Bản án số 252/2026/DS-PT ngày 23/03/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 252/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 252/2026/DS-PT ngày 23/03/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 252/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: ông bà yêu cầu Tòa án giải quyết
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 252/2026/DS-PT
Ngày 23 3 2026
V/v Tranh chấp hợp chuyển nhượng
quyền sử dụng đất, đòi lại tài sản là
quyền sử dụng đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lập
Các Thẩm phán: Ông Ninh Quang Thế
Bà Tiêu Hồng Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Như Nguyện - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên toà: Ông
Hữu Duy Khánh Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 53/2026/TLPT-DS ngày 06 tháng 02
năm 2026 về việc: Tranh chấp hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đòi lại tài sản
là quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự thẩm số: 276/2026/DS-ST ngày 22 tháng 12 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 205/2026/QĐ-PT ngày 03
tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Dương Công T, sinh năm 1976 (Có mặt);
Căn cước công dân số: 096076010207 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính
về trật tự xã hội cấp ngày: 12/8/2021.
2. Bà Nguyễn Mỷ P, sinh năm 1980 (Có mặt).
Căn cước công dân số: 096180003749 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính
về trật tự xã hội cấp ngày: 18/11/2021.
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp Thị Tường B, xã H, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn:Phạm Kim T1, sinh năm 1968 (Có mặt);
Căn cước công dân số: 096168002883 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính
về trật tự xã hội cấp ngày: 12/08/2021.
2
Địa chỉ cư trú: Ấp Thị Tường B, xã H, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Thanh B1, sinh năm 1975 (Có mặt);
2. Bà Nguyễn Thị B2, sinh năm 1974 (Có mặt);
3. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1998 (Vắng mặt);
4. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 2002 (Vắng mặt);
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp Thị Tường B, xã H, tỉnh Cà Mau.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Thanh B1 bà Nguyễn Thị B2, là người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo ông Dương Công T và bà Nguyễn Mỷ P trình bày:
Ngày 11/5/2023, Phạm Kim T1 có làm Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất cho vợ chồng ông Dương Công T bà Nguyễn Mỷ P, hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất có chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau.
Phần đất T1 chuyển nhượng cho ông tổng diện tích 16.136,4m
2
(trong đó
diện tích 3.210m
2
đất trồng cây lâu năm; diện tích 12.926,4m
2
đất nuôi trồng thủy
sản), đất toạ lạc tại ấp T, H, huyện C, tỉnh Mau (nay ấp T, H, tỉnh
Mau). Ngày 12/6/2023, ông bà đã được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh C cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số DL 451173, thuộc thửa 1187, tờ bản đồ số 17, diện
tích 3.210m
2
(đất trồng cây lâu năm). Đối với phần đất diện tích 12.926,4m
2
đất nuôi
trồng thuỷ sản ông bà đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng, T1 đã giao
đất cho ông bà đúng diện ch, không có tranh chấp.
Đối với phần đất diện ch 3.210m
2
đất trồng cây lâu năm, mặc ông đã được
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng nhưng bà T1 không giao đủ diện tích đất cho
ông bà, trong phần đất diện tích 3.210m
2
diện tích đất 207m
2
(chiều ngang 09m
x chiều dài 23m) 01 căn nhà do vợ chồng ông Nguyễn Thanh B1, Nguyễn Thị B2
đang ở vì trước đây T1 cho mượn đất ở. Bà T1 đã nhiều lần yêu cầu gia đình ông
B1, bà B2 trả lại để giao đất cho ông bà nhưng ông B1, bà B2 không đồng ý thảo dỡ
nhà trả đất cho T1. Việc bà T1 ông B1, B2 thoả thuận với nhau cho mượn
đất trước đây như thế nào thì ông không rõ. Trong vụ việc này, bà T1 chuyển
nhượng đất cho ông nhưng giao đất không đủ nên ông yêu cầu Tòa án giải
quyết: Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 183/2023, quyển
số 01/2023-SCT/HĐ, GD ngày 11/5/2023 giữa ông Dương Công T, bà Nguyễn Mỹ
P1 với bà Phạm Kim T1. Buộc T1 tiếp tục thực hiện hợp đồng, giao đủ phần diện
tích đất còn lại theo đo đạc thực tế là 203,1m
2
toạ lạc tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh
Mau (nay là ấp T, H, tỉnh Mau) cho ông bà; ông bà đồng ý trả cho T1
số tiền 100.000.000đ còn lại chưa thanh toán của Hợp đồng chuyển nhượng khi ông
B1, B2 trả đất tranh chấp; yêu cầu ông B1, B2 cùng các con ông B1, B2
tháo dỡ nhà trả phần đất theo đo đạc thực tế là 203,1m
2
nêu trên cho ông bà.
- Theo bà Phạm Kim T1 trình bày:
3
Bà là vợ của ông Nguyễn Văn Ú (ông Ú là con ruột của ông Nguyễn Văn Q (Q1)
Lê Thị M). Ngày 26/11/1994, ông Nguyễn Văn Q được Ủy ban nhân dân huyện
C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 45.180m
2
thuộc thửa đất 256,
285, 259, 260, 261, tbản đsố 8, tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau (nay
là ấp T, xã H, tỉnh Cà Mau).
Ngày 15/4/2004, ông Q, bà M tặng cho hết phần đất nêu trên cho ông Nguyễn Văn
Ú Phạm Kim T1 (vông Nguyễn Văn Ú). Ngày 07/10/2022 ông Ú chết không
để lại di chúc. Ngày 29/11/2022 các thành viên trong gia đình thỏa thuận để lại hết
phần đất cho bà toàn quyền quản lý, sử dụng và định đoạt.
Trước đây cha chồng là ông Q có cho ông C (là con ruột ông Q) phần đất 04 công
tầm lớn để canh tác. Do cuộc sống khó khăn nên ông C đã chuyển nhượng cho người
khác để đi làm ăn.
Khoảng năm 2004 2005, do không còn đất để nên vợ chồng ông C quay về mượn
đất của cha chồng bà (ông Q) để cất nhà tạm. ch tình nghĩa cha con nên cha
chồng trao đổi ý kiến của vợ, chồng về việc ông C mượn đất cất nhà tạm,
lúc ban đầu vợ chồng bà không đồng ý nhưng do cha chồng bà nhiều lần năn nỉ nên
vợ chồng bà đã đồng ý cho ông C cất nhà tạm, nên cha chồng bà kêu cho vợ chồng
ông C ợn phần đất cất nhà ở tạm diện tích chiều ngang 07m, chiều dài 23m, diện
tích 161m
2
. Khoảng cuối năm 2005 ông C chết, chỉ còn vợ ông C sống trên phần đất
này. Đến khoảng năm 2012, ông Nguyễn Văn B3 (con ruột ông C) đang ở ấp R, xã
P, huyện T (nay ấp R, T) do khó khăn trong cuộc sống nên dọn về đây sinh
sống đến khi mẹ ông B3 chết và ở nhờ trên đất này cho đến nay.
Đến khoảng tháng 5/2023, bà chuyển nhượng cho ông Dương Công T Nguyễn
Mỹ P1 phần đất vườn diện tích 3.210m
2
. Ngày 12/6/2023 vợ chồng ông T được Văn
phòng đăng ký đất đai tỉnh C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa s
1187, tờ bản đồ số 17. Hiện nay, ông Nguyễn Thanh B1 cùng vợ con đang trong
căn nhà cấp 4, cột tông, vách lá, mái tol xi măng nằm trên phần đất đã
chuyển nhượng cho ông T, bà P1. Ông T, P1 yêu cầu phía gia đình phải giao
đủ phần diện tích đất đang tranh chấp theo đo đạc thực tế là 203,1m
2
nên yêu cầu
ông B1 cùng vợ con đang ở trên đất phải tháo dỡ toàn bộ nhà trả lại đất cho bà.
Tại phiên toà thẩm, bà T1 thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của ông T, P1; bà
T1 xác định do phần đất tranh chấp đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
ông T, bà P1 và ông T, bà P1 đã yêu cầu khởi kiện ông B1, bà B2 trả đất nên bà xin
rút lại yêu cầu về việc buộc ông B1, bà B2 trả lại phần đất tranh chấp; bà đồng ý hỗ
trợ cho ông B1, B2 số tiền 10.000.000 đồng khi tháo dỡ, di dời nhà ra khỏi
phần đất tranh chấp.
- Theo ông Nguyễn Thanh B1 và bà Nguyễn Thị B2 trình bày:
Ông B1B2 xác định phần đất ông bà đang ở là của cha ông B1 (ông C)
được ông nội của ông B1 (ông Q) cho cất nhà ở, ngang 09m, dài 23m, làm giáy
cho đất ngày 28/7/2005. Ông B1 và bà B2 không đồng ý theo yêu cầu của ông T và
P1.
4
Tại bản án dân sự thẩm số: 276/2025/DS-ST ngày 22 tháng 12 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cà Mau quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Dương Công T, bà
Nguyễn Mỷ P.
Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất ngày 11/5/2023 giữa
ông Dương Công T, bà Nguyễn Mỷ P với Phạm Kim T1.
Ông T, P nghĩa vụ thanh toán số tiền nhận chuyển nhượng còn lại
100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) cho T1 khi nhận đủ phần diện tích đất
203,1m
2
thuộc thửa số 1187, tờ bản đồ số 17 (chỉnh năm 2017) tọa lạc ấp T,
H, tỉnh Cà Mau.
Buộc ông Nguyễn Thanh B1, bà Nguyễn Thị B2 cùng các con là anh Nguyễn
Văn Đ, anh Nguyễn Văn N phải tháo dỡ, di dời nvà toàn bộ công trình trên đất
trả lại phần diện tích 203,1m
2
thuộc thửa số 1187, tờ bản đồ số 17 (chỉnh lý năm
2017) tọa lạc ấp T, xã H, tỉnh Cà Mau cho ông Dương Công T, bà Nguyễn M P.
Đình chỉ yêu cầu của Phạm Kim T1 về việc yêu cầu ông Nguyễn Thanh
B1, bà Nguyễn Thị B2 cùng các con là anh Nguyễn Văn Đ, anh Nguyễn Văn N phải
tháo dỡ, di dời nhà toàn bộ công trình trên đất trả lại phần diện tích 203,1m
2
thuộc
thửa số 1187, tờ bản đồ số 17 (chỉnh lý năm 2017) tọa lạc ấp T, xã H, tỉnh Cà Mau.
Ghi nhận sự tự nguyện hỗ trợ của bà T1 đối với số tiền 10.000.000 đồng cho
ông B1, B2 khi ông B1, B2 tháo dỡ, di dời nhà cửa khỏi phần diện tích đất
đang tranh chấp.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, lãi suất chậm trả, án phí và
quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 23/01/2026, ông Nguyễn Thanh B1, Nguyễn Thị B2 đơn kháng
cáo, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T
bà P.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Thanh B1 Nguyễn Thị B2 giữ
nguyên kháng cáo.
Phần tranh luận tại phiên toà:
Ông B1 B2 phát biểu: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, không tranh luận
thêm.
Ông T, bà P, bà T1 phát biểu: Yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên toà phát biểu:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết ván, của Hội
đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa
đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của B
luật tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Thanh B1, Nguyễn Thị
B2, sửa bản án thẩm: Không chấp nhận yêu cầu của ông T P về việc buộc
ông B1 và bà B2 tháo dỡ, di dời nhà trả lại phần đất theo đo đạc 203,1m
2
.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
5
Xét kháng cáo của ông Nguyễn Thanh B1 Nguyễn Thị B2, Hội đồng
xét xử xét thấy:
[1] Theo đo đạc thực tế phần đất tranh chấp diện tích 203,1m
2
(thửa 1
bản vẽ), nằm trong tổng diện tích 3.210m
2
thuộc thửa số 1187, tờ bản đồ số 17
(chỉnh năm 2017) đã được Văn phòng đăng đất đất tỉnh Mau cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số DL 451173 đứng tên ông Dương Công T,
Nguyễn Mỷ P ngày 12/6/2023. Ông T bà P xác định, theo hợp đồng chuyển
nhượng ngày 11/5/2023 bà Phạm Kim T1 chuyển nhượng cho ông T bà P phần đất
diện tích 3.210m
2
thuộc thửa đất số 1187, tờ bản đồ số 17. Nhưng hiện nay T1
giao cho ông T P chưa đủ diện tích theo hợp đồng chuyển nhượng (còn lại diện
tích 203,1m
2
) do căn nhà của ông B1 và bà B2 đang ở. Nên ông T P khởi
kiện yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa ông T bà P với bà T1, buộc
T1 tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng giao đủ diện tích 3.210m
2
, buộc
ông B1, B2 cùng các con tháo dỡ, di dời nhà trả lại diện tích đất theo đo đạc
203,1m
2
cho ông TP. Bà T1 xác định phần đất hiện nay ông B1B2 đang
là do vợ chồng bà và cha chồng bà là ông Nguyễnn Q (Quắng) cho ông C là cha
của ông B1 mượn cất nhà ở vào khoảng năm 2004 2005 (ngang 07, dài 23m, diện
tích 161m
2
). Đến cuối năm 2005 ông C chết, còn vợ ông C trên đất. Đến khoảng
2012, vchồng ông B1 dọn về với cùng với mẹ của ông B1 đến khi mẹ ông B1
chết, vợ chồng ông B1 tiếp tục nhờ trên đất cho đến nay. T1 thống nhất với yêu
cầu ca ông T và bà P. Ông B1 và B2 xác định phần đất ông bà đang ở là của cha
ông B1 (ông C) được ông nội của ông B1 (ông Q) cho cất nhà (ngang 09m, dài
23m), nên không đồng ý theo yêu cầu của ông T bà P. Đồng thời, ông B1
B2 có cung cấp Giấy cho đất ngày 28/7/2005 để chứng minh.
[2] Qua xem xét Giấy cho đất ngày 28/7/2005 do ông B1 và bà B2 cung cấp
thấy rằng: Giấy cho đất nội dung có thể hiện ông Nguyễn Văn Q1 (cha ông Nguyễn
Văn C, ông Nguyễn Văn Ú), Lê Thị M (mẹ ông C, ông Ú), ông Nguyễn Văn Ú
(chồng T1), Phạm ThT2 thống nhất cho ông C phần đất để cất nhà ở. Giấy
cho đất tên ông Q1, M, ông Ú, T2; ông Nguyễn Quốc V đại diện
chính quyền địa phương chứng kiến tên; xác nhận của Trưởng Công an ấp
ngày 08/8/2025 và xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã ngày 01/3/2006. Tại phiên toà,
T2 thừa nhận Giấy cho đất này bà ký tên, nhưng T2 cho rằng cho
mượn đất, tuy nhiên T2 không đưa ra được chứng cứ để chứng minh. Do đó,
sở xác định phần đất hiện nay ông B1 B2 đang ở là do ông Q, bà M, ông Ú,
T2 cho ông C (là cha ông B1) theo Giấy cho đất ngày 28/7/2005.
[3] Xét Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/5/2023 giữa ông
T, P với T2: Về hình thức hợp đồng được lập thành văn bản, chứng thực
theo quy định. Tuy nhiên, về nội dung: Đối với thửa đất số 1187, diện tích 3.210m
2
khi các bên thoả thuận, xác lập hợp đồng chuyển nhượng thì ông B1 và bà B2 đã có
nhà đang ở trên phần đất (diện tích theo đo đạc 203,1m
2
), phần đất này do ông Q,
bà M, ông Ú, bà T2 làm giấy cho đất ông C (là cha ông B1) cất nhà ở từ năm 2005,
nhưng các bên thoả thuận chuyển nhượng luôn cả phần đất phần đất này mà không
có sự thông nhất của ông B1 và bà B2. Do đó, hợp đồng chuyển nhượng giữa T2
với ông T và bà P đối với phần diện tích 203,1m
2
này là trái pháp luật, nên hợp đồng
6
chuyển nhượng bị vô hiệu một phần đối với phần diện tích này, chỉ hiệu lực đối
với phần diện tích còn lại không tranh chấp là 3.006,9m
2
. Toà án cấp thẩm
chấp nhận yêu cầu của ông T và bà P, buộc ông B1 và bà B2 tháo dỡ, di dời nhà trả
lại phần diện tích đất tranh chấp 203,1m
2
chưa phù hợp. Do đó, cấp phúc thẩm sửa
bản án sơ thẩm, không chấp nhận phần yêu cầu này của ông T và bà P.
[4] Về xhậu quả hợp đồng hiệu đối với phần diện tích 203,1m
2
: Quá
trình thực hiện hợp đồng, ông T P còn nợ lại bà T2 số tiền chuyển nhượng
chưa thanh toán là 100.000.000 đồng, thoả thuận khi nào bà T2 giao đủ diện tích đất
thì ông T P thanh toán đủ số tiền cho T2. Tuy nhiên, như nhận định trên
hợp đồng chuyển nhượng bị hiệu đối với phần diện tích 203,1m
2
nên phần diện
tích này T2 không thể giao được cho ông T và bà P, nên được đối trừ giá trị của
phần diện tích này trong số tiền còn lại 100.000.000 đồng ông T bà P phải
thanh toán cho T2. Theo Chứng thư thẩm định giá thể hiện giá đất 192.000
đồng/m
2
nên số tiền được đối trừ là: 203,1m
2
x 192.000 đồng/m
2
= 38.995.200 đồng.
Số tiền còn lại ông T và bà P phải thanh toán cho T2 là 61.004.800 đồng.
[5] Từ nhận định trên, cấp phúc thẩm chấp nhận kháng của ông Nguyễn Thanh
B1 và Nguyễn Thị B2, sửa bản án thẩm như đnghị của đại diện Viện kiểm
sát xét thấy là phù hợp .
[6] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Thanh B1 bà Nguyễn Thị B2
không phải chịu, đã dự nộp được nhận lại.
[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể tngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt
ra xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Thanh B1 và bà Nguyễn Thị Bạch .
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 276/2025/DS-ST ngày 22 tháng 12 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực 4 - Cà Mau.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Dương Công T Nguyễn
Mỷ P.
Công nhận một phần Hợp đồng chuyển nhượng quyền s dụng đất ngày
11/5/2023 giữa ông Dương Công T Nguyễn Mỷ P với Phạm Kim T1 đối
với phần diện tích đất theo đo đạc 3.006,9m
2
thuộc thửa đất s1187, tờ bản đồ s
17, đất toạ lạc tại ấp T, xã H, tỉnh Cà Mau.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Dương Công T và bà
Nguyễn Mỷ P.
7
Tuyên hiệu một phần Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
11/5/2023 giữa ông Dương Công T Nguyễn Mỷ P với Phạm Kim T1 đối
với phần diện tích đất theo đo đạc 203,1m
2
thuộc thửa đất số 1187, tờ bản đồ số 17,
đất toạ lạc tại ấp T, xã H, tỉnh Cà Mau.
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Dương Công T bà Nguyễn Mỷ P về
việc buộc ông Nguyễn Thanh B1 và bà Nguyễn Thị B2 cùng các con của ông B1
B2 tháo dỡ, di dời nhà trả lại phần đất tranh chấp theo đo đạc diện tích 203,1m
2
thuộc thửa đất số 1187, tờ bản đồ số 17, đất toạ lạc tại ấp T, xã H, tỉnh Cà Mau cho
ông T và bà P.
(Có sơ đồ đo đạc kèm theo)
- Buộc ông Dương Công T và bà Nguyễn Mỷ P thanh toán cho Phạm Kim
T1 số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất còn nợ lại là 61.004.800 đồng.
Kể từ ngày T1 có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản
tiền nêu trên, thì hàng tháng ông T bà P còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật
dân sự.
- Đình chỉ yêu cầu của bà Phạm Kim T1 về việc yêu cầu ông Nguyễn Thanh
B1, bà Nguyễn Thị B2 cùng các con là anh Nguyễn Văn Đ, anh Nguyễn Văn N phải
tháo dỡ, di dời nhà toàn bộ công trình trên đất trả lại phần diện tích 203,1m
2
thuộc
thửa số 1187, tờ bản đồ số 17 (chỉnh lý năm 2017) tọa lạc ấp T, xã H, tỉnh Cà Mau.
- Chi phí tố tụng là 8.760.000 đồng ông T, bà P phải chịu toàn bộ. Ông T, bà
P đã dự nộp xong.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Dương Công T và Nguyễn Mỷ P phải chịu 300.000 đồng. Ngày
17/02/2025, ông T, bà P dự nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo
Biên lai thu số 0019194 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước (nay Phòng
thi hành án dân sự khu vực 4- Cà Mau) được chuyển thu.
Ông Nguyễn Thanh B1 Nguyễn Thị B2, Phạm Kim T1 không phải
chịu án phí. Ngày 29/8/2025 T1 dự nộp số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng)
theo Biên lai thu số 0012141 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được nhận lại.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Thanh B1, Nguyễn Thị B2 không
phải chịu án phí. Ngày 23/01/2026 ông B1, B2 mỗi người dự nộp số tiền
300.000đ theo Biên lai thu số 0001028, 0001027 của Thi hành án dân sự Mau
được nhận lại.
Các quyết định khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực
pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
8
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 4- Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 4- Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thành Lập
Tải về
Bản án số 252/2026/DS-PT Bản án số 252/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 252/2026/DS-PT Bản án số 252/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất