Bản án số 489/2026/DS-PT ngày 26/03/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 489/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 489/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 489/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 489/2026/DS-PT ngày 26/03/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Tây Ninh |
| Số hiệu: | 489/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 26/03/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Bản án 489 |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 489/2026/DS-PT
Ngày: 26-3-2026
Về việc” tranh chấp quyền sử
dụng đất và yêu cầu hủy việc cập
nhật lối đi công cộng trên bản đồ
địa chính”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng
Các Thẩm phán: Ông Đinh Tiền Phương
Bà Đinh Thị Ngọc Yến
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Ngọc Nhẩn, Thư ký Tòa án nhân
dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông
Lê Ngọc Hiền, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 03 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh mở phiên
tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 2225/2025/TLPT-DS ngày
24 tháng 12 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy việc
cập nhật lối đi công cộng trên bản đồ địa chính”
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 249/2025/DS-ST ngày 26 tháng 09 năm 2025
Tòa án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 227/2025/QĐ-PT ngày 27
tháng 02 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Bà Mai Thị N, sinh năm 1959.
2. Ông Phạm Thanh T, sinh năm 1982.
3. Ông Phạm Anh K, sinh năm 1983.
4. Bà Phạm Thị Như Ý, sinh năm 1990.
Cùng địa chỉ: Khu phố L, phường G, tỉnh Tây Ninh (có mặt)
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Trọng Ê-
2
Luật sư Công ty L và cộng sự, đoàn luật sư tỉnh Bình Phước (có mặt).
- Bị đơn: Ông Mai Văn X, sinh năm 1949
Địa chỉ: khu phố L, phường G, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của ông X:
1. Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1952
Địa chỉ: Khu phố L, phường G, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
2. Bà Phan Thị Cẩm T1, sinh năm 1994
Địa chỉ: Khu phố A, phường A, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
3. Ông Mai Thành T2, sinh năm: 1979
Địa chỉ: Khu phố L, phường G, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
4. Ông Mai Thành D, sinh năm: 1972.
Địa chỉ: Khu phố T, Phường T, tỉnh Tây Ninh (có mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1952
Địa chỉ: Khu phố L, phường G, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
2. UBND phường G, tỉnh Tây Ninh
Địa chỉ trụ sở: Khu phố S, phường G, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị Hồng T3, chức cụ: Chủ tịch UBND
phường (vắng mặt).
3. Ông Phạm Anh T4, sinh năm 1983
Địa chỉ: Khu phố L, phường G, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Mai Thị N, ông Phạm Thanh T, ông Phạm
Anh K, bà Phạm Thị Như Ý.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà
Mai Thị N trình bày: Bà và ông Mai Văn X không có quan hệ họ hàng, chỉ biết nhau
do sử dụng đất liền kề. Phần đất gia đình bà đang sử dụng có nguồn gốc do vợ chồng
bà nhận chuyển nhượng của ông Huỳnh Văn R và bà Lê Thị P vào khoảng năm 1980
bằng giấy tay, hiện nay bà không còn giữ giấy mua bán. Đến ngày 16/11/1995, chồng
bà là ông Phạm Văn Đ (đã chết năm 2018) được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất. Khi kê khai đăng ký quyền sử dụng đất thì không có cán bộ địa chính
xuống đo đạc. Sau khi ông Đ chết, gia đình chưa thực hiện thủ tục thừa kế quyền sử
dụng đất và đang trong quá trình chỉnh lý hồ sơ địa chính.
Theo bà N, khi vợ chồng bà nhận chuyển nhượng đất thì hiện trạng là đất ruộng,
giữa phần đất của gia đình bà và đất của ông X có bờ ruộng, mỗi bên sử dụng phần
đất của mình, không có lối đi chung. Trong quá trình sử dụng đất, hai bên không có
3
thỏa thuận ranh giới và cũng không xảy ra tranh chấp về đất đai. Tuy nhiên, đến
khoảng tháng 8 năm 2023, ông X đã đổ đá trên phần bờ đất giữa hai thửa đất làm lối
đi, việc này theo bà đã lấn sang phần đất của gia đình bà nên phát sinh tranh chấp.
Do đó, bà khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Mai Văn X phải di dời phần đất
đá đã đổ và trả lại diện tích đất 35,2m² nằm trong các thửa đất số 1, 10 và 11, tờ bản
đồ số 23 tại Khu phố L, phường G, tỉnh Tây Ninh. Đồng thời, bà yêu cầu hủy việc
cập nhật lối đi công cộng diện tích 97m² thuộc một phần thửa D4, tờ bản đồ số 23
theo kết quả đo đạc của Văn phòng đăng ký đất đai, vì cho rằng thực tế không tồn
tại lối đi công cộng tại vị trí này. Bà cho rằng việc giữa phần đất của bà và đất của
ông X không có lối đi đã được nhiều người dân sinh sống lâu năm tại địa phương
biết rõ.
Các đồng nguyên đơn ông Phạm Thanh T, ông Phạm Anh K và bà Phạm Thị
Như Ý trình bày:Ông, bà là con của ông Phạm Văn Đ và bà Mai Thị N. Các ông, bà
thống nhất với toàn bộ nội dung trình bày và yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị N.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Anh T4 trình bày: Ông là
con của ông Phạm Văn Đ và bà Mai Thị N. Ông thống nhất với toàn bộ ý kiến và
yêu cầu của bà Mai Thị N và các đồng nguyên đơn.
Đại diện bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N1 trình
bày: Bà là vợ của ông Mai Văn X. Vợ chồng bà và bà N không có quan hệ họ hàng.
Gia đình bà đang sử dụng phần đất giáp ranh với đất của bà N. Theo bà N1, giữa
phần đất của hai bên có một con đường đi từ lâu. Phần đất vợ chồng bà đang quản
lý sử dụng có nguồn gốc do ông bà ngoại bà cho mẹ bà là cụ Hồ Thị T5, sau đó đến
khoảng năm 1972 thì cho lại vợ chồng bà quản lý, sử dụng cho đến nay.
Chồng bà đã kê khai đăng ký quyền sử dụng đất từ trước, đến năm 2015 thì
được cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ hồng). Khi kê khai đăng
ký quyền sử dụng đất thì không có cán bộ địa chính đo đạc, còn khi cấp đổi sang sổ
hồng có đo đạc hay không bà không nhớ rõ.
Theo bà N1, từ trước đã tồn tại một con đường trên phần bờ giữa đất của gia
đình bà và đất của bà N. Nhiều người dân phần đất diện tích 97m² đang tranh chấp
thực tế không phải là lối đi công cộng. Do con đường bị sụp lún theo thời gian nên
vợ chồng bà mới đặt cống và đổ đá lên để thuận tiện cho việc đi lại. Khi gần hoàn
thành việc đổ đá thì bà N ngăn cản và cho rằng việc làm này làm đất của bà bị sạt
xuống ruộng. Sau đó hai bên có trao đổi với nhau và vẫn để cho vợ chồng bà tiếp
tục đổ đá để làm đường đi. Nay bà không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
bà N và các đồng nguyên đơn, vì cho rằng con đường này đã tồn tại từ lâu, có nhiều
người dân sử dụng trước cả thời điểm giải phóng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND phường G trình bày:UBND
phường G đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Vụ án được Toà án cấp sơ thẩm tiến hành hoà giải nhưng các đương sự không
thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
4
Tại Bản án sơ thẩm số 249/2025/DS-ST ngày 26 tháng 09 năm 2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh đã tuyên:
Căn cứ Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 166, 203 của Luật Đất
đai; Điều 165, 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 12, 26, 27 của Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị N, ông Phạm Thanh
T, ông Phạm Anh K, bà Phạm Thị Như Ý, ông Phạm Anh T4 về tranh chấp quyền
sử dụng đất đối với ông Mai Văn X.
Buộc ông Mai Văn X có nghĩa vụ di dời phần đất đá đã đổ trả lại cho Bà Mai
Thị N, ông Phạm Thanh T, ông Phạm Anh K, ông Phạm Thị Như Ý, anh Phạm Anh
T4 các phần diện tích đất cụ thể như nhau:
Phần đất 18,4m
2
trong thửa số 1, tờ bản đồ số 23 tọa lạc tại khu phố L, phường
G, tỉnh Tây Ninh, đất có tứ cận :
- Cạnh hướng Tây giáp đường đất dài 1,67m.
- Cạnh Hướng N2 giáp đường dài 23,22m.
- Cạnh hướng Bắc giáp thửa 1 dài 23,80m.
Phần đất 9,3m
2
trong thửa số 10, tờ bản đồ số 23 tọa lạc tại khu phố L, phường
G, tỉnh Tây Ninh, đất có tứ cận:
- Cạnh hướng Đông giáp đường đất dài 1,13m;
- Cạnh Hướng Nam giáp đường dài 16,60m;
- Cạnh hướng Bắc giáp thửa 10 dài 16,57m.
Phần đất 7,6m
2
trong thửa số 11, tờ bản đồ số 23 tọa lạc tại khu phố L, phường
G, tỉnh Tây Ninh, đất có tứ cận:
- Cạnh hướng Tây giáp đường đất dài 1,13m;
- Cạnh Hướng Nam giáp đường dài 13,66m;
- Cạnh hướng Bắc giáp thửa 11 dài 13,61m. (có sơ đồ kèm theo)
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành
án và quyền, thời hạn kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Ngày 10 tháng 10 năm 2025, nguyên đơn bà Mai Thị N, ông Phạm Thanh T,
ông Phạm Anh K, bà Phạm Thị Như Ý kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét
sửa một phần bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
huỷ việc cập nhật trên phần diện tích 97m
2
thuộc một phần thửa D4, tờ bản đồ số
23, toạ lạc tại Khu phố L, phường G, tỉnh Tây Ninh.
Nguyên đơn bà Mai Thị N, ông Phạm Thanh T, ông Phạm Anh K, bà Phạm
Thị Như Ý và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Phần
5
đất diện tích 97m² đang tranh chấp thực tế không phải là lối đi công cộng mà chỉ là
bờ ruộng giữa hai thửa đất, thuộc quyền sử dụng của các nguyên đơn, các nguyên
đơn đã sử dụng phần đất này để trồng đậu, bắp. Việc cơ quan quản lý đất đai cập
nhật phần đất này là lối đi công cộng trên bản đồ địa chính là không đúng, phần đất
này không phải là đất giao thông công cộng. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm,
các nguyên đơn tự nguyện rút phần yêu cầu khởi kiện đối với diện tích 97m² nêu
trên và rút toàn bộ nội dung kháng cáo để thực hiện việc khiếu nại đối với cơ quan
hành chính ở địa phương.
Đại diện bị đơn của ông Mai Văn X trình bày: Phần đất diện tích 97m² đang
tranh chấp thực tế là lối đi công cộng do một số hộ dân trong khu vực sử dụng làm
lối đi chung, không thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn cũng không thuộc quyền
sử dụng của bị đơn. Bị đơn đồng ý việc các nguyên đơn rút phần yêu cầu khởi kiện
đối với diện tích 97m² và rút toàn bộ nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến cho rằng:
Về tố tụng: Trong giai đoạn phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm và các đương sự
chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của các nguyên
đơn được nộp trong thời hạn luật định, hợp lệ, nên được xem xét theo ttrình tự phúc
thẩm.
Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thấm nguyên đơn Mai Thị N, Phạm Thanh T,
Phạm Anh K, Phạm Thị Như Ý rút một phần yêu cầu khởi kiện về yêu cầu hủy bỏ
việc cập nhật con đường công cộng trên phần diện tích 97m
2
bị đơn đồng ý việc rút
yêu cầu trên. Do đó, theo quy định tại Điều 299, Điều 311 BLTTDS sửa đổi, bổ sung
năm 2025 cần hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu
cầu đã rút và tại phiên tòa nguyên đơn là người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo nên
đình chỉ xét xử phúc thấm theo quy định tại Điều 312 BLTTDS sửa đối, bố sung
năm 2025.
Đối với yêu cầu của nguyên đơn liên quan đến phần đất 127,2m' nằm trong
thửa 766, 769, 768, 769 đương sự có tranh chấp không: Tại phiên tòa phúc thẩm
nguyên đơn trình bày phần đất 127,2m' nằm trong thửa 766, 769, 768, 769 là thửa
cũ (thửa mới là 1,9,10,11). Sau khi có mảnh trích đo địa chính và biên bản thẩm định
tại chỗ nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu ông X di dời phần đất đã
đổ trả lại bà diện tích đất 35,2m' nằm trong thửa đất số 1, 10, 11 tờ bản đồ số 23.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Do nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về
yêu cầu hủy bỏ việc cập nhật con đường công cộng trên phần diện tích 97m' theo
quy định tại Điều 299, Điều 311 BLTTDS sửa đổi, bố sụng năm 2025 cần hủy một
phần bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu đã rút và tại phiên
toà nguyên đơn là người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo nên đình chỉ xétx ử phúc
thẩm theo quy định tại Đièu 312 Bộ luật tố tụng Dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm
tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến của
đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
6
[1] Về tố tụng:
[1.1] Tính hợp lệ của kháng cáo: Kháng cáo của các nguyên đơn bà Mai Thị N,
ông Phạm Thanh T, ông Phạm Anh K, bà Phạm Thị Như Ý được nộp đã được thực
hiện đúng theo quy định tại các Điều 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên
được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa phúc thẩm, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan UBND phường G vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng
mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo
quy định pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Theo nội dung đơn khởi kiện, các nguyên đơn bà Mai Thị N, ông Phạm
Thanh T, ông Phạm Anh K, bà Phạm Thị Như Ý yêu cầu Tòa án buộc ông Mai Văn
X di dời phần đất đá đã đổ, trả lại diện tích 35,2m² nằm trong các thửa đất số 1, 10
và 11, tờ bản đồ số 23 tọa lạc tại khu phố L, phường G, tỉnh Tây Ninh. Đồng thời,
yêu cầu hủy việc cập nhật lối đi công cộng diện tích 97m² thuộc một phần thửa D4,
tờ bản đồ số 23 theo kết quả đo đạc của Văn phòng đăng ký đất đai, vì cho rằng thực
tế không tồn tại lối đi công cộng tại vị trí này. Sau khi xét xử sơ thẩm các nguyên
đơn kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
các nguyên đơn, yêu cầu hủy việc cập nhật lối đi công cộng diện tích 97m² thuộc
một phần thửa D4, tờ bản đồ số 23 tọa lạc tại Khu phố L, phường G, tỉnh Tây Ninh.
[2.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các nguyên đơn bà Mai Thị N, ông Phạm Thanh
T, ông Phạm Anh K, bà Phạm Thị Như Ý trình bày đối với phần diện tích 97m²
thuộc một phần thửa D4, tờ bản đồ số 23, tọa lạc tại khu phố L, phường G, tỉnh Tây
Ninh, các nguyên đơn tự nguyện rút phần yêu cầu khởi kiện yêu cầu hủy cập nhật
phần diện tích này là lối đi công cộng trong bản đồ địa chính. Đồng thời, các nguyên
đơn cũng rút toàn bộ nội dung kháng cáo để thực hiện việc khiếu nại đối với cơ quan
hành chính ở địa phương. Đại diện bị đơn ông Mai Văn X đồng ý việc các nguyên
đơn rút phần yêu cầu khởi kiện nêu trên.
Xét thấy, việc các nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với diện tích
97m² và rút toàn bộ nội dung kháng cáo là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp
luật, không trái đạo đức xã hội. Đối với phần rút yêu cầu khởi kiện thì bị đơn đồng
ý, nên có căn cứ chấp nhận. Do đó, cần sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm, hủy
một phần bản án dân sự sơ thẩm có liên quan đến phần yêu cầu khởi kiện về diện
tích 97m² nêu trên và đình chỉ giải quyết vụ án đối với phần yêu cầu khởi kiện mà
các nguyên đơn đã rút. Đồng thời, do các nguyên đơn đã rút toàn bộ nội dung kháng
cáo nên cần đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của các nguyên đơn. Quan
điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị sửa một phần bản án dân sự
sơ thẩm, chấp nhận việc rút một phần yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của nguyên
đơn là có căn cứ, phù hợp nên chấp nhận.
[2.3] Đối với phần quyết định của bản án dân sự sơ thẩm buộc ông Mai Văn X
di dời phần đất đá đã đổ và trả lại cho bà Mai Thị N, ông Phạm Thanh T, ông Phạm
Anh K, bà Phạm Thị Như Ý, ông Phạm Anh T4 tổng diện tích 35,2m², gồm 18,4m²
7
thuộc thửa số 1, 9,3m² thuộc thửa số 10 và 7,6m² thuộc thửa số 11, tờ bản đồ số 23,
tọa lạc khu phố L, phường G, tỉnh Tây Ninh có hiệu lực pháp luật.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do các nguyên đơn rút toàn bộ kháng cáo tại
phiên tòa phúc thẩm nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều
148 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 299, Điều 289, Điều 311, Điều 313 Bộ của Bộ luật Tố
tụng dân sự.
Chấp nhận việc các nguyên đơn bà Mai Thị N, ông Phạm Thanh T, ông Phạm
Anh K, bà Phạm Thị Như Ý rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo và một phần yêu cầu khởi
kiện đối với diện tích 97m² thuộc một phần thửa D4, tờ bản đồ số 23, tọa lạc tại khu
phố L, phường G, tỉnh Tây Ninh.
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 49/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh, huỷ đình chỉ giải quyết vụ án đối
với phần yêu cầu khởi kiện mà các nguyên đơn đã rút và đình chỉ xét xử phúc thẩm
đối với yêu cầu kháng cáo của các nguyên đơn.
Căn cứ Điều 165, 228, Điều 146, Điều 148, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân
sự; Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 166, 203 của Luật Đất đai; Điều
12, 26, 27, 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Hủy đình chỉ giải quyết vụ án đối với một phần Bản án dân sự sơ thẩm số
49/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Tây
Ninh đối với phần giải quyết liên quan đến yêu cầu của Bà Mai Thị N, ông Phạm
Thanh T, ông Phạm Anh K, bà Phạm Thị Như Ý, ông Phạm Anh T4 về hủy việc cập
nhật phần diện tích 97m² thuộc một phần thửa D4, tờ bản đồ số 23, tọa lạc tại khu
phố L, phường G, tỉnh Tây Ninh là lối đi công cộng trong bản đồ địa chính.
2. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với toàn bộ kháng cáo của bà Mai Thị N, ông
Phạm Thanh T, ông Phạm Anh K, bà Phạm Thị Như Ý, ông Phạm Anh T4 đối với
bản án dân sự sơ thẩm số 49/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh.
3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Bà Mai Thị N, ông Phạm Thanh
T, ông Phạm Anh K, bả Phạm Thị Như Ý, ông Phạm Anh T4 về tranh chấp quyền
sử dụng đất đối với ông Mai Văn X.
8
Buộc ông Mai Văn X có nghĩa vụ di dời phần đất đá đã đổ trả lại cho Bà Mai
Thị N, ông Phạm Thanh T, ông Phạm Anh K, ông Phạm Thị Như Ý, ông Phạm Anh
T4 các phần diện tích đất cụ thể như nhau:
- Phần đất 18,4m
2
trong thửa số 1, tờ bản đồ số 23 tọa lạc tại khu phố L, phường
G, tỉnh Tây Ninh, đất có tứ cận: Cạnh hướng Tây giáp đường đất dài 1,67m; Cạnh
Hướng Nam giáp đường dài 23,22m; Cạnh hướng Bắc giáp thửa 1 dài 23,80m.
- Phần đất 9,3m
2
trong thửa số 10, tờ bản đồ số 23 tọa lạc tại khu phố L, phường
G, tỉnh Tây Ninh, đất có tứ cận: Cạnh hướng Đông giáp đường đất dài 1,13m; Cạnh
Hướng Nam giáp đường dài 16,60m; Cạnh hướng Bắc giáp thửa 10 dài 16,57m.
- Phần đất 7,6m
2
trong thửa số 11, tờ bản đồ số 23 tọa lạc tại khu phố L, phường
G, tỉnh Tây Ninh, đất có tứ cận: Cạnh hướng Tây giáp đường đất dài 1,13m; Cạnh
Hướng Nam giáp đường dài 13,66m; Cạnh hướng Bắc giáp thửa 11 dài 13,61m.
(Có sơ đồ kèm theo).
4. Chi phí xem xét, thẩm định, định giá tài sản: Ông Mai Văn X có trách nhiệm
trả cho bà Mai Thị N số tiền 2.785.000 (hai triệu bảy trăm tám mươi lăm nghìn)
đồng.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Mai Văn X, bà Mai Thị N là người cao tuổi
nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Phạm Thanh T, ông Phạm Anh K, ông Phạm Thị Như Ý, ông Phạm Anh
T4 liên đới chịu 240.000 đồng ( hai trăm bốn mươi nghìn đồng) án phí dân sự sự sơ
thẩm nhưng được khấu trừ 4.750.000đ (bốn triệu, bảy trăm năm mười nghìn đồng)
tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0015346 ngày 23 tháng 4 năm 2024 của
Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng (nay là phòng thi hành án dân sự Khu
vực 12 - Tây Ninh).
Hoàn trả cho ông Phạm Thanh T, ông Phạm Anh K, bà Phạm Thị Như Ý số
tiền 4.510.000 đồng (bốn triệu, năm trăm mười nghìn đồn số tiền tạm ứng án phí còn
thừa.
6. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Mai Thị N, ông Phạm Thanh T, ông Phạm
Anh K, ông Phạm Thị Như Ý chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân
sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ sô tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số
0007128 ngày 13/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. Bà Mai Thị N, ông
Phạm Thanh T, ông Phạm Anh K, ông Phạm Thị Như Ý đã nộp đủ án phí dân sự
phúc thẩm.
7. Về nghĩa vụ chậm trả tiền: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người
được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên
phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
8. Về hướng dẫn thi hành án:Trường hợp bản án được thi hành theo quy định
tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và
9
9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
9. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đinh Thị Ngọc Y – Đ Nguyễn Thị Diễm H
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 06/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 03/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 02/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 31/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 30/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 30/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 27/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 27/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 27/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 26/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 26/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 25/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 25/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 24/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 24/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 24/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 24/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm