Bản án số 663/2026/DS-PT ngày 06/04/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 663/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 663/2026/DS-PT ngày 06/04/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 663/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 06/04/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 663/2026/DS-PT
Ngày: 06-4-2026
V/v tranh chấp hợp đồng mua
bán hàng hóa
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Trần Thị Thanh Trúc.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Tùng;
Bà Đinh Thị Mộng Tuyết.
- Thư phiên tòa: Phạm Thị MDung Thư ký Tòa án nhân n
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Đặng Kim Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh ( sở B) xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số
143/2026/TLPT-DS ngày 12 tháng 01 năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng
mua bán hàng hóa.
Do Bản án dân sthẩm số 26/2025/DS-ST ngày 07/8/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1091/2026/QĐ-PT ngày
27 tháng 02 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 3865/2026/QĐ-
PT ngày 23 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa
các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Chu Văn U, sinh năm 1975; địa chỉ: số F, tổ A, ấp C,
xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai (nay là số F, tổ A, ấp C, xã T, tỉnh Đồng Nai). Có
mặt.
- B đơn: Thị H, sinh năm 1982; địa chỉ thường trú: tổ C, khu phố B,
thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương (nay là tổ C, khu phố B, xã P, Thành phố H
Chí Minh); địa chỉ liên lạc: thửa đất số 1530, tờ bản đồ số 21, tổ E, khu phố D,
phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay thửa đất số 1530, tờ bản đồ số
21, tổ E, khu phố D, phường V, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện hợp pháp của b đơn: Ông Dương Trọng T, sinh năm 1998;
địa chỉ: thôn I, I, tỉnh Gia Lai; địa chỉ tạm trú: số B, đường D, khu dân P,
2
phường P, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo uỷ quyền (theo Hợp
đồng ủy quyền ngày 16/3/2026). Có mặt.
Người bảo vquyền lợi ích hợp pháp của b đơn: Bà Nguyễn Thị Quỳnh
N là Luật sư của Trung tâm T2. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Công ty TNHH T3; địa chỉ: thửa đất số 1530, tờ bản đồ số 21, tổ E, khu
phố D, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là thửa đất số 1530, tờ bản
đồ số 21, tổ E, khu phố D, phường V, Thành phố Hồ Chí Minh). Người đại diện
theo pháp luật: Ông Bùi Văn C, sinh năm 1979 Chức danh: Chủ tịch kiêm Giám
đốc. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1982; địa chỉ: khóm M, thị trấn C, huyện
C, tỉnh Trà Vinh (nay là khóm Mỹ C, C, tỉnh Vĩnh Long). yêu cầu giải
quyết vắng mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Vũ Thị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Chu Văn U trình bày:
Từ ngày 25/8/2022 đến ngày 23/11/2022, ông Chu Văn U (sau viết tắt
ông U) có thoả thuận bằng lời nói (bằng miệng) bán gỗ tràm thành phẩm, có quy
cách cho bà Vũ Thị H (sau viết tắt là bà H), giá thoả thuận 3.350.000 đồng/01m
3
đến 3.600.000 đồng/01m
3
, thời hạn thanh toán trong vòng 01 tháng kể từ ngày
giao hàng. Việc mua bán không lập hợp đồng mua bán hàng hoá, không xuất
hoá đơn giá trị gia tăng. Ông U người trực tiếp đến giao hàng cho bà H tại địa
chỉ: thửa đất số 1530, tờ bản đồ số 21, tổ E, khu phố D phường V, thành phố T,
tỉnh Bình Dươngbà H cho ông Nguyễn Minh T1 (là người làm thuê cho H)
xuống hàng, kiểm đếm và ký nhận số lượng gỗ tràm vào các Biên nhận do ông U
người lập. Ông U đã giao tất cả 16 lần với tổng khối lượng 136,5021m
3
gỗ
tràm thành phẩm (có quy cách theo yêu cầu của H), tổng giá trị thành tiền
477.485.508 đồng. Bà H đã nhận toàn bộ 136,5021m
3
gỗ tràm.
Trong 16 lần giao hàng tcó 15 lần ông T1 người nhận hàng nhận
vào Biên nhận; còn 01 lần vào ngày 10/9/2022 thì người nhận là ông B, ông U
không biết họ tên đầy đủ của người này. Ông U xác định chỉ mua bán số gỗ tràm
nêu trên với cá nhân bà Vũ Thị H, không mua bán với Công ty TNHH T3. Bà H
mua gtràm của ông U với mục đích làm thì ông U không rõ. Thông tin về
việc mua bán gỗ, bà H dùng Công ty của người thân là Công ty TNHH T3 thống
chi tiết tại Bảng đối chiếu công nợ ông U đã nộp kèm theo đơn khởi kiện
gửi cho Toà án, ông U đã nhiều lần yêu cầu bà H ký xác nhận nhưng bà H không
chịu ký, không thanh toán tiền cho ông U. Sau đó, vào ngày 14/12/2022, bà H có
chuyển khoản thanh toán cho ông U số tiền 80.000.000 đồng; ngày 14/01/2023,
H trả tiếp số tiền 60.000.000 đồng đến ngày 16/5/2023, bà H trả tiếp cho
ông U số tiền 12.000.000 đồng. Như vậy, H đã thanh toán bằng hình thức
3
chuyển khoản từ số tài khoản H đến số tài khoản ông U với tổng số tiền
152.000.000 đồng (một trăm năm mươi hai triệu đồng), sau đó thì không tiếp tục
thanh toán. Số tiền còn nợ là 325.485.508 đồng, bà H không thanh toán.
Do đó, ông U đã khởi kiện đến Toà án yêu cầu giải quyết như sau:
1. Yêu cầu bà Vũ Thị H có nghĩa vụ trả cho ông Chu Văn U tiền nợ gốc là
325.485.508 đồng.
2. Yêu cầu Thị H có nghĩa vụ trả cho ông Chu Văn U tiền lãi chậm
trả với mức lãi suất 10%/năm, tạm tính từ ngày 23/11/2022 cho đến ngày xét x
là 79.262.594 đồng.
Tổng số tiền ông U yêu cầu bà Vũ Thị H thanh toán là 404.748.102 đồng.
Tại phiên toà, nguyên đơn ông Chu Văn U t một phần yêu cầu khởi kiện
đối với số tiền theo Biên nhận ngày 10/9/2022 (tương đương số tiền 31.543.860
đồng). Và nguyên đơn ông Chu Văn U yêu cầu giải quyết như sau:
1. Yêu cầu Thị H nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng cho ông Chu
Văn U tiền nợ gốc là: 325.485.508 đồng - 31.543.860 đồng = 293.941.648 đồng.
2. Yêu cầu bà Vũ Thị H nghĩa vụ thanh toán cho ông Chu Văn U tiền lãi
chậm trả với mức lãi suất 10%/năm (tương đương 0,83%/tháng), tạm tính từ ngày
23/12/2022 cho đến ngày xét xử (làm tròn 31 tháng) là: 293.941.648 đồng x
10%/năm x 31 tháng = 75.631.186 đồng.
Tổng số tiền ông Chu Văn U yêu cầu Vũ Thị H có nghĩa vụ thanh toán
là 369.572.834 đồng.
B đơn và người đại diện hợp pháp của b đơn trình bày:
Vũ Thị H không quen và cũng không biết ông Chu Văn U. Khoảng cuối
năm 2022, người chở gỗ tràm (có lúc là gtràm thành phẩm, có lúc là gtràm
thô) đến chào bán cho bà H (bà H không biết nhân thân, lai lịch của người chở gỗ
đến bán), do có nhu cầu mua gỗ tràm, rồi đợi giá lên sẽ bán đi kiếm lời, H đã
thoả thuận giá với người bán. Sau khi thoả thuận giá xong thì bà H cho người dỡ
tràm xuống và thanh toán cho người bán, lúc này người bán mới đưa số tài khoản
ngân hàng với thông tin chủ tài khoản Chu Văn U cho H chuyển tiền vào,
sau khi nhập thông tin số tài khoản H xác nhận với người bán đúng thông
tin, rồi H mới chuyển tiền. Việc mua bán diễn ra vào các ngày 14/12/2022,
ngày 14/01/2023 và ngày 16/5/2023, việc mua bán theo xe, không thoả thuận đơn
giá hay khối lượng và H đã lần lượt chuyển khoản thanh toán vào số tài
khoản đứng tên ông U vào 14/12/2022 số tiền 80.000.000 đồng; vào ngày
14/01/2023 số tiền 60.000.000 đồng và ngày 16/5/2023 số tiền 12.000.000 đồng.
Do vụ việc mua bán đã lâu, vì người bán khách vãng lai mang đến bán,
nên sau mỗi lần giao dịch mua bán H thanh toán tiền hàng luôn không
thiếu nợ lại lần nào. Cũng không lập hợp đồng hay hoá đơn chứng từ gì.
Bà H mua gỗ tràm của khách vãng lai với tư cách cá nhân của bà H, không
mua bán cho cá nhân hay tổ chức nào khác. Do đó, H xác định Công ty TNHH
4
T3 không có liên quan gì trong vụ án này.
Đối với các Biên nhận do ông U cung cấp không thể hiện địa chỉ của khách
hàng. Đồng thời người nhận cũng không phải bà H. Do đó, H không đồng
ý với các Biên nhận mà ông U cung cấp cho Toà án.
Bị đơn xác định người dỡ tràm xuống theo yêu cầu của bà H là ông Nguyễn
Minh T1 người làm thuê theo thời vụ từ năm 2021, hiện nay ông T1 đã nghỉ
làm hơn 07 tháng (khoảng tháng 6, 7/2024).
Tại phiên đối chất ông T1 trình bày đã ký tên tại các phiếu “Biên nhận” do
ông U lập vào ngày 25/8/2022, ngày 30/9/2022 ngày 08/11/2022; ông T1 đã
nhận các Biên nhận này đã đưa lại H. Sự việc này là không đúng do mỗi lần
mua hàng từ khách vãng lai H thoả thuận giá với khách rồi cho nhân viên dỡ
hàng xuống, không lập biên bản hay ký nhận biên bản gì.
Bị đơn xác định không nợ tiền mua hàng của nguyên đơn. Do đó, không
đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời, đề nghị Toà án
không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Minh T1 (sau viết tắt
ông T1) trình bày: Ông T1 không mối quan hệ họ hàng, thân thiết với
nguyên đơn ông Chu Văn U. Trước đây ông T1 có làm thuê cho bà H nên ông T1
biết ông U người từng bán gỗ tràm cho H. Ông T1 làm thuê cho H khoảng
04 năm, công việc thời vụ nên không có hợp đồng lao động; công việc chính của
ông T1 là điều khiển xe nâng; ông T1 đã nghỉ làm chỗ bà H hơn 07 tháng.
Ông T1 không nhớ chính xác cụ thể vào ngày tháng nào của năm trong
thời gian làm việc cho H thì ông T1 xuống hàng nhận hàng hoá của nhiều
người cho H, ông T1 chỉ nhớ khoảng năm 2022, ông U chở gỗ tràm (ông
T1 không nhớ rõ là gỗ tràm thành phẩm hay gỗ tràm thô) đến chào bán cho bà H
nên bà H yêu cầu ông T1 xuống hàng và nhận hàng từ ông U khoảng 03 lần. Sau
khi kiểm đếm đủ số lượng và khối lượng ông T1 có ký vào tờ “Biên nhận” do ông
U lập; ông U đưa lại cho ông T1 liên 02 của Biên nhận ông T1 đã đưa lại
cho bà H. Ông T1 có viết tên ông T1 T1” trong Biên nhận này. Việc thoả thuận
mua bán, giá cả thanh toán tiền giữa ông U H như thế nào thì ông T1
không rõ. Trong thời gian làm thuê cho H thì ngoài mua gỗ tràm từ ông U thì
H cũng mua của nhiều người khác nữa, khi gỗ tràm thành phẩm, có khi
là gỗ tràm thô; việc bà H mua để sử dụng vào việc gì thì ông T1 không rõ.
Ông T1 đã được tiếp cận chứng cứ phía nguyên đơn ông Chu Văn U cung
cấp cho Toà án là các “Biên nhận” do phía ông U lập thì ông T1 xác định ông T1
tên “Tâm” tại các phiếu “Biên nhận” ngày 25/8/2022, ngày 30/9/2022
ngày 08/11/2022; các phiếu khác tông T1 không nhận. Đối với yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn tông T1 đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định
của pháp luật.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH T3: không ý kiến
trình bày nhưng có đơn xin giải quyết vắng mặt.
5
Tại Bản án dân sự thẩm số 26/2025/DS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 17 – Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết đnh:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Chu Văn U với bị đơn
Vũ Thị H về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá”.
2. Buộc Thị H nghĩa vụ thanh toán cho ông Chu Văn U tổng số
tiền 369.572.834 đồng (ba trăm sáu mươi chín triệu năm trăm bảy mươi hai
nghìn tám trăm ba mươi bốn đồng); trong đó, tiền nợ gốc 293.941.648 đồng,
tiền lãi chậm thanh toán là 75.631.186 đồng.
Kể từ ngày người đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án
không thi hành khoản tiền nêu trên thì còn phải chịu thêm tiền lãi do chậm thực
hiện nghĩa vụ thanh toán theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 khoản 2 Điều
468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền thời gian chậm thi hành án tại thời
điểm thanh toán.
3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền
31.543.860 đồng theo Biên nhận ngày 10/9/2022.
4. Về chi phí giám định: Thị H phải nộp số tiền 5.500.000 đồng (năm
triệu năm trăm nghìn đồng) để trả lại cho ông Chu Văn U.
Ngoài ra, bản ra án thẩm còn tuyên chi phí tố tụng, quyền kháng cáo,
trách nhiệm thi hành án của đương sự.
Ngày 13 tháng 8 năm 2025, bị đơn bà Vũ Thị H kháng cáo toàn bộ bản án
thẩm, đề nghị sửa bản án thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện, bị đơn không rút yêu cầu kháng
cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn đã giao g tràm cho H 16 ln, 15 ln
ông T1 nhn, 01 ln ông B nhn. Do kết qu giám định xác định ông B ký không
phi ông T1 ký, nguyên đơn không thông tin ca ông B nên đã rút đơn khởi
kiện đối vi Biên nhn ngày 10/9/2022 do ông B ký.
Người đại din hp pháp ca b đơn trình bày: Đề ngh Hội đồng xét x
xem xét chp nhn kháng cáo ca b đơn.
Người bo v quyn li ích hp pháp của nguyên đơn trình bày: Nguyên
đơn căn cứ vào 15 Biên nhận để yêu cu b đơn trả tin, Tòa án cấp sơ thẩm căn
c vào 15 Biên nhn này chp nhn yêu cu khi kin của nguyên đơn không
có căn cứ. Bi, tt c Biên nhận nguyên đơn cung cấp đều không xác nhn ca
bà H, cho nên, không có căn c đ xác định nguyên đơn và bị đơn xác lập giao
dch mua bán g tràm theo các Biên nhận này. Đồng thi, trong 15 Biên nhn thì
12 Biên nhn không phi bn gốc, nguyên đơn không cung cấp được các bn
gc ông T1 ch tha nhn 03 Biên nhn. Các Biên nhn ông T1 cung cp
không ghi rõ đơn giá, quy cách, số ợng, đơn vị đo lường, giá thc tế nên không
6
giá tr chng c. Kết luận giám định ca Phòng K - Công an tnh B ch
mang tên “Tâm” trên các Biên nhận do nguyên đơn cung cp so vi ch tht
ca ông Nguyn Minh T1 không đủ s xác định có phi cùng một người ký ra
mẫu so sánh đưc s dụng trong quá trình giám định chưa đầy đủ, có s không
thng nht trong việc giám định khi cho rng ch trên các tài liu cn giám
định mu M1-M3 do cùng một người ký, nhưng mặt khác lại xác định các
mu ch M4-M6 không đủ sở kết lun, mặc đều là ch do Tòa án thu
thp t ông T1. Do đó, không đ sở đ xác định H ông U giao dch
mua bán g tràm. Chng c nguyên đơn đưa ra không có giá trị chng c.
Do đó, đề ngh Hội đồng xét x xem xét chp nhn yêu cu kháng cáo ca
b đơn, sửa bản án thẩm theo hướng không chp nhn toàn b yêu cu khi
kin của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham dự phiên
tòa phát biểu ý kiến như sau:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Những người tiến hành tố tụng
người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đơn kháng cáo của bị đơn hợp lệ, trong hạn luật định.
Về việc giải quyết vụ án: Sau khi phân tích các tình tiết, tài liệu, chứng cứ
trong hồ sơ vụ án, đối chiếu với quy định của pháp luật nhận thấy: Nguyên đơn
đã rút yêu cầu khởi kiện theo Biên nhận ngày 10/9/2022, Tòa án cấp thẩm đình
chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện này là có căn cứ.
Đối với 15 Biên nhận còn lại thì ông T1 là người làm thuê cho bị đơn thừa
nhận 03 Biên nhận. Phòng K - Công an tỉnh B căn cứ vào 03 Biên nhận
ông T1 thừa nhận để làm mẫu so sánh với chữ T1trong 12 Biên nhận còn
lại và kết luận chữ ký “T1” là cùng một người viết ra. Do đó, có căn cứ xác định
15 Biên nhận đều do ông T1 nhận hàng. Đồng thời, nguyên đơn cung cấp
chứng cứ việc b đơn chuyển khoản cho nguyên đơn 03 lần với tổng số tiền
152.000.000 đồng, bị đơn thừa nhận 03 lần chuyển khoản này để trả tiền mua gỗ
tràm. Do đó, đủ sở để xác định bị đơn giao dịch mua bán gỗ tràm với
nguyên đơn. Bị đơn xác định ông T1 người làm thuê cho bị đơn. Do đó, mặc
dù các Biên nhận không ghi đơn giá thỏa thuận nhưng đơn giá nguyên đơn yêu
cầu thấp hơn đơn giá do tổ chức thẩm định gxác định và các đơn vị thu mua gỗ
tràm tương tự cung cấp, giá nguyên đơn yêu cầu thấp hơn có lợi cho bị đơn nên
có cơ sở chấp nhận. Như vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cơ sở chấp
nhận.
Kháng cáo của bị đơn không có căn cứ chấp nhận. Đnghị Hội đồng xét
xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được
thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày
của đương sự, Luật sư, Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
7
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của bị đơn nộp trong thời hạn theo quy định tại Điều
272, Điều 273 Bluật Tố tụng dân sự năm 2015 nên đủ điều kiện đthụ xét
xử theo thủ tc phúc thm.
[1.2] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt do có
yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa
án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự nêu trên.
[2] Xét kháng cáo ca b đơn thấy rng:
[2.1] Nguyên đơn ông Chu Văn U cho rằng giữa ông Chu Văn U và bà
Thị H thỏa thuận bằng lời nói về việc mua bán hàng hóa gỗ tràm thành phẩm,
với đơn giá từ 3.350.000 đồng/m
3
đến 3.600.000 đồng/m
3
, thời hạn thanh toán
trong vòng 01 tháng kể từ ngày giao hàng cung cấp 16 Biên nhận đchứng
minh từ ngày 25/8/2022 đến ngày 23/11/2022, nguyên đơn đã giao cho bị đơn 16
đợt hàng với tổng giá trị tiền hàng 477.485.508 đồng (tương đương 136,5021m
3
gỗ tràm thành phẩm). Bị đơn chỉ thanh toán cho nguyên đơn số tiền 152.000.000
đồng và còn nợ lại 325.485.508 đồng. Bị đơn cho rằng bị đơn không biết nguyên
đơn ai, không giao dịch mua bán gỗ tràm với nguyên đơn, chỉ có 03 lần mua
bán hàng hóa của người bán vãng lai, bị đơn đã thanh toán sau mỗi lần nhận hàng,
trả tiền bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản do bên bán cung cấp với thông
tin chủ tài khoản là “Chu Văn U”. Bà H xác định đã 03 lần mua hàng của nguyên
đơn tương đương với 03 lần chuyển khoản thanh toán với tổng giá trị 152.000.000
đồng và không còn nợ tiền hàng. Như vậy, căn cứ lời khai của nguyên đơn và bị
đơn xác định được giữa hai bên có xác lập với nhau giao dch mua bán hàng hóa
gtràm nhưng không được lập thành văn bản được xác lập bằng lời nói,
hành vi cụ thể.
[2.2] Xét chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là 16 Biên nhận thấy rằng:
Tại Biên bản đối chất ngày 16/01/2025 (bút lục 84-86), Biên bản hòa giải
ngày 15/5/2026 (bút lục 142-143) lời khai tại phiên tòa thẩm thấy rằng, bị
đơn ông Nguyễn Minh T1 đều thừa nhận ông T1 người làm thuê cho H
nhưng không ký hợp đồng lao động, phạm vi công việc được giao của ông T1
điều khiển xe nâng, dỡ hàng theo yêu cầu của H, thời gian làm việc bắt đầu k
từ năm 2021 đến khoảng tháng 6 - 7 năm 2024 thì nghỉ việc. Ông T1 xác định bà
H người yêu cầu ông T1 dỡ hàng và nhận hàng tông U khoảng 03 lần, sau khi
kiểm đếm đủ số lượng và khối lượng ông T1 ký vào tờ “Biên nhận” do ông U
lập, ông U có đưa lại cho ông T1 liên 02 của Biên nhận và ông T1 đã đưa lại cho
H. Ông T1 thừa nhận tên “Tâm” tại các phiếu “Biên nhận” ngày
25/8/2022, ngày 30/9/2022 và ngày 08/11/2022; các phiếu khác tông T1 không
ký nhận.
Bị đơn cho rằng không nhận bất kỳ Biên nhận nào do ông Tâm G lại
toàn bộ Biên nhận nguyên đơn cung cấp cho Tòa án không giá trị làm chứng
cứ trong ván theo Kết luận giám định số 1294/KL-KTHS(TL) ngày 17/3/2025
của Phòng K - Công an tỉnh B đã kết luận: "Chữ viết tên "Tâm" dưới mục khách
8
hàng trên các tài liệu cần giám đnh hiệu từ A1 từ A3 đến A13 là các biên
nhận mà nguyên đơn cung cấp cho Tòa án) so với chữ ký viết tên T1 của Nguyễn
Minh T1 trên các tài liệu mẫu (Ký hiệu từ M4 đến M6 mẫu chữ của người
làm chứng Nguyễn Minh T1 cung cấp cho Tòa án) là không đủ cơ sở để kết luận
có phải do Nguyễn Minh T1 ra hay không". t thấy, nội dung bị đơn viện dẫn
thuộc mục “IV. PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN GIÁM ĐỊNH” của Kết luận giám
định số 1294/KL-KTHST(TL) ngày 17/3/2025 do Phòng K - Công an tỉnh B thực
hiện (bút lục 123) thì đây không phải là phần kết luận giám định. theo Kết
luận giám định số 1294/KL-KTHST(TL) ngày 17/3/2025 thì phần kết luận thể
hiện tại mục “V. KẾT LUẬN VỀ ĐỐI TƯỢNG GIÁM ĐỊNH” như sau:
“1. Chữ ký viết tên "T1" dưới mục "Khách hàng" trên các tài liệu cần giám
đnh (ký hiệu A1 và từ A3 đến A13) so với chữ ký viết tên "Tâm" trên các tài liệu
mẫu (ký hiệu từ M1 đến M3) do cùng một người ký ra”.
2. Chữ không ghi họ tên dưới mục "Khách hàng" trên 01 (một) "Biên
nhận", đngày 10/9/2022 (ký hiệu A2) so với chữ viết tên "T1" của Nguyễn
Minh T1 trên c tài liệu mẫu (ký hiệu tM1 đến M) hai dạng chữ khác
nhau nên không tiến hành giám đnh.”
Tại Tòa án cấp sơ thẩm, các bên đương sự đồng ý với Kết luận giám định
số 1294/KL-KTHST(TL) ngày 17/3/2025 của Phòng K - Công an tỉnh B, không
yêu cầu giám định lại. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn yêu cầu giám định lại
nhưng không cung cấp chứng cứ nào chứng minh kết luận giám định lần đầu
không chính xác, có vi phạm pháp luật. Do đó, kết luận giám định nêu trên được
xem là chứng cứ để giải quyết vụ án.
Như vậy, theo Kết luận giám định sở xác định 15 Biên nhận các ngày:
25/8/2022, 08/9/2022, 20/9/2022, 26/9/2022, 30/9/2022, 07/10/2022, 12/10/2022,
18/10/2022, 22/10/2022, 24/10/2022, 31/10/2022, 04/11/2022, 08/11/2022,
18/11/2022 23/11/2022 (bút lục 103-118) đều do ông T1 nhận sở
để xác định việc giao nhận giá trị hàng hóa nguyên đơn đã giao cho bị đơn.
Ông Nguyễn Minh T1 người lao động của H đã tên nhận hàng vào 15
Biên nhận này. Mặc bị đơn không thừa nhận thực hiện giao dịch mua bán
với nguyên đơn theo các Biên nhận trên, nhưng bị đơn thừa nhận ông T1 người
lao động của bị đơn, thực hiện giao nhận hàng tại địa chỉ của bị đơn và theo yêu
cầu của bị đơn. Và việc ông T1 đã ký các Biên nhận từ ngày 25/8/2022 đến ngày
23/11/2022 trong thời gian đang làm việc cho bị đơn. Cho nên, bị đơn phải chịu
trách nhiệm đối với việc ông T1 thực hiện trong phạm vi công việc bị đơn giao.
Đồng thời, như phân tích tại mục [2.1] thì chính bị đơn thừa nhận chứng cứ nguyên
đơn xuất trình về việc bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền
152.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản (cụ thể: ngày 14/12/2022 chuyển
khoản 80.000.000 đồng, ngày 14/01/2023 chuyển khoản 60.000.000 đồng ngày
16/5/2023 chuyển khoản 12.000.000 đồng). Bị đơn không chứng minh được số
tiền thanh toán trên là cho giao dịch khác. Do đó, đủ sở xác định nguyên đơn
đã giao cho bị đơn 15 đợt hàng theo 15 Biên nhận nguyên đơn cung cấp.
9
[2.3] Về giá trị hàng hóa: Hồ sơ vụ án không thể hiện việc hai bên thương
lượng cụ thể về thời gian giao nhận hàng, chất lượng, số lượng, quy cách và đơn
giá của hàng hóa. Do đó, căn cứo 15 Biên nhận nêu trên để làm cơ sở xác định
thời gian giao hàng, quy cách, khối lượng, giá trị thực tế. Theo các Biên nhận có
thể hiện quy cách, số lượng, khối lượng ng hóa nhưng không thể hiện chính xác
đơn giá hàng hóa. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 433 Bộ luật Dân sự quy định:
Trường hợp không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng về giá, phương
thức thanh toán thì giá được xác đnh theo giá th trường”. Mặt khác, trên cơ sở
Chứng thư thẩm định giá số Vc 330/2025/30 ngày 25/7/2025 của Công ty TNHH
D thể hiện sở giá trị thẩm định giá: Giá trị thị trường, đơn gđược áp dụng
cho tất cả các quy cách sản phẩm 4.550.000 đồng/m
3
. Tuy nhiên, nguyên đơn
khởi kiện yêu cầu áp dụng đơn giá từ 3.350.000 đồng/m
3
đến 3.600.000 đồng/m
3
là thấp hơn so với giá trị thẩm định là có lợi cho bị đơn nên sở áp dụng đơn
giá theo yêu cầu của nguyên đơn với tổng giá trị hàng hóa nguyên đơn đã giao
cho bị đơn theo 15 Biên nhận nêu trên là 445.941.648 đồng.
[2.4] Về việc thực hiện nghĩa vụ trả tiền:
[2.4.1] Về nợ gốc: Như phân tích tại mục [2.3] thì tổng giá trị hàng hóa
445.941.648 đồng. Bị đơn cho rằng sau mỗi lần nhận hàng bị đơn đều thanh toán
tiền hàng cho nguyên đơn, ngày giao hàng tương ứng với ngày chuyển khoản. Tuy
nhiên, theo hồ sơ vụ án nguyên đơn đã giao hàng cho bị đơn 15 lần nhưng bị đơn
không chứng cứ nào chứng minh ngày nguyên đơn giao hàng theo 15 Biên
nhận nêu trên là ngày bị đơn thanh toán tiền hàng. Mặt khác, bị đơn đã thừa nhận
chuyển khoản cho nguyên đơn tổng cộng số tiền 152.000.000 đồng không cung
cấp chứng cứ nào chứng minh giao nhận hàng vào thời gian nêu trên nên lời
trình bày của bị đơn không cơ sở chấp nhận. Nguyên đơn thừa nhận đã nhận
của bị đơn số tiền 152.000.000 đồng cho rằng đây tiền hàng bị đơn thanh
toán cho giá trị hàng hóa của những lần giao hàng trước đó theo các Biên nhận
ông T1 đã tên phù hợp với chứng cứ tại hồ vụ án. Do đó, căn cứ
xác định bị đơn đã thực hiện một phần nghĩa vthanh toán nợ gốc cho nguyên
đơn còn nợ số tiền như sau: 445.941.648 đồng - 152.000.000 đồng =
293.941.648 đồng nên nguyên đơn khởi kiện cầu bị đơn phải thanh toán số tiền
nợ gốc này là có cơ sở chấp nhận.
[2.4.2] Về tiền lãi chậm trả: Điều 440 của Bộ luật Dân sự quy định:
“…Nếu các bên không thỏa thuận về thời hạn giao tài sản thời hạn
thanh toán tiền thì bên mua phải thanh toán tiền tại thời điểm nhận tài sản.
3. Trường hợp bên mua không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền tphải trả
lãi trên số tiền chậm trả theo quy đnh tại Điều 357 của Bộ luật này”.
Tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án không thỏa thuận cụ thể giữa
nguyên đơn và bị đơn thời điểm thanh toán, cho nên thời điểm bị đơn nhận hàng
thời điểm phát sinh nghĩa vụ thanh toán. Đối chiếu thời điểm cuối cùng nguyên
đơn giao hàng cho bị đơn ngày 23/11/2022, thời điểm bị đơn thực hiện nghĩa
vụ thanh toán đều phát sinh sau ngày cuối cùng nguyên đơn giao hàng bị đơn
10
đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải tiền trả
lãi chậm trả là phù hợp với quy định pháp luật.
Về lãi suất: Theo khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự quy định về trách
nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền: Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền
được xác đnh theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi
suất được quy đnh tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không thỏa
thuận thì thực hiện theo quy đnh tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này”.
Hai bên không thỏa thuận với nhau về lãi suất chậm trả nên mức lãi suất
được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 10%/năm
tương đương 0,83%/tháng, nguyên đơn yêu cầu Tòa án áp dụng mức lãi suất này
là phù hợp với quy định đã viện dẫn nêu trên.
Về thời gian giá trị tính lãi chậm trả: Cần căn cứ các Biên nhận để xác
định cụ thể thời gian số tiền chậm trả theo từng đợt giao hàng. Tuy nhiên,
nguyên đơn chỉ yêu cầu tính tiền lãi chậm trả dựa trên tổng số nợ gốc bị đơn còn
phải thực hiện (293.941.648 đồng) và thời gian tính lãi là tính từ ngày cuối cùng
nguyên đơn giao hàng cho bị đơn (ngày 23/11/2022) đến ngày xét xử thẩm
(07/8/2025) 32 tháng 15 ngày nhưng tại Tòa án cấp thẩm nguyên đơn chỉ
yêu cầu tính 31 tháng là có lợi cho bị đơn nên có cơ sở chấp nhận.
Do đó, số tiền lãi chậm trả bị đơn còn phải thanh toán 293.941.648 đồng
x 0,83%/tháng x 31 tháng = 75.631.186 đồng.
Tổng nợ gốc và tiền lãi quá hạn bị đơn có nghĩa vụ thanh toán là:
293.941.648 đồng + 75.631.186 đồng = 369.572.834 (ba trăm sáu mươi chín triệu
năm trăm bảy mươi hai nghìn tám trăm ba mươi bốn) đồng.
[2.5] Nguyên đơn đã rút một phần yêu cầu khởi kiện giá trị hàng hóa theo
Biên nhận ngày 10/9/2022 (bút lục 116) Tòa án cấp sơ thẩm đã đình chỉ giải
quyết đối với yêu cầu này là phù hợp.
[2.6] Từ những nhận trên xét thấy, kháng cáo của bị đơn Thị H là
không có cơ sở chấp nhận.
[3] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa về việc không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là phù hợp.
[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 148, Điều 296, khoản 1 Điều 308, Điều 313 của Bộ luật Tố
tụng dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
11
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Vũ Thị H.
2. Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm 26/2025/DS-ST ngày 07 tháng 8 năm
2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 17 – Thành phố Hồ Chí Minh.
3. V án phí dân s phúc thm: Bị đơn Thị H phải chịu 300.000 đồng
(ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên
lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010719 ngày 22 tháng 8 năm 2025 của
Thi hành án dân sự Thành phố H.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bcưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
- THADS Thành phố Hồ Chí Minh;
- Phòng THADS Khu vực 17 Thành phố Hồ
Chí Minh;
- Tòa án nhân dân Khu vực 17 Thành phố
Hồ Chí Minh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Thanh Trúc
Tải về
Bản án số 663/2026/DS-PT Bản án số 663/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 663/2026/DS-PT Bản án số 663/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất