Bản án số 32/2026/HS-PT ngày 14/04/2026 của TAND tỉnh Gia Lai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 32/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 32/2026/HS-PT ngày 14/04/2026 của TAND tỉnh Gia Lai
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Gia Lai
Số hiệu: 32/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/04/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Vũ Trọng N - Cố ý gây thương tích
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
Bản án số: 32/2026/HS-PT
Ngày 14 – 4 2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Thanh Gia
Các Thẩm phán:Bà Nguyễn Thị Hoài Xuân
Ông Ung Quang Định
- Thư phiên tòa: Phan Thị Trang Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông
Phan Hòa Hiệp Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở a án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử
phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ số: 60/2026/TLPT-HS ngày 19 tháng 3
năm 2026 đối với bị cáo Trọng N do kháng cáo của bị cáo đối với Bản án
hình sự thẩm số: 11/2026/HS-ST ngày 05 tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 13 – Gia Lai.
- B cáo có kháng cáo:
Trọng N, sinh ngày 28/3/1963 tại tỉnh Bình Định (nay tỉnh Gia Lai); số
căn cước công dân: 052063002812; nơi trú: Tổ dân phố A, T, phường A, tỉnh
Gia Lai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính:
Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông H (chết) Nguyễn
Thị L (chết); vợ: Huỳnh Thị Kim L1, sinh năm: 1965; con: 03 con, lớn nhất
sinh năm 1989 và nhỏ nhất sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện
pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 09/8/2025, Trọng N gọi điện cho anh Huỳnh Ngọc T để đòi
tiền anh T nợ trước đó thì anh T nói ợng cái con cặc, muốn gì thì lên nhà
tôi trực tiếp nói chuyện”. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, N điều khiển xe
mô tô biển kiểm soát 81G1-353.80 chở vợ Huỳnh Thị Kim L1 đến nhà anh T
2
tại tổ dân phố E, T, phường A, tỉnh Gia Lai. Tại đây, N nói chuyện với anh T về s
tiền 10.500.000 đồng mua phân bón cây anh T n nợ của N. Lúc này, anh T
nói “Tiền lưới trước đây tôi đưa ông tôi tính 1.000.000 đồng một được chưa”.
Do bực tức việc anh T không chịu trả tiền, N liền lấy bảo hiểm màu xanh da
trời nhãn hiệu YAMAHA đánh một cái trúng vào đầu của anh T, sau đó Nhân vật
anh T nằm ngửa trên nền đất và dùng mũ bảo hiểm đánh liên tiếp 03 cái trúng o
vùng trán trái của anh T gây thương tích. Lúc này, anh T vùng dậy chạy ra sau
vườn, còn vợ chồng N thì bỏ đi về nhà. Sau đó anh T được người nhà đưa đi cấp
cứu tại Trung tâm y tế A và đến ngày 13/8/2025 thì xuất viện.
Ngày 02/10/2025, anh T đơn yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với
Vũ Trọng N về hành vi “Cố ý gây thương tích”.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 93B/KLTTCT-PYGL
ngày 16/9/2025, Trung tâm pháp y tỉnh G kết luận thương tích của anh T như sau:
01 sẹo vết thương phần mềm hình vòng cung góc trên ngoài trán trái 03%. Tổng tỷ
lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh T tại thời điểm giám định là 03%.
Tại Bản kết luận giám định vật gây thương tích số 94B/KLVGTT-PYGL
ngày 17/9/2025, Trung tâm pháp y tỉnh G kết luận: chế hình thành dấu vết
thương tích phù hợp với sự tác động trực tiếp. Vật gây thương tích phù hợp với sự
tác động của vật cạnh cứng. vậy, vật được quan Cảnh sát điều tra trưng
cầu 01 bảo hiểm nhãn hiệu Yamaha đã bị nứt vỡ nhiều cạnh cứng là vật
phù hợp để gây ra thương tích nêu trên cho anh T.
Anh T1 yêu cầu N bồi thường số tiền 66.772.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2026/HS-ST ngày 05/02/2026, Tòa án nhân
dân khu vực 13 – Gia Lai đã căn cứ đim a khoản 1 Điều 134, điểm i khoản 1 Điều
51, Điều 38, 47, khoản 2 Điều 48 ca B luật nh sự, x pht b cáo N 09 tháng
về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngoài ra, bản án thẩm còn quyết định về phần
trách nhiệm dân sự, phần xử vật chứng, án phí, nghĩa vụ thi hành án quyền
kháng cáo theo luật định.
Ngày 09/02/2026, bị cáo Vũ Trọng N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và tại
phiên toà, bị cáo N thay đổi nội dung kháng cáo, xin được hưởng án treo.
Ngày 08/4/2026, bị cáo N đã nộp đủ số tiền bồi thường 16.936.472 đồng theo
quyết định của bản án sơ thẩm tại Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị Hội đồng
xét xử phúc thẩm căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của
Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị o
N, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo, xử phạt bị cáo N 09 tháng
tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên snội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hvụ án đã được
tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
3
[1] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong
hồ sơ vụ án và phù hợp với các chứng cứ khác nên có đủ cơ sở xác định:
Do mâu thuẫn trong việc giải quyết nợ nần nên ng ngày 09/8/2025 tại
nhà của anh Huỳnh Ngọc T tổ dân phố E, T, phường A, tỉnh Gia Lai, Trọng
N đã hành vi dùng mũ bảo hiểm đánh trúng vào đầu và vùng trán trái của anh T
gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03%.
Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 13 Gia Lai đã xét xử bị cáo N về tội C ý
gây thương tích” theo đim a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự căn cứ,
đúng quy định của pháp luật.
[2] Hành vi của bị cáo đã xâm phạm sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng
đến an ninh trật tự nên cần phải xử lý nghiêm.
[3] Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Trọng N, Hội đồng
xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Bị cáo với anh T quan hệ họ hàng với nhau, anh T cháu ruột của vợ bị
cáo. Bị cáo dùng bảo hiểm đánh vào đầu của anh T là hành vi bộc phát tức
thời, nguyên nhân do trước đó anh T cũng đã lời lẽ chửi bới khi nói
chuyện nợ nần với bị cáo, anh T thái độ không hợp tác. Thương tích của anh T
nhẹ, tỷ lệ tổn thương cơ thể thấp. Ngoài ra, theo lời khai của anh T (bút lục 62, 63)
thì khi bị đánh, anh T ng đã hành vi chụp cái rựa đang để trên bàn đập vào
sườn trái của bị cáo; khi bị cáo đẩy anh T ngã đè anh T xuống đất thì bị cáo đã
tước cái rựa từ tay của anh T, một lúc sau hai bên tiếp tục lao vào đánh nhau, bị
cáo tiếp tục dùng bảo hiểm đánh anh T n anh T đã dùng tay chân đánh
vào người của bị cáo rồi sau đó bỏ chạy ra sau vườn.
Tòa án cấp thẩm cho rng trong suốt quá trình điều tra tại phiên tòa, bị
cáo không thiện chí bồi thường khc phc hu quả, không chút hi hn v
hành vi phạm ti của mình vì cho rằng hành vi phạm ti ca b cáodo lỗi ca b
hại nên không áp dụng tình tiết gim nh quy định tại đim s khoản 1 Điều 51 ca
B luật Hình s là không phù hợp vì trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo
đã khai nhận đầy đủ, đúng sự thật, chính xác, rõ ràng về hành vi phạm tội của mình
nhận thức được hành vi của mình trái với quy định của pháp luật; việc bcáo
cho rằng hành vi phạm ti của mình do lỗi ca b hi ý kiến chủ quan của b
cáo, ngoài ra gia đình bị o cũng đến nhà anh T để bồi thường nhưng anh T
không đồng ý vì cho rằng bị cáo là người đánh nên phải có trách nhiệm đến gặp để
nói chuyện bồi thường chứ không liên quan đến vợ, con của bị cáo (thể hiện
tại biên bản phiên tòa thẩm). Do đó, trong trường hợp này, bị cáo hoàn toàn đủ
điều kiện để được hưởng tình tiết giảm nhẹ người phạm tội thành khẩn khai báo
quy định tại đim s khoản 1 Điều 51 ca B luật Hình sự.
Ngoài ra, bị cáo phạm ti ln đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; ti cp
phúc thm, b cáo đã nộp toàn bộ số tiền bồi thường 16.936.472 đồng theo quyết
định của bản án thẩm đồng thời cung cấp thêm tình tiết gim nh mới
nhân bị cáo đã thời gian tham gia công tác Chiến trường Campuchia, cha b
cáo ông H người có công cách mạng, đã được nhà c tặng huân chương
4
giải phóng hạng ba, huân chương kháng chiến hạng nhì, huân chương quyết thng
hng nhất nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại đim b, i
khoản 1 và khoản 2 Điều 51 ca B luật Hình sự.
Từ những phân tích trên, xét thấy bị cáo nhiều tình tiết giảm nhẹ như đã
liệt kê nêu trên, bị cáo có nhân thân tốt, hiện nay bị cáo đã lớn tuổi, có nơi cư trú rõ
ràng và có khả năng tự cải tạo; đồng thời theo quy định của Nghị quyết s
03/VBHN-TANDTC ngày 10/7/2025 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp
dụng Điều 65 của Bộ luật nh sự thì bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo. Do
đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị
cáo Trọng N, sửa bản án thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo, cho bị o
N được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe phòng ngừa chung, không gây
nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
[4] Bị cáo sinh năm 1963, thuộc trường hợp người cao tuổi nên căn cứ Điều 2
của Luật Người cao tuổi; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản và sdụng án phí lệ phí Tòa án
thì bị cáo N được miễn án phí hình sự thẩm phúc thẩm, án phí dân sự
thẩm. Tòa án cấp thẩm buộc bị o N phải chịu án phí hình sự thẩm dân
sự thẩm không phù hợp với nhận định trên nên Hội đồng xét xử phúc thẩm
sửa quyết định của bản án sơ thẩm về phần án phí.
[5] Tiếp tục tạm giữ số tiền 16.936.472 đồng bị cáo Trọng N đã nộp theo
biên lai thu số 0000950 tại Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai để đảm bảo thi hành
án.
[6] Các quyết định khác của bản án hình sự thẩm không bị kháng cáo,
kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị chấp
nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bcáo N, sửa bản án thẩm về phần
hình phạt đối với bị cáo, xử phạt bị cáo N 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và
ấn định thời gian thử thách theo quy định phù hợp với nhận định của Hội đồng
xét xử phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố
tụng hình sự.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều
51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ Điều 2 của Luật Người cao tuổi; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản và sử dụng án phí lệ phí Tòa
án.
5
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trọng N. Sửa bản án hình sthẩm
số 11/2026/HS-ST ngày 05/02/2026 của Tòa án nhân n khu vực 13 Gia Lai về
phần hình phạt đối với bị cáo và phần án phí.
2. Xử phạt bị cáo Trọng N 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về
tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ
ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 14/4/2026).
Giao bị cáo Trọng N cho Ủy ban nhân n phường A, tỉnh Gia Lai giám
sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi trú thì thực hiện
theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách,
người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án thể
quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án
đã cho hưởng án treo.
3. Về án phí: Bị cáo Trọng N không phải chịu án phí hình sự thẩm
phúc thẩm, án phí dân sự sơ thẩm.
4. Tiếp tục tạm giữ số tiền 16.936.472 đồng bị cáo Trọng N đã nộp theo
biên lai thu số 0000950 tại Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai để đảm bảo thi hành
án.
5. Các quyết định khác của bản án hình sự thẩm không bị kháng cáo,
kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Gia Lai;
- TAND khu vực 13 – Gia Lai;
- VKSND khu vực 13 – Gia Lai;
- Phòng THADS khu vực 13 – Gia Lai;
- Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai;
- Cơ quan THAHS Công an tỉnh Gia Lai;
- Cơ quan HSNV Công an tỉnh Gia Lai;
- Phòng GĐ, KT, TT và THA TAND tỉnh Gia Lai;
- Bị cáo;
- Lưu: Toà Hình sự, HCTP, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Văn Thanh Gia
Tải về
Bản án số 32/2026/HS-PT Bản án số 32/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 32/2026/HS-PT Bản án số 32/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất