Bản án số 442/2026/DS-PT ngày 31/03/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 442/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 442/2026/DS-PT ngày 31/03/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 442/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 31/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: chuyển nhượng qsdđ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án: 442 /2026/DS-PT
Ngày: 31-3 -2026
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất và hủy
chỉnh lý biến động đăng ký đất đai.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử Phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Vân.
Các thẩm phán:
Bà Phùng Thị Cẩm Hồng;
Bà Lê Thị Bích Tuyền.
Thư phiên tòa: Ông Trần Phước Hậu Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Bé Thi - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Tây Ninh tiến hành
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 137/2026/TLPT-DS ngày 09
tháng 3 năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất”. Do bản án dân sự thẩm số 341/2025/DS-ST ngày 24/9/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 3- Tây Ninh, bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 157/2026/QĐ-PT ngày
09 tháng 3 năm 2026, giữa:
1. Nguyên đơn: Ông Hồ Vĩ T, sinh năm 1975 và bà Trần Thị Thùy D, sinh
năm 1977. Cùng trú: 130/25/1A, Đình C, phường T, Thành phố Hồ Chí
Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Vĩnh Q, sinh năm 1983. Địa chỉ liên
hệ: 1 N, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh (giấy ủy quyền ngày 08/4/2024);
mặt.
2. Bị đơn: ông Nguyễn Xuân T1, sinh năm 1980 bà Trần Thị M, sinh
năm 1977. Cùng trú: 2024/1, đường tỉnh lộ 10, khu phố A, phường T, Thành
phố Hồ Chí Minh; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
3.1 Nguyễn Hồng H, sinh năm 1984. Nơi trú: A, đường A, tổ A,
phường L, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của Nguyễn Hồng H: Ông Bùi Văn T2,
sinh năm 1993; nơi cư trú: ấp G, xã N, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
3.2. Bà Thúy H1, sinh năm 1959; nơi cư trú: số B, tầng C, lô A, chung
cư N, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
3.3. Ông Văn Q1, sinh năm 1960 bà Trần Thị Thùy L, sinh năm
1973.; nơi cư trú: ấp C, xã T, tỉnh Tây Ninh;
3.4. Chị Hồ Ngọc Anh T3, sinh năm 2001,
3.5. Anh Hồ Anh K, sinh năm 2004,
3.6. Cháu Hồ Minh Đ, sinh năm 2009. Người đại diện hợp pháp cho cháu
Đ: ông Hồ T Trần Thị Thùy D. Cùng trú: 130/25/1A, Đình C,
phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
3.7. Thi hành án dân sự tỉnh T; trụ sở: Số B ĐT H, phường T, tỉnh Tây
Ninh; vắng mặt.
3.8. Văn phòng C1. Người đại diện theo pháp luật: ông Ngọc M1; nơi
cư trú: ấp G, xã H, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
3.9. Sở Nông nghiệp Môi trường tỉnh T; trụ sở: khối nhà quan 3,
khu trung tâm chính trị hành chính tỉnh Tây Ninh, số D, đường S, phường L, tỉnh
Tây Ninh; vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
4. Người kháng cáo: Ông Hồ T bà Trần Thị Thùy D, ông Nguyễn
Xuân T1 và bà Trần Thị M là nguyên đơn và bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Hồ Vĩ T, bà Trần Thị Thùy D trình bày:
Theo quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số
163/2014/QĐST-DS ngày 19/7/2014 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà (nay
là Tòa án nhân dân khu vực 3 – Tây Ninh có nội dung như sau:
Ông Hồ T và bà Trần Thị Thùy D đồng ý thống nhất liên đới trả cho
ông Nguyễn Xuân T1, Trần Thị M số tiền 700.000.000 đồng. Huỷ hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 11264 quyển sổ 04TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 08/10/2013 tại Văn phòng C2 với nội dung chuyển nhượng
quyền sử dụng đất là 300m
2
, thửa đất số 1682, tờ bản đồ số 09, toạ lạc tại ấp B,
Đ, huyện Đ, tỉnh Long An hiện nay Đ, tỉnh Tây Ninh. Ông Hồ T
Trần Thị Thùy D ông Nguyễn Xuân T1, Trần Thị M thống nhất đề nghị
Ủy ban nhân dân huyện Đ huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 91984
số vào sổ cấp GCN: CH” 00248 ngày 18/3/2014 do Trần Thị M đứng tên.
Ông Hồ T Trần Thị Thùy D được quyền liên hệ quan thẩm quyền
đăng đứng tên diện tích đất 300m
2
, thửa đất số 1682, tờ bản đồ số 09 toạ lạc
tại ấp B, Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Tất cả các phí, lệ phí, thuế liên quan đến
3
việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất tông Nguyễn Xuân T1, Trần Thị M
sang ông Hồ Vĩ T, bà Trần Thị Thùy D thì bên ông Hồ Vĩ T, bà Trần Thị Thùy D
tự nguyện chịu. Thời hạn trả tiền: 10 ngày sau khi ông Hồ T, Trần Thị
Thùy D nhận được giấy chứng nhận QSD đất diện tích 300m
2
, thửa đất 1682,
tờ bản đồ số 09, toạ lạc ấp ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An cấp cho ông Hồ Vĩ
T Trần Thị Thùy D. Ngoài ra, còn nội dung nghĩa vụ chậm thi hành án
án phí các bên phải chịu. Hiện tại, ông T D đã thực hiện xong nghĩa vụ
thi hành số tiền 700.000.000 đồng tiền lãi phát sinh. Tuy nhiên, ông T1 và
M không thực hiện nghĩa vụ theo như thỏa thuận là để cho ông T và bà D làm thủ
tục đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông T1 M chuyển
nhượng quyền sử dụng thửa đất nêu trên cho bà Hà Thúy H1, bà Hà Thúy H1 tiếp
tục chuyển nhượng cho Nguyễn Hồng H, hiện tại Hồng H đang đứng tên
giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất này. Nay ông T và bà D yêu cầu:
Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 4136,
quyển sổ 03/2018 TP/CC-SC/HĐGD ngày 30/3/2018 đối với thửa đất số 1682, tờ
bản đồ số 9, đất toạ lạc tại ấp B, Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (hiện nay ấp B,
Đ, tỉnh Tây Ninh) tại Văn phòng C1 giữa bà Trần Thị M, ông Nguyễn Xuân
T1 với bà Hà Thúy H1.
hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 7877
quyển sổ 05/2018 TP/CC-SC/HĐGD ngày 08/5/2018 đối với thửa đất số 1682, tờ
bản đồ số 09, đất toạ lạc tại ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (hiện nay là ấp B,
Đ, tỉnh Tây Ninh) tại Văn phòng C1 giữa Nguyễn Thúy H2 với Nguyễn
Hồng H.
Huỷ chỉnh lý biến động giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ông
Nguyễn Xuân T1 và bà Trần Thị M sang cho bà Thúy H1 của Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ chỉnh sang cho Hà Thúy H1, số giấy BS
91998 cấp ngày 18/3/2014 cho bà Trần Thị M.
Huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh L cấp cho bà Nguyễn Hồng H số giấy CN 067571 ngày 07/6/2018.
Công nhận quyền sử dụng đất cho ông Hồ T, Trần Thị Thùy D
ông T D được quyền liên hệ quan nhà nước thẩm quyền để đăng
chỉnh biến động đối với thửa đất nêu trên. Trường hợp Tòa án không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả
của hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật.
Bị đơn ông Nguyễn Xuân T1 Trần Thị M vắng mặt đơn yêu
cầu giải quyết vắng mặt đồng thời văn bản trình bày ý kiến ngày 24/4/2025
cũng như văn bản trình bày ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án như sau:
Ông Nguyễn Xuân T1 Trần Thị M vẫn chủ sử dụng hợp pháp đối
với thửa đất số 1682, tờ bản đồ số 9, đất toạ lạc tại ấp B, Đ, do sự thoả
thuận của các đương sự được công nhận theo Quyết định công nhận sự thoả
thuận của các đương sự số 163/2014/QĐST-DS ngày 19/07/2014 thoả thuận
trái pháp luật. Khi các bên tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng số 11264 thì hợp
4
đồng này đã được hoàn tất thủ tục đăng chuyển quyền sử dụng đất (trước bạ,
sang tên) theo đúng quy định tại Điều 503 Bộ Luật dân sự 2015 và Khoản 3, Điều
188 Luật đất đai năm 2013. Trần Thị M cũng đã được UBND Huyện Đ cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00248 ngày 18/03/2014. Do đó, chỉ có
Toà án mới được quyền tuyên bố huỷ Hợp đồng chuyển nhượng Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất này bằng một Bản án. Các bên đương sự không thể tự
thoả thuận huỷ bỏ hợp đồng và đề nghị UBND huyện Đ huỷ Giấy chứng nhận đã
cấp như nội dung Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự số
163/2014/QĐST-DS ngày 19/07/2014 ghi nhận. Việc Toà án nhân dân huyện
Đức Hoà ghi nhận nội dung thoả thuận trái pháp luật này sai. Chính điều này
đã dẫn đến sự phức tạp trong việc giải quyết tranh chấp hiện nay.
Hiểu đúng ý chí thoả thuận của các bên thì đây chính là việc ông Hồ Vĩ T,
Trần Thị Thùy D sẽ mua lại thửa đất này từ ông Nguyễn Xuân T1, bà Trần Thị
M với giá 700.000.000 đồng. Về mặt thủ tục tiếp theo thì ông Nguyễn Xuân
T1, Trần Thị M ông Hồ T, Trần Thị Thùy D phải đến Phòng công
chứng để lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất này từ ông
Nguyễn Xuân T1, Trần Thị M sang cho ông Hồ T, Trần Thị Thùy D.
Trên sở Hợp đồng chuyển nhượng này, ông Hồ T, Trần Thị Thùy D sẽ
đi đăng quyền sử dụng (trước bạ, sang tên) được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất theo đúng quy định. Sau khi nhận được Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất thì ông Hồ T, Trần Thị Thùy D sẽ trả cho ông Nguyễn
Xuân T1, bà Trần Thị M số tiền là 700.000.000 đồng.
Phân tích này cho thấy, cho Quyết định công nhận sự thoả thuận của
các đương sự số 163/2014/QĐST-DS ngày 19/07/2014 còn hiệu lực đến thời
điểm nào đi nữa nhưng khi ông Nguyễn Xuân T1, Trần Thị M ông Hồ
T, Trần Thị Thùy D chưa đến Phòng công chứng để lập Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất thửa đất, chưa đăng sang tên quyền sdụng đất
qua cho ông Hồ T, Trần Thị Thùy D, chưa giao nhận số tiền 700.000.000
đồng thì thửa đất này vẫn thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Nguyễn Xuân
T1, bà Trần Thị M.
Xét đến quá trình thực hiện thỏa thuận để thấy bên đương sự nào đã vi
phạm nghiêm trọng thỏa thuận. Thực hiện đúng ý chí thỏa thuận nêu trên, ngày
16/07/2014 (thời điểm sau khi Biên bản hoà giải thành nhưng chưa Quyết
định công nhận s thoả thuận của các đương sự) các bên đã đến Phòng công
chứng để lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất qua cho ông Hồ T,
Trần Thị Thùy D. Ông Hồ T, Trần Thị Thùy D cũng đã được cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 551649 ngày 25/06/2016. Nhưng sau khi
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông Hồ T, Trần Thị Thùy D
đã không thanh toán số tiền 700.000.000 đồng cho ông Nguyễn Xuân T1, bà Trần
Thị M. Do đó, ông Hồ T, Trần Thị Thùy D đã cố tình vi phạm nghiêm
trọng thoả thuận.
Chính điều này, ông Nguyễn Xuân T1, Trần Thị M đã khởi kiện vụ
án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất để yêu cầu huỷ hợp
5
đồng chuyển nhượng đã ký, yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã
cấp cho ông Hồ T, Trần Thị Thùy D. Yêu cầu này đã được Toà án nhân
dân huyện Đức Hoà, Toà án nhân dân tỉnh Long An chấp nhận theo Bản án
thẩm số 07/2016/DS-ST ngày 25/01/2016 Bản án dân sự phúc thẩm số
155/2016/DS-PT ngày 14/06/2016.
Khi đó, ông Nguyễn Xuân T1, Trần Thị M vẫn chủ sử dụng đất hợp
pháp của thửa đất được hiện thực hiện các quyền quản lý, sử dụng, định đoạt
theo đúng quy định của pháp luật. Đến thời điểm này, không thể sự tồn tại
Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự số 163/2014/QĐST-DS
ngày 19/07/2014 (chưa kể nội dung Quyết định này trái pháp luật như phân
tích trên) để tước đi hoặc hạn chế quyền lợi hợp pháp của ông Nguyễn Xuân
T1, bà Trần Thị M.
Việc Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hoà thu số tiền 927.675.000
đồng của ông Hồ T, Trần Thị Thùy D vào ngày 02/05/2018 để thấy việc
làm này cũng sai quy định pháp luật.
Cụ thể, Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự số
163/2014/QĐST-DS ngày 19/07/2014 ghi nhận: - Thời hạn trả tiền: 10 ngày
sau khi ông Hồ T, Trần Thị Thùy D nhận được giấy chứng nhận QSDĐ
diện tích đất 300 m
2
, tờ bản đồ số 09 toạ lạc tại ấp B, Đ, Đ, Long An cấp cho
ông Hồ Vĩ T, bà Trần Thị Thùy D.”
Như vậy, ông Hồ T, bà Trần Thị Thùy D phải thanh toán số tiền
700.000.000 đồng sau khi đã nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Nghĩa là, các bên đã đến Phòng công chứng để lập hợp đồng chuyển nhượng,
hoàn tất thủ tục đăng quyền sử dụng (đăng bộ, sang tên), ông Hồ T,
Trần Thị Thùy D nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì mới thi hành
khoản tiền này. Hay nói cách khác, việc ông Hồ T, Trần Thị Thùy D đã
nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ duy nhất làm phát sinh
nghĩa vụ thi hành số tiền 700.000.000 đồng.
Thời điểm ngày 02/05/2018 thì hợp đồng Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cấp ông Hồ Vĩ T, Trần Thị Thùy D đã bị huỷ bởi Bản án thẩm số
07/2016/DS-ST ngày 25/01/2016 của Toà án nhân dân huyện Đức Hòa và Bản án
dân sự phúc thẩm số 155/2016/DS-PT ngày 14/06/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh
Long An thì hoàn toàn không căn cứ nào để Chi cục thi hành án dân sự huyện
Đức Hoà thu số tiền thi hành án nêu trên.
Chính việc thu tiền thi hành án sai quy định này càng làm cho tranh chấp
của các bên thêm phức tạp. Hiện nay, không thể dùng căn cứ này để cho rằng ông
Hồ T, Trần Thị Thùy D đã thi hành án xong thì được xác lập quyền s
dụng đối với thửa đất số 1682, tờ bản đồ số 9 (ấp B, xã Đ). Hơn 04 năm sau ngày
thỏa thuận, khi căn cứ thi hành án không còn, khi giá đất tại khu vực tăng cao
gấp nhiều so với trước đây thì ông Hồ T, Trần Thị Thùy D mới nộp tiền
vào thi hành án với mục đích lấy lại đất. Điều này cho thấy ông Hồ Vĩ T, bà Trần
Thị Thùy D vì quyền lợi của mình mà xâm phạm quyền, lợi ích của người khác.
6
Việc chuyển nhượng đất từ ông Nguyễn Xuân T1, Trần Thị M sang
cho Thúy H1 từ Thúy H1 sang cho bà Nguyễn Hồng H là hoàn
toàn hợp pháp, đúng quy định của pháp luật: Ông Nguyễn Xuân T1, Trần Thị
M chủ sử dụng đất hợp pháp của thửa đất số 1682, tờ bản đồ số 9 (Ấp B,
Đ), được hiện thực hiện các quyền quản lý, sử dụng, định đoạt theo đúng quy
định của pháp luật.
Thời điểm ông Nguyễn Xuân T1, Trần Thị M chuyển nhượng thửa đất
cho bà Thúy H1 vào ngày 30/03/2018, thời điểmy ông Hồ Vĩ T, bà Trần
Thị Thùy D chưa nộp tiền vào Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hoà nên
không thể cho rằng việc chuyển nhượng này xâm phạm quyền lợi của ông Hồ
Vĩ T, bà Trần Thị Thùy D.
Thực tế trên thửa đất này căn nhà cấp 4, sau khi chuyển nhượng cho
ông Nguyễn Xuân T1, Trần Thị M thì vợ chồng ông Hồ T, Trần Thị
Thùy D đã giao nhà đất chuyển đi nơi khác sinh sống đăng hộ khẩu
thường trú tại số A L, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi nhận
chuyển nhượng, ông Nguyễn Xuân T1, Trần Thị M không nhu cầu nên
chuyển nhượng lại cho Thúy H1. Thúy H1 cũng không nên bỏ
trống, căn nhà không có điện. Đến khoảng giữa năm 2018 vợ chồng ông Hồ Vĩ T,
Trần Thị Thùy D cố tình chiếm dụng lại nhà, đất đó cho đến nay. Hiện
nay, vợ chồng ông Hồ Vĩ T, bà Trần Thị Thùy D vẫn sử dụng điện bằng cách đấu
nối tạm vào trường mầm non đối diện nhà chứ không đăng ký được đồng hồ điện.
Điều này Toà án có thể tiến hành xem xét, thẩm định và xác minh.
Thúy H1 Nguyễn Hồng H hoàn toàn không thể biết việc
tồn tại Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương s số
163/2014/QĐST-DS ngày 19/07/2014. Giấy tờ chủ quyền của ông Nguyễn Xuân
T1, Trần Thị M hoàn toàn hợp pháp, thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng
đất được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Khi nhận chuyển nhượng
thì tình trạng đất, nhà nhà trống, không có người ở. Do đó, hoàn toàn đủ sở
để khẳng định họ những người nhận chuyển nhượng ngay tình cần được
pháp luật bảo vệ.
Từ những do trên, ông T1, M đề nghị Toà án nhân dân khu vực 3 -
Tây Ninh xem xét bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công nhận các
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Nguyễn Xuân T1, Trần
Thị M sang cho bà Hà Thúy H1 từ Thúy H1 sang cho Nguyễn Hồng
H. Chấp nhận yêu cầu độc lập của Nguyễn Hồng H người quyền, nghĩa
vụ liên quan trong vụ án. Buộc ông Hồ T (sinh năm 1975) Trần Thị
Thùy D (sinh năm 1977) chấm dứt hành vi chiếm dụng tài sản bất hợp pháp, hoàn
trả cho Nguyễn Hồng H thửa đất số 1682, Tờ bản đồ số 9 (ấp B, Đ) ngay
sau khi Bản án/Quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật.
Người quyền lợi, nghĩa vliên quan yêu cầu độc lập Nguyễn
Hồng H trình bày theo đơn yêu cầu độc lập ông Bùi Văn T2 đại diện theo uỷ
quyền trình bày trong quá trình giải quyết vụ án như sau:
7
Ngày 08/5/2018 Hồng H nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất
nhà thửa đất 1682, tbản đồ số 9, đất toạ lạc tại ấp B, Đ từ Thúy H1.
Ngày 07/6/2018 Hồng H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi
nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất Hồng H chỉ biết bà Thúy H1 là người
sử dụng hợp pháp, Hồng H cũng không biết những tranh chấp trước đây. Nay
ông T D đang chiếm giữ bất hợp pháp thửa đất của Hồng H. Nay
Hồng H yêu cầu ông T bà D trả lại thửa đất này cho Hồng H. Nếu trường
hợp Toà án tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Hồng H
với Thúy H1 hiệu thì H1 không yêu cầu giải quyết hậu quả của việc
tuyên hợp đồng vô hiệu, bà Hồng H sẽ tự yêu cầu bằng vụ án khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên qua Hà Thúy H1 trình bày trong quá
trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa như sau:
Thúy H1 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp tông
Nguyễn Xuân T1 và Trần Thị M, sau đó Thúy H1 chuyển nhượng lại cho
Nguyễn Hồng H. Hiện nay nguyên đơn yêu cầu hiệu các hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất Thúy H1 không đồng ý. Nếu trường hợp Toà án
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, hợp đồng hiệu thì H1 không
yêu cầu giải quyết hậu quả của việc tuyên hợp đồng hiệu, Thúy H1 sẽ t
yêu cầu bằng vụ án khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C1 vắng mặt nhưng có
văn bản trình bày ý kiến như sau:
Việc công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông
T1 M với Thúy H1, giữa Thúy H1 với Nguyễn Hồng H
đúng trình tự thủ tục, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định. Do bận việc nên
xin vắng mặt phiên xét xử.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi cục Thi hành án dân sự
huyện Đức Hòa nay là Thi hành án Dân sự tỉnh Tây Ninh vắng mặt ý kiến
trình bày tại Công văn số 96/CCTHADS như sau:
Từ ngày 31/3/2022 đến nay ông Nguyễn Xuân T1 Trần Thị M chưa
nhận số tiền 927.675.000 đồng do ông Hồ T, Trần Thị Thùy D đã thi hành
án. Số tiền 927.675.000 đồng được hợp đồng tiền gởi kỳ hạn số 33 ngày
02/5/2018 tại Ngân hàng N Chi nhánh huyện Đ.
Vụ án được Tòa án tiến hành hòa giải nhưng các đương sự không thống
nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án. Tòa án nhân dân khu vực 3 Tây
Ninh đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, b đơn
không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày.
Tại bản án dân sthẩm số 341/2025/DS-ST ngày 24/9/2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 3- Tây Ninh đã xử:
8
Căn cứ vào khoản 3, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1
Điều 39, Điều 147, 165, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 116; Điều 122; Điều 131 Điều 133; Điều 357; Điều 468;
Điều 585 và 589 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 26; Điều 27; Điều 31 của Luật đất đai;
Căn cứ Điều 26; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Vĩ T và bà
Trần Thị Thùy D về việc:
Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 4136,
quyển sổ 03/2018 TP/CC-SC/HĐGD ngày 30/3/2018 đối với thửa đất số 1682, tờ
bản đồ số 9, đất toạ lạc tại ấp B, Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (hiện nay ấp B,
Đ, tỉnh Tây Ninh) tại Văn phòng C1 giữa bà Trần Thị M, ông Nguyễn Xuân
T1 với bà Hà Thúy H1.
hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 7877
quyển sổ 05/2018 TP/CC-SC/HĐGD ngày 08/5/2018 đối với thửa đất số 1682, tờ
bản đồ số 09, đất toạ lạc tại ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (hiện nay là ấp B,
Đ, tỉnh Tây Ninh) tại Văn phòng C1 giữa Nguyễn Thúy H2 với Nguyễn
Hồng H.
Huỷ chỉnh lý biến động giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ông
Nguyễn Xuân T1 và bà Trần Thị M sang cho bà Thúy H1 của Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ chỉnh lý sang cho Thúy H1, số giấy BS
91998 cấp ngày 18/3/2014 cho bà Trần Thị M.
Huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh L cấp cho Nguyễn Hồng H số giấy CN 067571 ngày 07/6/2018 Công
nhận quyền sử dụng đất cho ông Hồ Vĩ T, Trần Thị Thùy D và ông T bà D.
2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Hồng H về việc yêu cầu ông
Hồ T và Trần Thị Thùy D chấm dứt hành vi sử dụng đối với thửa đất số
1682, tờ bản đồ số 9, đất toạ lạc tại ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (hiện nay
ấp B, xã Đ, tỉnh Tây Ninh).
Buộc ông Hồ Vĩ T và bà Trần Thị Thùy D nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn
Hồng H quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại thửa đất số 1682, tờ bản đồ số 9,
đất toạ lạc tại ấp B, Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (hiện nay là ấp B, Đ, tỉnh
Tây Ninh).
3. Về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu:
Buộc ông Nguyễn Xuân T1 Trần Thị M nghĩa vụ hoàn trả cho
ông Hồ T và bà Trần Thị Thùy D giá trị căn nhà tạm trên thửa đất số 1682, tờ
bản đồ số 9, đất toạ lạc tại ấp B, Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (hiện nay ấp B,
9
Đ, tỉnh Tây Ninh) stiền là 149.061.000 đồng (một trăm bốn mươi chín triệu,
không trăm, sáu mươi mốt nghìn đồng).
Hoàn trả cho ông Hồ T Trần Thị Thùy D số tiền 927.675.000
đồng (chín trăm hai mươi bảy triệu sáu trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) ông,
bà đã nộp để thi hành án trước đây và tiền lãi phát sinh (nếu có). Ông Hồ Vĩ T
Trần Thị Thùy D được quyền liên hệ với Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh để
nhận lại số tiền nêu trên theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
4. Về quyền lưu cư: ông Văn Q1 Trần Thị Thùy L được quyền
lưu tại căn nhà tạm trên thửa đất số 1682, tờ bản đồ số 9, đất toạ lạc tại ấp B,
Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (hiện nay ấp B, xã Đ, tỉnh Tây Ninh) trong thời
hạn 02 (hai) tháng kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ chậm thi hành
án, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 05/10/2025, ông Hồ Văn T4 Trần Thị Thùy D đơn kháng
cáo không đồng ý bản án thẩm yệu cầu cấp phúc thẩm hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất từ ông T1 bà M chuyển sang bà H. Yêu cầu giải quyết hậu quả
của hợp đồng hiệu giao quyền sử dụng đất cho ông T4 D đăng biến
động.
Ngày 12/11/2025, ông Nguyễn Xuân T1, Trần Thị M kháng cáo không
đồng ý trả cho ông T4, D giá trị căn nhà Hợp đồng mua bán ghi là”
Hợp đồng mua bán nhà và đất”.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện ông T4, bà D trình bày: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số ng chứng
4136, quyển sổ 03/2018 TP/CC-SC/HĐGD ngày 30/3/2018 đối với thửa đất số
1682, tờ bản đồ số 9, đất toạ lạc tại ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (hiện nay
ấp B, xã Đ, tỉnh Tây Ninh) tại Văn phòng C1 giữa bà Trần Thị M, ông Nguyễn
Xuân T1 với bà Hà Thúy H1.
hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 7877
quyển sổ 05/2018 TP/CC-SC/HĐGD ngày 08/5/2018 đối với thửa đất số 1682, tờ
bản đồ số 09, đất toạ lạc tại ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (hiện nay là ấp B,
Đ, tỉnh Tây Ninh) tại Văn phòng C1 giữa Nguyễn Thúy H2 với Nguyễn
Hồng H.
Huỷ chỉnh lý biến động giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ông
Nguyễn Xuân T1 và bà Trần Thị M sang cho bà Thúy H1 của Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ chỉnh sang cho Hà Thúy H1, số giấy BS
91998 cấp ngày 18/3/2014 cho bà Trần Thị M.
Huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh L cấp cho Nguyễn Hồng H số giấy CN 067571 ngày 07/6/2018 Công
nhận quyền sử dụng đất cho ông Hồ Vĩ T, bà Trần Thị Thùy D và ông T bà D.
10
Đại diện Hồng H trình bày: Không đồng ý kháng cáo của ông T, bà D.
Do Hồng H mua đất ngay tình nên yêu cầu tòa phúc thẩm giữ nguyên bản án
sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm như
sau:
Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các
quy định của Bộ luât Tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục xét xử phúc thẩm.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn kháng
cáo của ông T D; Chấp nhận đơn kháng cáo của ông T1, bà M. Căn cứ khoản
1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Sửa bản án dân sự thẩm số
341/2025/DS-ST ngày 24/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3- Tây Ninh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hsơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả xt hi tại phiên tòa, Hội đồng xt xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 24/9/2025, cấp thẩm tuyên án. Ngày
05/10/2025, ông T, bà D kháng cáo. Ngày 12/11/2025, ông T1, M kháng cáo.
Kháng cáo của ông T, D, ông T1, M trong thời hạn theo quy định tại Điều
271 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên đủ điều kiện để giải quyết theo thủ
tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của ông T, bà D thấy rằng:
Phần đất có diện tích đất 300m
2
, thửa đất số 1682, tờ bản đồ số 9, loại đất
ONT tọa lạc tại ấp B, Đ, hiện nay Đ, tỉnh Tây Ninh nguồn gốc của
ông T bà D.
Ngày 08/10/2013, ông T, bà D làm giấy chuyển nhượng cho ông T1, bà M
với số tiền 450.000.000 đổng.
Quyết định số 163/2014/QĐST-DS công nhận s thoả thuận giữa ông
Trần Văn T5, Trần Thị M ông Hồ T Trần Thị Thùy D, nội dung
Quyết định: ông T, D liên đới trả cho ông T5, bà M số tiền 700.000.000 đồng,
huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 11264 quyển số
04TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/10/2013 với nội dung chuyển nhượng thửa đất số
1682, tờ bản đồ số 9; các bên được đề nghị Ủy ban nhân dân huyện Đ hu giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Trần Thị M; ông Hồ Vĩ T Thùy D được
liên hđể đăng đứng tên quyền sử dụng đất. Thời hạn trả tiền 10 ngày sau
khi ông T D nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Quyết định công
nhận sự thoả thuận này được căn cứ vào biên bản hoà giải thành ngày 09/7/2014.
Sau khi Toà án nhân dân huyện Đức Hòa (hiện nay là Tòa án nhân dân khu vực 3
Tây Ninh) lập biên bản hoà giải thành. Trước khi Toà án ban hành Quyết định
số 163/2014/QĐST-DS ngày 19/7/2014 công nhận sự thỏa thuận của các đương
sự thì ngày 16/7/2014, ông T5 M đã hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số
1682 cho ông T D, hợp đồng được Phòng C3 tỉnh Long An ng chứng.
Ngày 22/7/2014, ông T D được Văn phòng đăng quyền sử dụng đất
11
Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đ chỉnh lý chuyển quyền sang cho ông T
bà D đối với thửa đất số 1682, tờ bản đồ số 9.
Do ông T bà D không hoàn trả số tiền 700.000.000 đồng nên ông T5 và bà
M khởi kiện đến Toà án nhân dân huyện Đức Hòa yêu cầu Toà án huỷ hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 16/7/2014, huỷ quyết định cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân huyện Đ cho ông T bà D đối
với thửa đất số 1682 tờ bản đồ số 09, toạ lạc tại ấp B, Đ, huyện Đ, tỉnh Long
An hiện nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh.
Tại Bản án dân sự thẩm số 07/2016/DS-ST ngày 25/01/2016 của Tòa
án nhân dân huyện Đức hòa (hiện nay Tòa án nhân dân khu vực 3 Tây Ninh)
Bản án dân sự phúc thẩm số 155/2016/DS-PT ngày 14/6/2016 của Toà án
nhân dân tỉnh Long An (hiện nay là Tòa án nhân dân Tây Ninh) đã chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của ông T5, M đối với ông T D, tuyên huỷ hợp đồng chuyển
nhượng quyền sdụng đất ngày 16/7/2014, huỷ quyết định cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số 7304/QĐ-UBND ngày 25/7/2014 của Ủy ban nhân dân
huyện Đ đề nghị Ủy ban nhân dân huyện Đ thu hồi huỷ bỏ giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất mà Uỷ ban đã cấp cho ông T bà D vào ngày 25/7/2014.
Thực hiện Bản án số 155/2016/DS-PT ngày 14/6/2016 của Toà án nhân
dân tỉnh Long An, ngày 01/3/2018, Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai tại
huyện Đ đã điều chỉnh huỷ bỏ nội dung chỉnh biến động chuyển nhượng cho
ông T, D ngày 22/7/2014 tại trang 3 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của
Trần Thị M.
Ngày 30/3/2018, ông T5 bà M lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng thửa đất số 1682 tờ bản đồ số 09, toạ lạc tại ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long
An hiện nay Đ, tỉnh Tây Ninh cho Thúy H1, ngày 13/4/2018
Thúy H1 được Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai tại huyện Đ điều chỉnh
chuyển nhượng trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 08/5/2018, Thúy H1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho
Nguyễn Hồng H, theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất số 7877
được chứng nhận của Văn phòng C1. Ngày 07/6/2018, Nguyễn Hồng H được
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất
số 1682, tờ bản đồ số 09, toạ lạc tại ấp B, Đ, huyện Đ, tỉnh Long An hiện nay
xã Đ, tỉnh Tây Ninh.
Nên Thúy H1 bà Hồng H đã nhận chuyển nhượng quyền sdụng
đất hợp pháp trên cơ sở quyết định của Bản án phúc thẩmhiệu lực pháp luật là
người thứ ba ngay tình theo quy định tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự
nên cấp thẩm không tuyên hiệu các hợp đồng chuyển nhượng quyền s
dụng đất giữa ông T5 với Thúy H1 Thúy H1 với bà Hồng H căn
cứ.
[3] Xét kháng cáo của ông T5, M thấy rằng: Các hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất không thể hiện việc chuyển nhượng quyền sở hữu
nhà, do ntạm. Tuy nhiên, các bên đương sự đều trình bày trên đất nhà
12
không ai nhu cầu bên mới chuyển nhượng cho người khác, đồng thời căn cứ
vào giấy tay mua bán nhà đất giữa nguyên đơn với M ngày 08/10/2013 thì
nguyên đơn chuyển nhượng cho bà M cả nhà và đất, mặc dù tại phần nội dung lại
thể hiện “.. i có bán miếng đất 300 m
2
thửa đất số 1682, tờ bản đồ số 9, loại đất
ONT, tọa lạc tại ấp B, Đ, huyện Đ, tỉnh Long An hiện nay Đ, tỉnh Tây
Ninh cho bên B Trần Thị M với số tiền 450.000.000 đồng...”; sau đó
trong hợp đồng mua bán nhà đất ngày 15/3/2018 ông T5 M lại chuyển quyền
sở hữu nhà đất cho Thúy H1 H1 chuyển nhượng toàn bộ nhà đất lại
cho Nguyễn Hồng H trong giấy tay ngày 25/4/2018. Hơn nữa trong suốt quá
trình tố tụng, qua nhiều lần xét xử các bên đương sự đều không tranh chấp tài sản
trên đất.
Như vậy, mặc dù hợp đồng ký kết không thể hiện có nhà (nhà tạm) nhưng
giấy tay mua bán giữa các bên đều thể hiện nhà, do đó căn cứ xác định khi
các bên kết hợp đồng chuyển nhượng ý thức được chuyển nhượng toàn bộ
nhà đất.
Do đó, cấp thẩm buộc ông T5, M thanh toán giá trị nhà cho ông T,
D không căn cứ. Nên kháng cáo của ông T5, M căn cứ chấp
nhận.
[4] Từ những phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy tại phiên
tòa phúc thẩm, ông T, D, không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới nên
không căn cứ chấp nhận. Kháng cáo của ông T5, M căn cứ. Chấp
nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Sửa bản án dân sự thẩm số
341/2025/DS-ST ngày 24/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3- Tây Ninh.
[5] Về án phí phúc thẩm:
[5.1]Căn cứ vào khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng Dân sự căn cứ
khoản 1 Điều 29 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội; ông Hồ Vĩ T, Trần Thị Thùy D kháng cáo không
được chấp nhận phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.
[5.2] Căn cứ khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng Dân sự căn cứ
khoản 2 Điều 29 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội. Ông Nguyễn Xuân T1, và bà Trần Thị M kháng cáo
được chấp nhận nên ông T1 bà M không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của bản án thẩm không bị kháng cáo kháng
nghị , có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Hồ Vĩ T và bà Trần Thị Thùy D.
Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Xuân T1 và bà Trần Thị M.
13
Sửa bản án dân sự thẩm số 341/2025/DS-ST ngày 24/9/2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 3- Tây Ninh.
Căn cứ vào khoản 3, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1
Điều 39, Điều 147, 165, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 116; Điều 122; Điều 131 Điều 133; Điều 357; Điều 468;
Điều 585 và 589 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 26; Điều 27; Điều 31 của Luật đất đai;
Căn cứ Điều 26; Điều 27; khoan 1, 2 Điều 29 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản s
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Vĩ T và bà
Trần Thị Thùy D về việc yêu cầu tuyên :
Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 4136,
quyển sổ 03/2018 TP/CC-SC/HĐGD ngày 30/3/2018 đối với thửa đất số 1682, t
bản đồ số 9, đất toạ lạc tại ấp B, Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (hiện nay ấp B,
Đ, tỉnh Tây Ninh) tại Văn phòng C1 giữa bà Trần Thị M, ông Nguyễn Xuân
T1 với bà Hà Thúy H1.
hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 7877
quyển sổ 05/2018 TP/CC-SC/HĐGD ngày 08/5/2018 đối với thửa đất số 1682, tờ
bản đồ số 09, đất toạ lạc tại ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (hiện nay là ấp B,
Đ, tỉnh Tây Ninh) tại Văn phòng C1 giữa Nguyễn Thúy H2 với Nguyễn
Hồng H.
Huỷ chỉnh lý biến động giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ông
Nguyễn Xuân T1 và bà Trần Thị M sang cho bà Thúy H1 của Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ chỉnh sang cho Hà Thúy H1, số giấy BS
91998 cấp ngày 18/3/2014 cho bà Trần Thị M.
Huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh L cấp cho Nguyễn Hồng H số giấy CN 067571 ngày 07/6/2018 Công
nhận quyền sử dụng đất cho ông Hồ Vĩ T, bà Trần Thị Thùy D và ông T bà D.
2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Hồng H về việc yêu cầu ông
Hồ T và Trần Thị Thùy D chấm dứt hành vi sử dụng đối với thửa đất số
1682, tờ bản đồ số 9, đất toạ lạc tại ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (hiện nay
ấp B, xã Đ, tỉnh Tây Ninh).
Buộc ông Hồ Vĩ T và bà Trần Thị Thùy D nghĩa vụ trả cho Nguyễn
Hồng H quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại thửa đất số 1682, tờ bản đồ số 9,
đất toạ lạc tại ấp B, Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (hiện nay là ấp B, Đ, tỉnh
Tây Ninh).
3. Về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu:
14
Ông Nguyễn Xuân T1 bà Trần Thị M không phải trả cho ông Hồ T
Trần Thị Thùy D giá trị căn nhà tạm trên thửa đất số 1682, tờ bản đồ số 9,
đất toạ lạc tại ấp B, Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (hiện nay là ấp B, Đ, tỉnh
Tây Ninh) số tiền 149.061.000 đồng (một trăm bốn mươi chín triệu, không
trăm, sáu mươi mốt nghìn đồng).
Hoàn trả cho ông Hồ T Trần Thị Thùy D số tiền 927.675.000
đồng (chín trăm hai mươi bảy triệu sáu trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) ông,
bà đã nộp để thi hành án trước đây và tiền lãi phát sinh (nếu có). Ông Hồ Vĩ T
Trần Thị Thùy D được quyền liên hệ với Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh để
nhận lại số tiền nêu trên theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
4. Về quyền lưu cư: ông Văn Q1 Trần Thị Thùy L được quyền
lưu tại căn nhà tạm trên thửa đất số 1682, tờ bản đồ số 9, đất toạ lạc tại ấp B,
Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (hiện nay ấp B, xã Đ, tỉnh Tây Ninh) trong thời
hạn 02 (hai) tháng kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật.
5. Về chi phí đo đạc, định giá và xem xét, thẩm định tại chỗ: Buộc ông Hồ
Vĩ T và bà Trần Thị Thùy D phải chịu số tiền 40.000.000 đồng, số tiền này ông T
D đã nộp 37.000.000 đồng, Hồng H đã nộp 3.000.000 đồng nên ông T
và bà D có trách nhiệm trả số tiền 3.000.000 đồng lại cho bà Hồng H.
6. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án
của người được thi hành án đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự.
7. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc ông Hồ Vĩ T và bà Trần Thị Thùy D có nghĩa vụ chịu 900.000 đồng
tiền án phí dân sự thẩm nhưng được khấu trừ 3.700.000 đồng tiền tạm ứng án
phí đã nộp tại các biên lai thu số 0006876 ngày 13/11/2020 và 0006877; 0006875
cùng ngày 16/11/2020 và 0007017; 0007016 cùng ngày 21/5/2025 tại Chi cục thi
hành án dân sự huyện Đức Hòa nay Thi hành án Dân sự tỉnh Tây Ninh, hoàn
lại cho ông T và bà D 2.800.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Ông Nguyễn Xuân T1 và bà Trần Thị M không phải chịu tiền án phí dân
sự sơ thẩm. H3 lại cho ông T1 bà M tiền tạm ứng án phí đã nộp 600.000 đồng tại
các biên lai thu số 0007478, 0007479 cùng ngày 08/12/2022 tại Chi cục thi hành
án dân sự huyện Đức Hòa nay là Thi hành án Dân sự tỉnh Tây Ninh.
Nguyễn Hồng H không phải chịu tiền án phí. H3 lại Hồng H
900.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp (theo biên lai thu số
0006700 ngày 26/5/2022; 0007584 ngày 21/12/2022 0014845 ngày
20/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa nay Thi hành án
Dân sự tỉnh Tây Ninh).
8. Về án phí phúc thẩm: ông Hồ T Trần Thị Thùy D mỗi người
phải chịu 300.000 đồng ( ba trăm nghìn đồng) tiền án phí phúc thẩm dân sự
nhưng được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí kháng cáo mỗi người đã nộp 300.000
15
đồng ( ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005794 ngày 06/10/2025 và biên
lai thu số 0013470 ngày 27/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
Ông Nguyễn Xuân T1, Trần Thị M không phải chịu tiền án phí
phúc thẩm dân sự nhưng được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí kháng cáo mỗi
người đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0011875
ngày 12/11/2025 biên lai thu số 0011874 ngày 12/11/2025 của Thi hành án
dân sự tỉnh Tây Ninh.
9. Về quyền yêu cầu thi hành án: Trong trường hợp bản án được thi hành
theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân
sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu
thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại
các Điều 6,7, 7a, 7b 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được
thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 3 – Tây Ninh;
- Thi hành án Dân sự tỉnh Tây Ninh;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHAN - CHỦ TỌA PHIEN TOA
Phạm Thị Hồng Vân
Tải về
Bản án số 442/2026/DS-PT Bản án số 442/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 442/2026/DS-PT Bản án số 442/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất