Bản án số 507/2026/DS-PT ngày 27/05/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 507/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 507/2026/DS-PT ngày 27/05/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 507/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 507/2026/DS-PT Bản án số 507/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 507/2026/DS-PT Bản án số 507/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ CẦN THƠ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
-------------
Bản án số: 507/2026/DS-PT
Ngày: 27/5/2026
V/v: “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Định.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Hùng.
Ông Nguyễn Văn Toàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa:
Bà Huỳnh Thị Mỹ Liên – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2026, Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử công
khai vụ án dân sphúc thẩm thụ số 203/2026/TLPT-DS ngày 16 tháng 01 năm
2026 về “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất” do Bản án n sự thẩm s
43/2025/DS-ST ngày 11 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 Cần
Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 183/2026/QĐXXPT-DS ngày 05
tháng 02 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1. Bà Nguyễn Kim T, sinh năm 1944. (Vắng mặt).
1.2. Bà Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1975. (Vắng mặt).
1.3. Ông Nguyễn Thanh G, sinh năm 1982. (Có mặt).
Cùng nơi cư trú số C, đường N, phường C, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền cho các nguyên đơn T, N, ông G:
Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1975. Nơi trú p Đ, Đ, thành phố Cần Thơ. (Vắng
mặt).
1.4. Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1971. Nơi trú số A, đường P, khu dân
cư T, phường T, thành phố Cần Thơ (Vắng mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật Nguyễn
Văn L Công ty L1 Thuộc Đoàn Luật sư thành phố C.
2
2. Bị đơn: Ông Đình V, sinh năm 1964 Nguyễn Thu B, sinh năm
1964. Cùng nơi cư trú số C, đường N, phường C, thành phố Cần Thơ. (Vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền các bị đơn: Ông Nguyễn n Đ, sinh năm 1973.
Nơi cư trú số E, đường H, phường N, thành phố Cần Thơ (có mặt).
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Kim T, bà Nguyễn Thị Tuyết N,
ông Nguyễn Thanh G.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ vụ án và nội dung Bản án dân sự sơ thẩm số 43/2025/DSST ngày
11 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 Cần Thơ thể hiện:
Phần trình bày của nguyên đơn theo đơn khởi kiện ngày 15 tháng 4 năm 2024
và trong quá trình tố tụng như sau:
Vào năm 1972, ông Nguyễn Thanh K (chết năm 2018) - chồng của nguyên
đơn Nguyễn Kim T cha của các nguyên đơn ông Nguyễn Thanh H,
Nguyễn Thị Tuyết N, ông Nguyễn Thanh G mua của vợ chồng ông Nguyễn
Thanh T2 và bà Nguyễn Thị H1 02 (hai) căn nhà số B và 22/3 thuộc khu phố A, thị
xã C, tỉnh Phong Dinh - nay là số C, đường N, phường C, thành phố Cần T.
Việc mua bán nhà, đất này được Ủy ban nh chính khu phố A, thị xã C, tỉnh
Phong Dinh chứng thực vào ngày 25 tháng 5 năm 1972 với nội dung: “ông Nguyễn
Thanh T2 Nguyễn Thị H1 chủ đất chủ 02 (hai) căn nhà số B và 22/3
thuộc khu phố A ưng thuận bán cho chủ mua ông Nguyễn Thanh K với giá 100.000
đồng (một trăm ngàn đồng bạc chẵn). 02 (hai) căn nhà cách nhau một vách tường
nhỏ chiều dài chung là 18 thước, ngang 03 thước, trước có một cái sân chạy dài
đến con đường ngăn cách một con rạch và hai cây xoài, phía sau có một cái hầm và
cuối có một cây xoài”.
Đến ngày 16 tháng 3 năm 2007, ông Nguyễn Thanh K Nguyễn Kim T
được Ủy ban nhân dân thành phố C cấp giấy chứng nhận quyền shữu nhà
quyền sử dụng đất số 8150103169 đối với thửa đất số 230, tờ bản đồ số 13, diện
tích 86,8m
2
. Riêng phần đất phía sau “một i hầm cuối một cây xoài” chưa
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tuy nhiên, tại vị trí “cái hầm” đã bị phía bị đơn tự ý xây tường rào xây
dựng nhà trọ lấn chiếm quyền sử dụng đất diện tích 37,5m
2
(chiều ngang 3,2 mét,
chiều dài 11,7 mét) của nguyên đơn.
Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải tháo dỡ, di dời nhà trọ trả
lại quyền sử dụng đất lấn chiếm diện tích 37,5m
2
(chiều ngang 03 mét, chiều
dài 11,7 mét).
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn yêu
cầu khởi kiện bổ sung hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
5401050554 do Ủy ban nhân dân tỉnh C cấp ngày 10 tháng 4 năm 1990 cho bị đơn.
Phần trình bày của bị đơn:
3
Năm 1998, vợ chồng bị đơn mua của vợ chồng ông Trương Hữu N1,
Lưu Thị Ngọc B1 01 (một) căn nhà số C, đường T, phường A, thành phố Cần Thơ,
tỉnh Cần T (cũ) – nay là số C, đường N, phường C, thành phố Cần Thơ như sau:
Theo Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất ngày 12 tháng 12 năm 1998 xác
nhận của Ủy ban nhân dân phường A, thành phố Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ (cũ) thì vợ
chồng ông Trương Hữu N1, Lưu Thị Ngọc B1 chuyển nhượng cho vợ chồng bị
đơn quyền sử dụng đất diện tích 290,6m
2
thuộc thửa đất số 807, tờ bản đồ số
113474-5-9, diện tích 290,60m
2
, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 5401050554
do Ủy ban nhân dân tỉnh C cấp ngày 20 tháng 02 năm 1998 với là 58.000.000 đồng
(năm mươi tám triệu đồng).
Theo Hợp đồng mua bán nhà ở được Phòng C tỉnh Cần Thơ chứng nhận vào
ngày 25 tháng 12 năm 1998 thì: “ông Trương Hữu N1, bà Lưu Thị Ngọc B1 có bán
01 (một) căn nhà trệt, cấu trúc bằng vật liệu tạm, khung cột gỗ, vách tole, riêng,
nền lót gạch hoa, mái lợp lá tole là chủ đất cho vợ chồng ông Vũ Đình V (tức
Đức V1), bà Nguyễn Thu B với giá 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng)”.
Đến ngày 10 tháng 4 năm 1999, ông Đình V Nguyễn Thu B được
Ủy ban nhân dân thành phố C cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà quyền sử
dụng đất ở số 5401050554 đối với thửa đất số 807, tờ bản đồ số 113474-5-09, diện
tích 290,60m
2
.
vậy, bị đơn không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì bị đơn sử
dụng đúng diện tích đất do Ủy ban nhân dân tỉnh C cấp ngày 20 tháng 02 năm 1998
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 5401050554.
Ngoài ra, bị đơn còn u cầu nguyên đơn phải bồi thường những cây hoa màu
đã bị gia đình nguyên đơn chặt phá (yêu cầu này bị đơn không có làm đơn phản tố).
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 43/2025/DSST ngày 11 tháng 8 năm 2025 của
Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Cần Thơ đã tuyên:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Kim T, ông
Nguyễn Thanh H, Nguyễn Thị Tuyết N, ông Nguyễn Thanh G về việc buộc bị
đơn ông Vũ Đình V, bà Nguyễn Thu B yêu phải tháo dỡ, di dời nhà trọ trả lại phần
đất lấn chiếm có diện tích là 37,5m
2
(chiều ngang 03 mét, chiều dài 11,7 mét).
Hủy bỏ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 08/2024/QĐ-
BPKCTT ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành
phố Cần Thơ – nay là Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Cần Thơ.
Nguyên đơn phải chịu chi phí đo đạc, định giá tài sản tranh chấp stiền
7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) – đã nộp xong.
Ngoài ra, bản án dân sự sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo theo
quy định.
Đương sự kháng cáo:
Ngày 26 tháng 8 năm 2025, các nguyên đơn Nguyễn Kim T, Nguyễn
Thị Tuyết N, ông Nguyễn Thanh G kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự thẩm số
4
43/2025/DSST ngày 11 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 Cần
Thơ. Đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm, chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn Nguyễn Kim T, Nguyễn Thị Tuyết N đơn đề nghị xét
xử vắng mặt, ông Nguyễn Thanh G thay đổi một phần yêu cầu kháng cáo là chỉ yêu
cầu tháo dỡ hàng rào trả lại phần đất có diện tích 18,2m
2
theo sơ đồ đo đạc hiện trạng
thửa đất số 287/VPĐKĐĐ ngày 25/5/2026 của Văn phòng Đăng đất đai thành
phố C được xác định phần tranh chấp vị tA. Người đại diện theo ủy quyền
của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà vị luật bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn
trình bày: Sau khi nguyên đơn nhận chuyển nhượng của ông T2 đã sử dụng ổn định
từ năm 1972 đăng ký khai để cấp quyền sử dụng đất 105m
2
, tại hồ cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà B1 người ký giáp ranh không phải là gia
đình nguyên đơn, sau đó chuyển nhượng cho bị đơn cũng không đo đạc lại nên
dẫn đến việc cấp giấy chứng nhận cho bị đơn không đúng. Đề nghị Hội đồng xét x
chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
Phần phát biểu của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong
quá trình giải quyết vụ án:
Về thủ tục: Hội đồng xét xử các đương sự chấp hành đúng các quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Kháng cáo của các nguyên đơn không có căn cứ, đề nghị Hội
đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ
nguyên Bản án dân sự thẩm số 43/2025/DSST ngày 11 tháng 8 năm 2025 của Tòa
án nhân dân Khu vực 1 – Cần Thơ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về phạm vi xét xử: Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn
phải tháo dỡ, di dời nhà trtrả lại quyền sdụng đất lấn chiếm diện tích 37,5m
2
(chiều ngang 03 mét, chiều dài 11,7 mét). Tại phiên tòa thẩm, người đại diện theo
ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu khởi kiện bổ sung hủy một phần giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số 5401050554 do Ủy ban nhân dân tỉnh C cấp ngày 10
tháng 4 năm 1990 cho bị đơn. Xét yêu cầu khởi kiện bổ sung này đã vượt qphạm
vi khởi kiện ban đầu nên Tòa án cấp thẩm không xem xét, giải quyết theo quy
định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2]. Về quan hệ pháp luật: Từ yêu cầu khởi kiện ban đầu của nguyên đơn,
phải xác định quan hệ pháp luật của vụ án tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất
theo quy định tại khoản 9 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tòa án cấp
thẩm xác định quan hpháp luật của vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất - ranh
5
giới giữa các bất động sản liền kề là chưa đúng với yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn, cần rút kinh nghiệm.
[1.3]. Về xác định tư cách đương sự: Các nguyên đơn bà Nguyễn Kim T, ông
Nguyễn Thanh H, bà Nguyễn Thị Tuyết N, ông Nguyễn Thanh G những người
thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Thanh K, chết năm 2018. Khi ông
Nguyễn Thanh K chết, di sản của ông Nguyễn Thanh K chưa được chia thừa kế theo
quy định nên những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất được quyền thực hiện việc
khởi kiện khi cho rằng quyền lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Cấp thẩm xác
định Nguyễn Kim T, ông Nguyễn Thanh H, Nguyễn Thị Tuyết N, ông Nguyễn
Thanh G với tư cách nguyên đơn là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 68 của B
luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.4]. Về thủ tục kháng cáo: Sau khi xét xthẩm, ngày 26 tháng 8 năm
2025, các nguyên đơn Nguyễn Kim T, Nguyễn Thị Tuyết N, ông Nguyễn
Thanh G kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 43/2025/DSST ngày 11 tháng 8 năm
2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 Cần Thơ là trong thời hạn kháng cáo 15
ngày, đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015.
[1.5]. Về việc thay đổi một phần kháng cáo của nguyên đơn hoàn toàn tự
nguyện, không vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu, không trái quy định pháp luật
cho nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Xét nguồn gốc quyền sử dụng đất của nguyên đơn và bị đơn:
[2.1.1]. Xét nguồn gốc quyền sử dụng đất của nguyên đơn: Năm 1972, ông
Nguyễn Thanh K chồng của nguyên đơn Nguyễn Kim T cha của các
nguyên đơn ông Nguyễn Thanh H, Nguyễn Thị Tuyết N, ông Nguyễn Thanh G
đã mua của vợ chồng ông Nguyễn Thanh T2 và bà Nguyễn Thị H1 02 căn nhà số B
22/3 thuộc khu phố A, thị xã C, tỉnh Phong Dinh nay thuộc số nhà C, đường N,
phường C, thành phố Cần Thơ chiều ngang 03 mét, chiều dài chung 18 mét,
phía trước ncó một cái sân chạy dài đến con đường ngăn cách bởi một con rạch
và hai cây xoài, còn phía sau nhà có một cái hầm và cuối phần đất có một cây xoài.
Sau khi nhận chuyển nhượng gia đình nguyên đơn đã nộp thuế sử dụng đất trên diện
tích 105m
2
, ngoài ra theo sổ kê khai diện tích và nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp
của Chi cục thuế thành phố C cũng thể hiện gia đình nguyên đơn sử dụng đóng
thuế 105m
2
. Đến năm 2003, ông Nguyễn Thanh K nguyên đơn Nguyễn Kim
T làm thủ tục xin được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng một phần (không làm
thủ tục cấp quyền sử dụng phần đất “có một cái hầm”) trong quyền sử dụng đất nhận
chuyển nhượng từ vợ chồng ông Nguyễn Thanh T2 Nguyễn Thị H1 và được
Ủy ban nhân dân thành phố C cấp quyền sử dụng thửa đất số 230, diện tích 86,8m
2
theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà quyền sử dụng đất số 8150103169
vào ngày 16/3/2007. Năm 2018, ông Nguyễn Thanh K chết, không để lại di chúc
nên vợ bà Nguyễn Kim T các con ông Nguyễn Thanh H, bà Nguyễn Thị
Tuyết N, ông Nguyễn Thanh G là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất tiếp tục
6
quản lý, sử dụng và đóng thuế trên tổng diện tích quyền sử dụng đất ông Nguyễn
Thanh K đã nhận chuyển nhượng từ vợ chồng ông Nguyễn Thanh T2 và bà Nguyễn
Thị H1 vào năm 1972. Nvậy, tuy phần đất vtrí “một cái hầm” chưa được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng việc sử dụng của các nguyên đơn được
xác định là ngay tình, liên tục, ổn định từ ngày 25/5/1972 cho đến khi phát sinh tranh
chấp. Vị trí phần đất “một cái hầm” theo Bản trích đo địa chính số 1015/VPĐKĐĐ
ngày 18/12/2024 của Văn phòng Đăng đất đai thành phố C được xác định phần
tranh chấp có vị trí A, diện tích 37m
2
.
[2.1.2]. Xét nguồn gốc quyền sử dụng đất của bị đơn: Nguồn gốc phần đất là
của cụ Nguyễn Thanh T2 được cấp bằng khoáng điền thổ vào ngày 19/9/1967, đến
ngày 20/8/1986 c T2 chuyển nhượng cho Nguyễn Thanh T3 đến ngày
20/02/1998 T3 được Ủy ban nhân dân tỉnh C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số 5401050223, thửa 807, diện tích 122,20m
2
, sau đó đến ngày 11/3/1998 T3
chuyển nhượng lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 5401050223, thửa 807,
diện tích 122,20m
2
cho bà Lưu Thị Ngọc B1 và ông Trương Hữu N2 và được chỉnh
lý ở mục III, đến ngày 25/12/1998, bà B1 và ông N2 chuyển nhượng lại cho bị đơn
như hiện nay. Tại hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất ngày 12/12/1998 có xác nhận
của Ủy ban nhân dân phường A, thành phố Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ (cũ) thì vợ chồng
ông Trương Hữu N1, bà Lưu Thị Ngọc B1 chuyển nhượng cho vợ chồng bị đơn
quyền sử dụng đất có diện tích 290,6m
2
thuộc thửa đất số 807, tbản đồ số 113474-
5-9 theo giấy chứng nhận quyền sdụng đất số 5401050554 do Ủy ban nhân dân
tỉnh C trước đây cấp ngày 20/02/1998.
[2.1.3]. Ngoài ra, khi đối chiếu lại giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà
quyền sử dụng đất số 5401050223 do Ủy ban nhân dân tỉnh C (cũ) cấp ngày
20/02/1998 cho Nguyễn Thanh T3 là người đã chuyển nhượng lại thửa đất s807
cho vợ chồng ông Trương Hữu N1, Lưu Thị Ngọc B1 thì thửa đất 807 chỉ
diện tích là 122,20m
2
. Nhưng sau khi nhận chuyển nhượng xong, bà Lưu Thị Ngọc
B1 làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 807 cho vợ chồng
bị đơn tkhai ng diện tích thửa đất số 807 lên thành 290,6m
2
bao trùm lên phần
đất “một cái hầm cuối một cây xoài” của ông Nguyễn Thanh K
Nguyễn Kim T.
[3]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng về nguồn gốc phần đất
gia đình nguyên đơn đã chứng minh được nhận chuyển chuyện của cT2 vào năm
1972 xác nhận của chính quyền địa phương tại thời điểm đó thực hiện nghĩa
vụ nộp đóng đối với Nhà N3 và đây các loại giấy tờ được quy định tại Luật đai
quy định. Ngoài ra tại hồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn thấy
rằng là sau khi B1, ông N1 nhận chuyển nhượng lập biên bản đo đạc, thẩm tra
xác minh có ký giáp ranh tứ cận, tuy nhiên đối với phần giáp ranh của nguyên đơn
không có chữ ký của gia đình nguyên đơn chỉ có người tên Nguyễn Hữu T4 ký xác
nhận, điều này chứng minh rằng khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà
B1, ông N1 gia đình nguyên đơn hoàn toàn không biết, vậy sau khi B1, ông
N1 tiếp tục chuyển nhượng cho bị đơn cũng không có đo đạc thực tế và ký giáp với
gia đình nguyên đơn. Về quá trình sử dụng đất, thấy rằng sau khi nguyên đơn nhận
7
chuyển nhượng từ năm 1972 sử dụng ngay tình, liên tục, ổn định từ ngày 25/5/1972
theo xác nhận của Ủy ban nhân dân phường A, tỉnh Cần Thơ vào ngày 15/9/2003 là
trên 50 năm, sau đó phát sinh tranh chấp với bđơn và gia đình bị đơn xây dựng bức
tường phía sau phần đất của nguyên đơn.
[4]. Xét về quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn thấy
rằng nguồn gốc phần đất của cụ Nguyễn Thanh T2 được cấp bằng khoáng điền
thổ vào ngày 19/9/1967, đến ngày 20/8/1986 cụ T2 chuyển nhượng cho Nguyễn
Thanh T3 phần chiều ngang 03m, chiều dài 30m, trên đất căn nhà chiều
ngang 03m, chiều dài 09m, diện tích trồng hoa màu 63m
2
bằng khoáng số 606,
đối chiếu với hình thể của thửa đất 606 hình vuông phù hợp với diện tích
T3 nhận chuyển nhượng chiều ngang 03m, chiều dài 30m, đến ngày 20/02/1998
T3 được Ủy ban nhân dân tỉnh C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
5401050223 thửa 807 diện tích 122,20m
2
, sau đó đến ngày 11/3/1998 T3
chuyển nhượng lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 5401050223 thửa 807 diện
tích 122,20m
2
cho bà Lưu Thị Ngọc B1 và ông Trương Hữu N2 được chỉnh lý ở
mục III, đến ngày 25/12/1998, B1 ông N2 chuyển nhượng lại cho bị đơn được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 290,6m
2
với hình thể thửa đất chử L, trong
khi hợp đồng mua bán nhà ngày 11/3/1998 giữa Nguyễn Thanh T3 với vợ chồng
B1 ông N1, hợp đồng mua bán nhà ở giữa vợ chồng bà B1 ông N1 với vợ chồng
ông Vĩnh đề theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 5401050223 thửa 807
diện tích 122,20m
2
. Mặt khác ngày 12/11/1997, T3 lại hợp đồng chuyển
nhượng cho B1 phần đất 290,6m
2
theo giấy chứng nhận thửa 606, ngày
12/12/1998 vợ chồng bà B1 ông N1 tiếp tục ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất diện tích 290,6m
2
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 5401050223
nhưng trong khi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 5401050223 chỉ được cấp
diện tích 122,20m
2
điều này là phù hợp với nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất của
các bên 122,20m
2
. Như vậy quá trình chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ T3
cho vợ chồng B1 rồi từ vợ chồng B1 cho vợ chồng bị đơn còn nhiều mâu
thuẩn, dẫn đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử đất cho bị đơn không chính xác.
[5]. Từ các phân tích trên cho thấy yêu cầu khởi kiện đòi lại quyền sử dụng
đất của nguyên đơn sở cũng không căn cứ nào để xác định phần đất
đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng đất của bị đơn. Do Tòa án cấp thẩm xác
định quan hệ pháp luật là tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề nên so
sánh việc sử dụng đất thực tế với diện tích được quyền sdụng theo giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất không đảm bảo quyền lợi của nguyên đơn, dẫn đến không
chấp nhận yêu cầu khởi kiện là không đúng quy định.
[6]. Tại phần đất tranh chấp, bị đơn đã tự ý xây dựng hàng rào bằng gạch nên
phải buộc tháo dỡ, di dời để trả lại toàn bộ phần đất tranh chấp tại vị trí A theo Bản
trích đo địa chính số 1015/VPĐKĐĐ ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Văn phòng
Đăng ký đất đai thành phố C.
[7]. Nhận định đề nghị của đại diện Viện kiểm sát không đồng nhất với
nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.
8
[8]. Nguyên đơn được chấp nhận một phần yêu cầu kháng o nên không phải
chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Ủy ban Thường vQuốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên án:
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các nguyên đơn Nguyễn Kim T,
Nguyễn Thị Tuyết N, ông Nguyễn Thanh G. Sửa một phần Bản án dân sự thẩm
số 43/2025/DSST ngày 11 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Cần
Thơ và được tuyên lại như sau:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn bà Nguyễn Kim
T, ông Nguyễn Thanh H, bà Nguyễn Thị Tuyết N, ông Nguyễn Thanh G về việc yêu
cầu bị đơn ông Vũ Đình V, bà Nguyễn Thu B trả lại phần đất có diện tích 18,2m
2
tại
vị trí A theo sơ đồ đo đạc hiện trạng thửa đất số 287/VPĐKĐĐ ngày 25/5/2026 của
Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C.
2. Buộc bị đơn ông Đình V Nguyễn Thu Ba P tháo dỡ hàng rào được
xây bằng gạch chiều ngang 3.20m tại vị tphía sau phần đất của nguyên đơn giáp
với phần đất đang tranh chấp vị trí A để trả lại cho các nguyên đơn phần đất có diện
tích 18,2m
2
tại vị trí A theo sơ đồ đo đạc hiện trạng thửa đất số 287/VPĐKĐĐ ngày
25/5/2026 của Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C.
(Kèm theo sơ đồ đo đạc hiện trạng thửa đất số 287/VPĐKĐĐ ngày 25/5/2026
của Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C).
Kiến nghị quan thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
của các đương sự để điều chỉnh lại cho đúng diện tích như trên. Các đương sự nêu
trên được quyền đến quan thẩm quyền để đăng quyền sử dụng đất theo quy
định của pháp luật đất đai.
3. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn về việc
yêu cầu bị đơn trả lại phần đất có diện tích 18,8m
2
tại vị trí B theo sơ đồ đo đạc hiện
trạng thửa đất số 287/VPĐKĐĐ ngày 25/5/2026 của Văn phòng Đăng đất đai
thành phố C.
(Kèm theo đồ đo đạc hiện trạng thửa đất số 287/VPĐKĐĐ ngày 25/5/2026
của Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C).
4. Về chi phí đo đạc, định giá tài sản tranh chấp: Tổng cộng 9.340.000 đồng,
mỗi bên phải chịu 50%. Do nguyên đơn đã nộp tạm ứng nên bị đơn ông Vũ Đình V,
Nguyễn Thu Ba P trả lại số tiền 4.670.000 cho nguyên đơn.
9
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Các nguyên đơn ông Nguyễn Thanh H, Nguyễn Thị Tuyết N, ông Nguyễn
Thanh G phải chịu 300.000 đồng, phần tiền này được khấu trừ vào số tiền tạm ứng
án p5.813.000 đồng theo Biên lai thu tạm ng án phí, lệ phí Tòa án số 0001256
ngày 03/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
nay Phòng Thi nh án dân sự Khu vực 1 Cần Thơ. Như vậy các nguyên đơn
được nhận lại số tiền 5.513.000 đồng.
- Bị đơn ông Vũ Đình V, bà Nguyễn Thu B được miễn án phí theo quy định.
6. Về án phí dân sự phúc thẩm: Các nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết N, ông
Nguyễn Thanh G được nhận lại tạm ứng án phí số tiền là 300.000 đồng theo Biên
lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0002819 ngày 04 tháng 9 năm 2025 của Thi hành
án dân sự thành phố Cần Thơ.
Bản án này có hiệu lực thi hành ngày 27 tháng 5 năm 2026.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- Các đương sự; THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- VKSND TPCT;
- TAND KV1;
- Phòng THADS KV1;
- THADS TP . Cần Thơ;
- Lưu hồ sơ, lưu án.
Nguyễn Quốc Định
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 507/2026/DS-PT Bản án số 507/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 507/2026/DS-PT Bản án số 507/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất