
2
thuộc
thửa đất số 20, tờ bản đồ số 06, tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương cho
ông Trương Văn T, Nguyễn Thị Kim H vi số tiền 63.900.000 đồng (sáu
mươi ba triệu chín trăm nghìn đồng). Sau khi thanh toán xong, Huỳnh Thị L
được quyền sở hữu các cây tràm trên.
4. Ông Trương Long C, Nguyễn Thị H1 (Huỳnh Thị T2), bà Trần Thị
Mai T3 nghĩa vụ thanh toán giá trị 25 cây tràm trên phần đất tranh chấp 47,3m
2
thuộc thửa đất số 715, tờ bản đồ số 06, tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình
Dương cho ông Trương Văn T, Nguyễn Thị Kim H vi số tiền 5.700.000 đồng
(năm triệu bảy trăm nghìn đồng). Sau khi thanh toán xong, ông Trương Long C,
Nguyễn Thị H1 (Huỳnh Thị T2), Trần Thị Mai T3 được quyền sở hữu các
cây tràm trên đất.
Ngoài ra, bản án n tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo,
trách nhiệm thi hành án.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025, nguyên đơn ông Trương Văn T, Nguyễn Thị
Kim H kháng cáo toàn bộ bản án thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn
bộ bản án sơ thẩm để giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025, bị đơn bà Huỳnh Thị L ngày 19 tháng 6 năm
2025, bđơn ông Trương Long C kháng cáo 01 phần bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa
6
án cấp phúc thẩm xác định lại số lượng, đường kính cây tràm áp giá bồi thường
theo Quyết định số 46/2024/QĐ-UBND ngày 18/10/2024 của UBND tỉnh B.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu kháng cáo. Bị đơn
giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được về việc giải
quyết vụ án.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Tòa án sơ thẩm không
kiểm đếm cây trồng trên đất chỉ tính mão, chưa xác định đúng vị trí, ranh gii các
thửa đất, kết quả đo đạc không thể hiện vị ttranh chấp thuộc thửa đất nào. Do
đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn Huỳnh Thị L trình bày: Ranh gii
thửa đất do bị đơn chỉ đúng, nguyên đơn chỉ không đúng; nguyên đơn n c
bản v năm 2021 khởi kiện không sở bản v này tnguyên đơn yêu
cầu; số lượng cây tràm trên đất không đúng thực tế, Tòa án áp giá không đúng.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
Bị đơn ông Trương Long C trình bày: Thửa đất số 761 là của gia đình ông
C, trưc đây đã hiến đất làm đường, phần còn lại của gia đình ông C. Đề nghị Hội
đồng xét xử xem xét.
Đại din Vin Kim sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biu quan
đim:
Về việc chấp hành pháp luật ttụng: Những người tiến hành tố tụng
người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đơn kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn trong hạn luật định.
Về việc giải quyết vụ án: Sau khi phân tích các tình tiết, tài liệu, chng c
có trong hồ sơ vụ án nhận thấy qua kết quả các lần xem xét, thẩm định tại chỗ đối
vi quyền sử dụng đất tài sản gắn liền trên các thửa đất tranh chấp, Tòa án, các
bên đương sự không xác định được vị trí ranh mốc gii các thửa đất tranh chấp,
không xác định được slượng cây tràm trên đất dẫn đến giải quyết vụ án chưa
chính xác, không đảm bảo việc thi hành án. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn
c khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tuyên hủy bản án
thẩm.
Sau khi nghiên cu các tài liệu, chng c có trong hồ sơ vụ án và đã được
thẩm tra tại phiên tòa, căn c vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình y
của đương sự, Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của ông Trương Văn T, Nguyễn Thị Kim H Huỳnh
Thị L, ông Trương Long C đúng quy định và nộp trong thời hạn theo Điều 272,
Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên đủ điều kiện để thụ xét x
7
theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Trương Văn T, bà Nguyễn Thị Kim H bị
đơn bà Nguyễn Thị H1 (Huỳnh Thị T2), bà Trần Thị Mai T3 vắng mặt do có yêu
cầu giải quyết vắng mặt, nên căn c Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định.
[2] Xét kháng cáo của các đương sự thấy rằng:
[2.1] Theo Mảnh trích lục địa chính có đo đạc số 09-2025 ngày 21/01/2025
của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai thành phố T, tỉnh Bình Dương thể hiện
phần đất tranh chấp thuộc thửa đất số 1069, thửa đất số 20 và một phần các thửa
đất số 716, 715, trong đó phần tranh chấp: giữa thửa đất số 948 và thửa đất s715
diện tích 234,1m
2
; giữa thửa đất số 948 thửa đất số 716 diện tích 47,3m
2
;
thửa đất số 20 diện tích 99,5m
2
; thửa đất số 1069 diện tích 344,1m
2
.
Theo Đơn khởi kiện ngày 10/4/2023, nguyên đơn yêu cầu công nhận quyền
sử dụng đất đối vi diện tích 743m
2
thuộc các thửa đất số 20, 1069 715, tờ bản
đồ số 06 (bút lục 01).
Đơn khởi kiện ngày 19/5/2023, nguyên đơn đã sửa đổi, bsung yêu cầu
khởi kiện: yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất đối vi diện tích 743m
2
thuộc
các thửa đất số 20 diện tích 190,3m
2
, thửa đất số 1069 diện tích 287,8m
2
và thửa
đất số 715 diện tích 264,9m
2
, tờ bản đồ số 06 (bút lục 80-81).
Đơn khởi kiện bổ sung ngày 09/9/2024, nguyên đơn đã bổ sung yêu cầu
khởi kiện: 199,6m
2
do thửa đất số 948 biến động tăng; 19m
2
thuộc thửa đất số
716; 2,2m
2
thuộc thửa đất số 37; 278,2m
2
thuộc thửa đất số 1069; 121,9m
2
thuộc
thửa đất số 715; 190,3m
2
thuộc thửa đất số 20; 176,2m
2
thuộc thửa đất số 46 (bút
lục 224).
Đơn khởi kiện bổ sung ngày 17/10/2024, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu
ông C, bà T2 T3 trả lại phần đất lấn chiếm là 200m
2
thuộc thửa đất số 716
(bút lục 230).
Tại Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chng
c hòa giải ngày 26/3/2025, nguyên đơn yêu cầu Tòa án công nhận cho
nguyên đơn được quyền quản lý, sử dụng đất tổng diện tích 725m
2
(trong đó:
thửa đất số 20 diện tích 99,5m
2
; thửa đất số 1069 diện tích 344,1m
2
; thửa đất số
715 diện tích 234,1m
2
). Tuy nhiên, nguyên đơn không đơn sửa đổi, bsung
yêu cầu khởi kiện đối vi các yêu cầu này.
Tại phiên tòa thẩm, nguyên đơn yêu cầu Tòa án công nhận cho nguyên
đơn quyền sử dụng đất diện tích cụ thể: 190,3m
2
thuộc thửa đất số 20; 2,2m
2
thuộc
thửa đất số 37; 176,2m
2
thuộc thửa đất số 46; 121,9m
2
thuộc thửa đất số 715;
278,2m
2
thuộc thửa đất số 1069 theo Mảnh trích lục địa chính ngày 25/4/2021 và
47,3m
2
thuộc thửa đất số 716.
Căn c quy định tại Điều 5, khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015 thì Tòa án chỉ giải quyết vụ án trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu
cầu của đương sự.
8
Tuy nhiên, đối chiếu vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn suốt quá trình
giải quyết vụ án tại phiên tòa thẩm thấy rằng, u cầu của nguyên đơn
thay đổi về diện tích so vi các đơn khởi kiện, thửa đất số 46 và một phần thửa
đất số 37 thể hiện nguyên đơn có Đơn khởi kiện bổ sung ngày 09/9/2024 (bút lục
224). Hồ sơ vụ án không thể hiện ý chí của nguyên đơn về việc rút yêu cầu khởi
kiện nêu trên và Tòa án cấp thẩm cũng không đình chỉ đối vi yêu cầu khởi
kiện này, nguyên đơn khởi kiện dựa trên kết quả đo đạc theo Mảnh trích lục địa
chính ngày 24/5/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai thị xã T nên đây
không thuộc trường hợp khởi kiện bổ sung tại phiên tòa đã được khởi kiện
trưc đó và thuộc phạm vi giải quyết của Tòa án.
Đồng thời, đối vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về diện tích 278,2m
2
thuộc thửa đất số 1069 thì theo Mảnh trích lục địa chính đo đạc số 09-2025
ngày 21/01/2025 kết quả đo đạc phần tranh chấp thuộc thửa đất số 1069 có diện
tích là 344,1m
2
. Và các thửa đất tranh chấp khác (thửa đất số 20, 715) đều không
khp vi diện tích đo đạc thực tế theo Mảnh trích lục địa chính có đo đạc số 09-
2025 ngày 21/01/2025. Nhận thấy, Tòa án cấp thẩm chưa làm r vtrí đất tranh
chấp thực tế đâu, thuộc thửa đất nào, chưa làm r u thuẫn giữa Mảnh trích
lục địa chính có đo đạc số 09-2025 ngày 21/01/2025 và Mảnh trích lục địa chính
ngày 24/5/2021.
Từ đó cho thấy, việc Tòa án cấp thẩm tuyên không chấp nhận u cầu
khởi kiện của nguyên đơn đối vi thửa đất số 20 diện tích 99,5m
2
;
thửa đất số
1069 diện tích 344,1m
2
; thửa đất số 715 diện tích 234,1m
2
là chưa đúng.
[2.2] Mặt khác, theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ đo đạc ngày
06/12/2024 thể hiện tài sản gắn liền vi đất tranh chấp cụ thể: phần giữa thửa đất
số 948 716 25 cây tràm; giữa thửa đất số 948 vi 715 1069 59 cây
tràm và thửa đất số 20 có 225 cây tràm, tất cả cây tràm đều do nguyên đơn trồng.
Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự xác định khi thẩm định không
kiểm đếm thực tế tính ưc lượng số lượng cây tràm gắn liền trên đất tranh
chấp dẫn đến xác định giá không đúng chuẩn loại, kích thưc, số lượng.
Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 29/01/2026 của Tòa án nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh, phía nguyên đơn cung cấp số lượng cây tràm cụ
thể: thửa đất số 716 có 147 cây; thửa đất số 715 có 145 cây; thửa đất số 1069 có
220 cây và thửa đất số 20 có 120 cây.
Sau đó, nguyên đơn và bị đơn tự kiểm đếm và cung cấp số lượng cây tràm
trên đất tranh chấp mâu thuẫn, chênh lệch rất nhiều so vi kết quả xem xét, thẩm
định tại chỗ, cụ thể: tại Văn bản xác nhận ngày 13/3/2026 thì nguyên đơn xác định
số lượng cây tràm trên đất tranh chấp: thửa đất s716 147 cây; thửa đất số 715
145 cây; thửa đất số 1069 220 cây thửa đất số 20 150 cây. Tại Đơn
xác định ngày 26/02/2026, bị đơn xác định số lượng cây tràm trên đất tranh chấp:
thửa đất số 715 có 73 cây; thửa đất số 1069 105 cây; thửa đất số 716 15 cây
và thửa đất số 20 có 29 cây.
Xét thấy, đây là vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất mà các đương sự đều
9
thống nhất cây tràm trên đất do nguyên đơn trồng nên khi giải quyết vụ án buộc
phải xem xét số lượng, giá trị cây tràm để xác định giá trị bồi thường khi xem xét
đất thuộc quyền sử dụng của ai. Đồng thời, cây tràm được trồng trên tất cả các
thửa đất số 1069, 715, 716, 20, 46 nhưng ranh gii, mốc gii giữa các thửa đất
hoàn toàn không hiện trạng các thửa đất này mảnh bằng phẳng liền nhau
đã trồng cây tràm trên toàn bộ diện tích các thửa đất, trong khi đó các đương
sự chỉ tranh chấp một phần thửa số 1069, 716 715 không xác định được
phần tranh chấp thuộc phạm vi cấp giấy chng nhận quyền sử dụng đất cho thửa
đất nào. Cho n, việc Tòa án cấp thẩm không kiểm đếm đúng số lượng y
tràm gắn vi từng vị trí đất tranh chấp s không thể thi hành án được.
[2.5] Từ những nhận định nêu trên nhận thấy, quá trình giải quyết vụ án,
Tòa án cấp thẩm đã cố gắng thực hiện nhiều biện pháp thu thập chng c về
nguồn gốc, quá trình quản sử dụng đất nhưng lại những thiếu sót nêu trên,
Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được, để đảm bảo nguyên tắc hai cấp
xét xử, nên cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm
giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung. Kháng cáo của nguyên đơn bị đơn
cơ sở chấp nhận.
[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh tại phiên tòa là phù hợp.
[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo đều người cao tuổi,
đơn xin miễn án phí nên thuộc trường hợp được miễn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn c Điều 148, khoản 3 Điều 308, Điều 310, Điều 313 của Bộ luật Tố
tụng dân sự;
- Căn c Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của y
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mc thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Trương Văn T Nguyễn Thị
Kim H và bị đơn bà Huỳnh Thị L và ông Trương Long C.
Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 64/2025/DS-ST ngày 29 tháng 5 năm 2025
của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân
dân Khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh).
Giao hồ vụ án cho Tòa án nhân dân Khu vực 17 Thành phố Hồ C
Minh giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trương Văn T, Nguyễn Thị Kim H,
Huỳnh Thị L, ông Trương Long C thuộc trường hợp được miễn án phí.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
10
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
- THADS Thành phố Hồ Chí Minh;
- Phòng THADS Khu vực 17 Thành phố Hồ
Chí Minh;
- TAND khu vực 17 Thành phố Hồ Chí
Minh;
- Đương sự;
- Lưu: HS, VP (19).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Thanh Trúc
Tải về
Bản án số 611/2026/DS-PT Bản án số 611/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 611/2026/DS-PT Bản án số 611/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất